LUẬN VĂN:Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Chính sách bảo hiểm thất
nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Mở đầu 1. Tính cần thiết của đề tài

tế về hoàn thiện chính sách BHTN ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
- Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Thất nghiệp và lạm phát là hai vấn đề có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời
cũng là hai vấn đề nan giải và khó giải quyết đối với chính phủ các nước. Bởi vậy, ngay sau
khi ra đời ILO đã phê chuẩn công ước thất nghiệp và những vấn đề có liên quan đến thất
nghiệp như phần trên đã trình bày. Có hai loại chính sách mà nhiều nước đã hoạch định và tổ
chức thực hiện đó là: chính sách BHTN và chính sách BHXH (trong đó có chế độ trợ cấp thất
nghiệp). Để hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách này là hoàn toàn phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế, chính trị và xã hội của từng nước. Tuy nhiên có một số nhà khoa học đã công bố
những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến BHTN và trợ cấp thất nghiệp, điển hình
như: ở Cộng hòa Liên bang Đức có Schmid; ở Mỹ có Wernev và Wayne Nafziger; ở Anh có
David và Pearce; ở Nga có V.Paplốp;
Nhìn chung những công trình nghiên cứu của các tác giả mới chỉ tập trung chủ yếu
vào phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp trong một giai
đoạn nào đó, ở những nước và những khu vực nào đó trên thế giới. Có một số nghiên cứu
đã tiếp cận với BHTN và trợ cấp thất nghiệp, song mới chỉ đưa ra những định hướng về
đối tượng tham gia, mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp. Do đây là một vấn
đề kinh tế - xã hội đặc thù của từng nước, cho nên những nghiên cứu của các tác giả kể
trên có chăng chỉ để tham khảo trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách
BHTN ở Việt Nam.
- Tình hình nghiên cứu trong nước
ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp vấn đề thất nghiệp được coi như không tồn tại
và quan niệm thất nghiệp không gắn với chủ nghĩa xã hội mà chỉ chủ nghĩa tư bản mới có

thất nghiệp. Sở dĩ chúng ta quan niệm như vậy là vì xuất phát từ luận điểm: Mọi công dân đều
có quyền có việc làm, có nghĩa vụ phải làm việc và Nhà nước sẽ bảo đảm đầy đủ chỗ làm việc
cho người lao động. Do đó, trong thực tế cũng như trong khoa học và lý luận không đặt ra để
nghiên cứu.
Chỉ từ khi chúng ta chuyển đối cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Đề tài có mục đích phân tích và làm rõ thêm một số cơ sở lý luận, thực tiễn về thất
nghiệp và chính sách BHTN ở Việt Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện
chính sách BHTN ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên đề tài có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về thất nghiệp và chính sách
BHTN.
- Phân tích thực trạng thất nghiệp và chính sách BHTN ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách BHTN của Việt Nam
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách BHTN.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chính sách BHTN ở đây bao gồm hỗ trợ về tài
chính khi mất việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và cung cấp thông tin tìm kiếm việc làm mới.
Chính sách này áp dụng đối với những người lao động làm công ăn lương, có tham gia vào
quan hệ lao động, có giao kết hợp đồng lao động và người thất nghiệp ở đây là người Việt
Nam.
Về không gian: trên phạm vi toàn quốc.

Về thời gian: đề tài nghiên cứu chính sách BHTN ở Việt Nam (chính sách hỗ trợ
người thất nghiệp trước năm 2009) từ sau khi Luật Lao động được sửa đổi, bổ sung và có
hiệu lực từ năm 2002 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài, phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh được sử dụng với tư cách là phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Ngoài
ra, những phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, xã hội phù hợp với từng vấn đề của
đề tài cũng được vận dụng như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, đối chiếu, diễn giải,
quy nạp

Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gì để hưởng
lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như không tìm được việc làm,
không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động và có khả
năng lao động.

Người lao động có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong
các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho
người lao động có việc làm trong tuần lễ điều tra. Tùy theo tình hình kinh tế-xã hội và đặc
điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nước quy định mức thời gian làm việc chuẩn để
được coi là có việc làm.
Người lao động thiếu việc làm là người trong khoảng thời gian điều tra, có thời
gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc
thêm. Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do Nhà nước
quy định cụ thể cho từng thời kỳ. Hiện tượng thất nghiệp tạm thời thường xảy ra đối với
lao động làm việc trong các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp.
Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao động, có
khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương
tối thiểu.
Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, đến 55 tuổi
đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác
nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra.
Theo định nghĩa này, ở Việt Nam người được coi là thất nghiệp bao gồm:
- Người lao động đang làm việc bị mất việc vì các lý do sau: Doanh nghiệp phá
sản; Doanh nghiệp sắp xếp lại sản xuất hoặc áp dụng công nghệ mới; Doanh nghiệp giải
thể theo quy định của pháp luật; Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động trước thời
hạn, bị sa thải, hợp đồng lao động hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp
đồng.
- Người lao động mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp hoặc
thôi học nhưng chưa tìm được việc làm.
- Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hết nghĩa vụ quân sự, người lao động đi

việc, nhưng vẫn có nhu cầu làm việc và chưa tìm được việc làm.
1.1.1.2. Phân loại thất nghiệp
Có nhiều tiêu chí để phân loại thất nghiệp.
a. Căn cứ vào loại hình thất nghiệp, có thể phân chia thất nghiệp thành những loại
sau
- Thất nghiệp theo giới tính.
- Thất nghiệp theo lứa tuổi.
- Thất nghiệp theo vùng lãnh thổ.
- Thất nghiệp theo ngành nghề.
- Thất nghiệp theo dân tộc, chủng tộc.
b. Căn cứ vào lý do thất nghiệp, có các loại thất nghiệp sau
- Thất nghiệp do bỏ việc, họ là những người tự ý xin thôi việc vì những lý do khác
nhau như tiền công thấp, công việc không phù hợp, địa điểm làm việc xa,
- Thất nghiệp do mất việc, là người lao động không có việc làm do chủ sử dụng
lao động cho thôi việc vi một lý do nào đó.
- Thất nghiệp do mới vào, họ là những người lần đầu tiên tham gia vào lực lượng lao
động, nhưng chưa tìm được việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm.
- Thất nghiệp do quay lại, họ là những người lao động đã rời khỏi lực lượng lao
động, nay muốn quay lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
c. Căn cứ vào nguồn gốc thất nghiệp, có thể thấy những loại thất nghiệp dưới đây
- Thất nghiệp dai dẳng, là mức thất nghiệp tối thiểu không thể giảm được trong
một nền kinh tế năng động. Dạng thất nghiệp này gồm những người tạm thời không có
việc làm trong thời gian chuyển công việc trong một nền kinh tế mà lực lượng lao động và
các công việc tìm người luôn thay đổi.

- Thất nghiệp do cơ cấu, là thất nghiệp do không có sự đồng bộ giữa tay nghề,
trình độ được đào tạo với cơ hội có việc làm khi nhu cầu và sản xuất thay đổi. Nó xảy ra
khi có sự thay đổi cơ cấu kinh tế làm mất cân đối giữa cung và cầu cục bộ trên thị trường
lao động.
- Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi cầu chung về lao động giảm xuống. Nguyên

nghiệp làm ăn có hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh thì cầu lao động tăng, các doanh
nghiệp thu hút thêm lao động. Khi các doanh nghiệp bước vào giai đoạn làm ăn kém hiệu
quả, phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, cầu lao động giảm xuống, theo đó xuất
hiện tình trạng một số lao động bị dư thừa. Cung cầu trên thị trường lao động thay đổi
không có sự phù hợp giữa cung và cầu lao động, làm phát sinh hiện tượng thất nghiệp.
- Sự gia tăng dân số
Đây là nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp trong dài hạn. Dân số
gia tăng hàng năm sẽ bổ sung một lực lượng lao động rất lớn vào nguồn lực lao động của
mỗi quốc gia. Dân số càng tăng và tốc độ gia tăng càng nhanh thì lực lượng lao động dư
thừa sẽ càng lớn. Thêm vào đó, quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa cũng có tác động
tiêu cực đến thị trường lao động làm một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Nguyên
nhân này thường xuất hiện phổ biến ở các nước đang phát triển và chậm phát triển, những
nước luôn có tỷ lệ gia tăng dân số cao. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân
chính gây ra tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước đang phát triển
khác.
- Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề
ở từng thời kỳ, sự phát triển kinh tế có thể dẫn tới thay đổi cơ cấu kinh tế. Theo
đó, cơ cấu của một số ngành nghề thay đổi. Những ngành nghề làm ăn có hiệu quả hoặc
cần phải được mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc xuất hiện ngành nghề mới sẽ
tạo cơ hội thu hút thêm nhiều lao động. Nhưng lại có những ngành nghề phải thu hẹp sản

xuất, phải sa thải người lao động và một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Trong
trường hợp này, người lao động bị thất nghiệp muốn tham gia vào thị trường lao động
trong những ngành nghề mới đòi hỏi họ phải được đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên
môn, đáp ứng yêu cầu của công việc mới. Trong thời gian đó, họ trở thành những người
thất nghiệp do cơ cấu.
- Sự ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng không ngừng phát triển phục vụ cho đời
sống con người. Nhưng mặt trái của tiến bộ này có ảnh hưởng không nhỏ tới việc làm gia
tăng tình trạng thất nghiệp. ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tự động hóa

ảnh hưởng của thất nghiệp đến kinh tế xã hội là rất cần thiết để hoạch định cũng như tổ
chức triển khai chính sách nhằm giảm thiểu thất nghiệp.
1.1.1.4. ảnh hưởng của thất nghiệp
Thất nghiệp không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân người lao động và gia
đình họ mà còn tác động mạnh mẽ tới tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi
quốc gia.
- Đối với bản thân người lao động và gia đình họ: thất nghiệp có thể gây ra
những hậu quả rất trầm trọng. Bởi vì khi bị mất việc làm thường đồng nghĩa với việc mất
đi nguồn thu nhập chủ yếu và đương nhiên khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn,
nghèo túng. Thất nghiệp gắn liền với sự mất mát thu nhập và dẽ dẫn tới bi kịch. Hậu quả là
họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn chung của xã hội, sau đó
nếu không có sự trợ giúp nào khác thì phải vay nợ và nếu kéo dài sẽ dẫn đến nợ nần chồng
chất. Sự tác động vào thu nhập cho gia đình phụ thuộc vào tiền thất nghiệp của bản thân họ
nhận được cũng như thu nhập của những thành viên khác trong gia đình còn việc làm.
Thậm chí hậu quả của nạn thất ghiệp còn không tự động xóa bỏ những rào cản đối
với những người có việc làm trở lại, hòa nhập với đời sống xã hội chung. Điều này diễn ra

đối với những người lao động, đặc biệt đối với người sau khi thất nghiệp, phải xác lập một
quan hệ lao động mới, thường đi liền với điều kiện làm việc và điều kiện về tài chính kém
hơn việc làm trước đó. Nạn thất nghiệp cũng không chỉ là hậu quả về tài chính mà còn là hậu
quả về khả năng nghề nghiệp. Khi thất nghiệp kéo dài, hậu quả là họ bị mất đi khả năng
nâng cao trình độ nghề nghiệp. Điều đó sẽ đe dọa không chỉ về phía họ, họ sẵn sàng bị thất
nghiệp, mà còn ngăn cản việc học nghề hay chuyển vào một nghề khác.
- Đối với nền kinh tế: thất nghiệp chính là sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một
trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển. Vì khi
đó có một bộ phận người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì
lý do khách quan không có việc làm thì dĩ nhiên sức sản xuất trong nước và thu nhập quốc
dân thấp hơn so với khi mọi người đều co việc làm. Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế và thất
nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau, đôi khi tạo thành vòng luẩn
quẩn không thoát ra được. Bên cạnh đó, thất nghiệp có thể làm cho xã hội bất ổn. Đến lượt

cấp cho người lao động của mình bị sa thải, bị thất nghiệp tạm thời hoặc bị thất nghiệp một
phần. Nguyên tắc hoạt động của các chương trình này là các chi phí về trợ cấp thất nghiệp
được chuyển sang cho người tiêu dùng như là một phần của chi phí sản xuất. Tuy nhiên,
với chương trình loại này, rủi ro thất nghiệp chỉ được chia sẻ trong phạm vi một doanh
nghiệp và chương trình đã không mấy thành công giống như trường hợp các quỹ BHTN
của công đoàn mong muốn chi trả trợ cấp cho toàn bộ những người lao động làm công ăn
lương.
Những yếu kém của các chương trình BHTN trong phạm vi hẹp như thế này đã tác
động đến chính quyền các cấp với mong muốn củng cố phạm vi bảo trợ đối với người lao
động. Một số chính quyền địa phương đã thành lập các quỹ BHTN tự nguyện cho người
lao động thuộc địa phương mình. Quỹ BHTN tự nguyện đầu tiên được thành lập năm 1893
tại Thụy Sĩ. Tuy nhiên, cùng với triển vọng mở rộng phạm vi của mình đến các thành viên
công đoàn, các quỹ thuộc chính quyền địa phương thành lập đã không chứng minh được sự
thành công do tính tự nguyện tham gia của quỹ. Các quỹ này thu hút chủ yếu những người

không có việc làm ổn định, dễ bị thất nghiệp nên gặp rất nhiều khó khăn về tài chính do
phải chi trả nhiều.
Một số chính quyền địa phương khác đã tham gia vào lĩnh vực bảo trợ một cách
gián tiếp thông qua việc hỗ trợ tài chính cho một số quỹ BHTN, chủ yếu do các tổ chức
công đoàn điều hành, với mục tiêu nâng cao mức trợ cấp mất việc do các quỹ này chi trả.
Hàng năm, khoản hỗ trợ tài chính này được chuyển cho quỹ trên cơ sở tổng trợ cấp đã
được trả của năm trước.
Kinh nghiệm của các chương trình BHTN tự nguyện đã đem lại nhiều thông tin
hữu ích. Sự thành công rất hạn chế của các chương trình như thế này cho thấy rủi ro thất
nghiệp không thể được giải quyết trong phạm vi một doanh nghiệp mà phải được cân nhắc
thông qua chia sẻ rủi ro trong một phạm vi và đối tượng tham gia rộng lớn hơn. Một bài
học được rút ra nữa là BHTN hoạt động trong phạm vi một địa phương không thể thực
hiện theo nguyên tắc tự nguyện vì những nguy cơ vốn có của sự lựa chọn mang tính bất lợi
cho quỹ (chủ yếu những người dễ gặp rủi ro mất việc làm mới tham gia chương trình). Các
chương trình do công đoàn điều hành đã có những thành công nhất định, nhưng thường

tương đối ngắn. Tuy nhiên, hạn chế thời gian chi trả trợ cấp BHTN không phải là vấn
đề đơn giản. Nếu không có một sự kiểm soát chặt chẽ đối với những người đề nghị
hưởng trợ cấp BHTN, các cơ quan quản lý BHTN sẽ phải chi trả trợ cấp thất nghiệp trong
một thời gian không có giới hạn. Điều này cũng có thể gắn với nguy cơ của việc giảm hoặc
thậm chí triệt tiêu động cơ tìm kiếm việc làm mới.
Hiện nay có ba loại hình BHTN chủ yếu trên thế giới:
- BHTN bắt buộc trong đó những nhóm người lao động nhất định bắt buộc phải
tham gia;

- BHTN tự nguyện có sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước, sự tham gia là tự nguyện
(chỉ trừ trường hợp các thành viên công đoàn được yêu cầu đóng góp cho các quỹ của
công đoàn);
- Trợ giúp thất nghiệp các quỹ công được hình thành dành cho những người bị mất
việc khi đáp ứng được các điều kiện về thẩm tra thu nhập hoặc tài sản.
1.1.2.2. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập do thất
nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động.
ở đây có một số điểm cần nhấn mạnh.
- Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị
thất nghiệp.
- Người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn giới
thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao
động.
Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho
người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các
hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm
được một việc làm mới thích hợp và ổn định.
Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN.
Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên
tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích lợi nhuận.

1.2.2. Vai trò, nguyên tắc của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
1.2.2.1. Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp

- Chính sách BHTN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người lao động khi họ
bị mất việc làm
Chính sách BHTN hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp,
giúp họ và gia đình họ có thể tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khổ, giúp người lao
động có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp và để tìm việc làm mới.
Chính sách BHTN hỗ trợ họ tìm kiếm việc làm và cơ hội có việc làm thông qua
việc tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để giúp họ có điều kiện sớm quay trở lại thị
trường lao động. Ngoài ra, người lao động bị thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi
khác từ chính sách BHTN như được đóng bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp.
- Chính sách BHTN của Chính phủ hỗ trợ người sử dụng lao động trong việc giải
quyết vấn đề thất nghiệp của người lao động
Chính sách BHTN của Chính phủ hỗ trợ tài chính cho người lao động bị thất
nghiệp, điều đó gián tiếp hỗ trợ cho người sử dụng lao động, giảm áp lực cho họ trong vấn
đề hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp. Mặt khác, chính sách cung cấp thông tin, tư vấn
đào tạo cho người lao động bị thất nghiệp tìm việc làm, giúp cho người sử dụng lao động,
những người có nhu cầu lao động và những người thất nghiệp, đang có nhu cầu tìm việc
làm, có nhiều cơ hội gặp nhau hơn. Theo đó, người sử dụng lao động được đáp ứng nhu
cầu lao động phù hợp hơn.
- Chính sách BHTN góp phần vào sự ổn định, phát triển kinh tế xã hội của đất
nước
Thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng mất thu nhập đột ngột và đương nhiên khi thất
nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng, người thất nghiệp sống dưới mức tiêu
chuẩn chung của xã hội. Điều đó có thể phát sinh các tệ nạn xã hội, gây bất ổn cho xã hôi.
Chính sách BHTN ra đời nhằm góp phần giảm thiểu tình trang thất nghiệp, giúp người thất
nghiệp và gia đình họ có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp, góp phần ổn
định cho xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển.


BHTN, mặt khác còn đảm bảo khuyến khích người lao động chủ động tìm kiếm việc làm
nhằm thoát khỏi tình trạng thất nghiệp.
Thứ ba, Quỹ BHTN được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc
lập.
Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia là: người sử
dụng lao động, người lao động và Nhà nước nên hoạt động của quỹ phải dựa trên nguyên tắc
quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc lập. Quỹ BHTN do một cơ quan quản
lý thống nhất từ trung ương đến địa phương theo chế độ tài chính của Nhà nước. Quỹ được sử
dụng vào các mục đích như: Chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động; Chi cho các hoạt
động tìm việc làm cho người thất nghiệp; Chi cho công tác đào tạo, đào tạo lại, học nghề
cho người thất nghiệp; Chi phí cho hoạt động của bộ máy quản lý BHTN…
Do vậy, quỹ BHTN là một quỹ tài chính độc lập, tự thu, tự chi. Sau khi thành lập,
quỹ này độc lập với ngân sách Nhà nước để chủ động giải quyết vấn đề thất nghiệp. Quỹ
này không được sử dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác.
Thứ tư, Nhà nước thống nhất quản lý chính sách BHTN. Nhà nước thống nhất
quản lý BHTN thể hiện trước hết ở việc Nhà nước trực tiếp ban hành pháp luật về BHTN,
tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện chế độ này. Căn cứ vào tình hình phát triển
kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ mà Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về BHTN,
các qui định pháp luật về như thu hẹp hay mở rộng đối tượng, điều kiện hưởng và mức
hưởng…
Với tư cách là người đại diện và thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước còn có
trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHTN, áp dụng các biện pháp để bảo tồn giá trị quỹ và làm
cho quỹ tăng trưởng. Ngoài ra, Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý sự nghiệp BHTN cho
toàn xã hội nhưng không bao cấp, không lấy ngân sách để chi trả mà chỉ hỗ trợ một phần.

Thứ năm, chính sách BHTN đảm bảo nguyên tắc lành mạnh hóa thị trường lao
động. Để giải quyết thất nghiệp đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể, được thiết kế để
kích thích nền kinh tế. Xu hướng chung của các nước hiện nay là, ngoài trợ cấp cho người
lao động, khi thất nghiệp, có điều kiện sinh sống, người ta còn thực hiện thêm biện pháp
đào tạo lại người lao động để họ có điều kiện dễ tìm việc làm mới. Vì vậy, BHTN được

bảo vệ, sự quan tâm về mặt tài chính và quản lý.
Nhìn chung, đa số các nước quy định chỉ những người làm công ăn lương (làm
công cho chủ) mới được tham gia BHTN. Còn những người lao động độc lập thì không
thuộc đối tượng tham gia BHTN. Quy định này được thể hiện tại Điều 2, Công ước số 44
của ILO:
Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh mỗi nước có thể đặt thêm các trường hợp ngoại lệ đối
với một số đối tượng thuộc các dạng sau: Các gia nhân (những người giúp việc nhà); người
lao động làm việc tại nhà; công chức nhà nước có việc làm ổn định; người lao động có thu
nhập cao có thể tự mình phòng chống rủi ro thất nghiệp; những người lao động làm việc
theo mùa vụ; những người lao động trẻ, sát cận tuổi lao động theo quy định; những lao động đã
vượt quá tuổi quy định, nghỉ hưu, đang được hưởng trợ cấp hưu trí; người lao động làm
việc tùy dịp hoặc phụ trợ; thành viên trong gia đình của chủ nhân;
Công ước này không áp dụng cho thủy thủ, thủy thủ đánh cá và lao động nông
nghiệp [49].
Sở dĩ có các trường hợp ngoại lệ này là vì nguyên tắc chung xác định đối tượng
cần được bảo vệ là tìm cách đạt được sự cân bằng giữa các yếu tố như nhu cầu bảo vệ, sự
quan tâm về mặt quản lý cũng như về mặt tài chính. Tuy nhiên, đôi khi các yếu tố này lại
không phù hợp với nhau, gây ra khó khăn khi quyết định cho đối tượng gia nhập hay loại

Trích đoạn QUAN Điểm Hoàn Thiện ChínhSách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt NAM Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc Hoàn thiện các chế độ bảo hiểm thất nghiệp Hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện chínhsách bảo hiểm thất nghiệp Phân tích, lựa chọn mô hình tối ưu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status