THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG TỔ CHỨC BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 76

Thực trạng của hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội ở
Việt Nam hiện nay
2. 1- Đổi mới kinh tế và những yêu cầu đang đặt ra với
hệ thống BHXH ở Việt Nam
2. 1. 1- Đổi mới kinh tế và tác động đến hoạt động của hệ thống BHXH
Giống nh các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội khác, BHXH cũng mang
những nét đặc thù riêng phụ thuộc vào thể chế kinh tế mà trong đó nó tồn tại. Nói
cách khác, BHXH chịu tác động sâu sắc từ cơ chế vận hành của nền kinh tế trong
từng giai đoạn phát triển của đất nớc.
Trớc thời kỳ Đổi mới (trớc 1986), nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ
chế kế hoạch hoá tập trung mang nặng tính bao cấp. Vì thế, BHXH cũng mang
nặng những nét đặc trng của cơ chế kinh tế này. Những điểm đáng chú ý của giai
đoạn này là:
- BHXH cho công nhân viên chức bao gồm 6 loại trợ cấp: ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; mất sức lao động; hu trí và tử tuất. Quỹ
BHXH chi trả cho 6 loại trợ cấp này là quỹ độc lập thuộc ngân sách nhà nớc, nh-
ng nguồn thu phần lớn là từ ngân sách nhà nớc, các cơ quan, doanh nghiệp chỉ
trích nộp một phần, ngời lao động không phải đóng phí BHXH (theo Điều lệ tạm
thời về BHXH đợc ban hành ngày 27/12/1961). BHXH trong lực lợng vũ trang đ-
ợc thực hiện nh đối với công nhân viên chức (theo Nghị định số 161/CP ngày
30/10/1964).
- BHXH đợc phân cấp quản lý cho 2 cơ quan (Bộ Nội vụ và Tổng Công
đoàn - theo Quyết định số31/CP ngày 20/3/1963), cha tập trung về một đầu mối
và hoạt động còn mang tính kiêm nhiệm, cha có tính chuyên môn hoá cao.
- Do cha có hình thức BHXH tự nguyện, ở nông thôn, nhiều nơi đã tự lập ra
chế độ BHXH tuổi già cho ngời cao tuổi thông qua hình thức cấp phát thóc của
hợp tác xã nông nghiệp.
Cùng với việc thực hiện đờng lối Đổi mới đợc đề xớng tại Đại hội VI của
Đảng, nền kinh tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trờng, có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Trong bối cảnh đó, dới tác động của cơ chế thị trờng, BHXH đã có những

2. 1. 2- Những yêu cầu mới đối với hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, tri thức hoá kinh tế hiện nay, các quan hệ cơ
bản của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam mới đang hình thành và đợc hoàn thiện
từng bớc. Những khó khăn đang đặt ra là không nhỏ nhng có thể khẳng định một
số điểm sau:
- Xu thế phát triển kinh tế theo cơ chế thị trờng ở Việt Nam là không thể
đảo ngợc. C. Mác đã nói, xã hội nào cho năng suất lao động cao hơn, xã hội đó
tiên tiến hơn. Nền kinh tế Việt Nam đang đạt tốc độ tăng trởng cao, chứng tỏ cơ
chế kinh tế đợc chọn và đang vận hành là cơ chế đúng.
- Việt Nam đã khẳng định sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết của khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào năm 2006 và đang chuẩn bị các điều kiện để
gia nhập WTO vào năm 2005, chứng tỏ mong muốn và quyết tâm hội nhập kinh tế
quốc tế của Chính phủ.
- Pháp luật Việt Nam đã khẳng định bảo vệ quyền sở hữu và tự do kinh
doanh theo pháp luật. Nh vậy, định hớng phát triển kinh tế đã đợc khẳng định.
Trong bối cảnh đó của nền kinh tế, BHXH Việt Nam đang đứng trớc những
yêu cầu và đòi hỏi mới:
Một là, BHXH Việt Nam phải có sự hoàn thiện dần về cơ chế vận hành, về
hệ thống các văn bản luật và dới luật phù hợp với những nguyên tắc chung nhất
của các nớc trong khu vực và thế giới;
Hai là, BHXH Việt Nam phải hớng tới sự hoàn thiện trong tổ chức bộ máy
trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của các nớc trong khu vực và thế giới, mà trớc hết
là các nớc trong khu vực có điều kiện, hoàn cảnh, phong tục tập quán tơng tự Việt
Nam song có mức độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam. Cần phải có quy hoạch
tổng thể phát triển bộ máy trong các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;
Ba là, BHXH Việt Nam phải xây dựng đợc đội ngũ cán bộ có trình độ
chuyên môn cao, phù hợp với yêu cầu công việc trong giai đoạn mới. Muốn vậy,
cần có chuyên ngành đào tạo chuyên sâu về BHXH và thờng xuyên bồi dỡng đội
ngũ cán bộ này thông qua giao lu quốc tế và học hỏi kinh nghiệm, thông qua các
lớp bồi dỡng nghiệp vụ ngắn hạn,

Giám đốc BHXH Việt Nam. Các thành viên Hội đồng quản lý đại diện cho cơ
quan mình tham gia vào công tác của Hội đồng quản lý, thảo luận, biểu quyết về
các công việc của Hội đồng quản lý.
Hội đồng quản lý
Bộ máy điều hành
BHXH cấp tỉnh (có 5 BHXH thành phố trực thuộc trung ơng là Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và 59 BHXH tỉnh)
BHXH cấp huyện (gồm BHXH quận, BHXH huyện, BHXH thành phố trực thuộc tỉnh và
BHXH thị xã với tổng số 630 đơn vị)
sơ đồ 6: Mô hình tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam

Hội đồng quản lý có Chủ tịch, một Phó Chủ tịch và các thành viên do Thủ
tớng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trởng Bộ Nội vụ.
Qua mô hình tổ chức BHXH trên, có thể thấy:
Hội đồng quản lý có đầy đủ đại diện của hầu hết các bộ, ngành cần thiết, điều
đó tạo thuận lợi cho quản lý song lại thiếu đại diện của ngời sử dụng lao động
(ở Việt Nam hiện nay là Phòng Thơng mại Công nghiệp Việt Nam VCCI và
Liên minh các hợp tác xã Việt Nam).
BHXH Việt Nam đợc tổ chức thống nhất từ trung ơng đến địa phơng. Mô hình
tổ chức này có một số nét tơng đồng với các nớc trong khu vực và thế giới
(quản lý chung về hoạt động BHXH là Hội đồng quản lý; các mắt xích quản lý
đợc bố trí theo các đơn vị hành chính nhà nớc);
Tổ chức hoạt động BHXH đợc hình thành trên cơ sở quản lý thống nhất theo
ngành dọc. BHXH Việt Nam thực hiện quản lý trực tiếp đối với BHXH cấp
tỉnh, BHXH cấp tỉnh quản lý trực tiếp BHXH cấp huyện. Cách tổ chức này của
BHXH Việt Nam có u điểm vợt trội so với tổ chức của các ngành khác (quản lý
ngành ở các ngành khác ở Việt Nam chủ yếu là quản lý chuyên môn, Uỷ ban
nhân dân cấp địa phơng mới là cơ quan quản lý trực tiếp và toàn diện). Cách tổ
chức này có thể cho phép thực hiện luân chuyển cán bộ, đào tạo cán bộ thông
qua việc điều chuyển cán bộ, thực hiện chuyên môn hoá đội ngũ, v. v

Báo BHXH
Tạp chí BHXH
sơ đồ 7: bộ máy văn phòng cơ quan bhxh cấp trung ơng
Bộ máy BHXH ở địa phơng
Theo mô hình hiện nay, BHXH ở địa phơng đợc tổ chức nh sau:
BHXH cấp tỉnh (bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng). BHXH
cấp tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam. BHXH cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về
BHXH trên địa bàn theo qui định của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Cơ cấu tổ
chức của BHXH cấp tỉnh nh sau:
1. Phòng thu BHXH;
2. Phòng chế độ, chính sách BHXH;
3. Phòng y tế tự nguyện;
4. Phòng Giám định y tế;
5. Phòng Kế hoạch - Tài chính (gồm cả bộ phận chi BHXH);
6. Phòng Kiểm tra;
7. Phòng Tổ chức - Hành chính;
8. Phòng Công nghệ Thông tin.
Đối với BHXH thành phố Hà Nội và BHXH thành phố Hồ Chí Minh còn tổ
chức thêm:
1. Phòng Quản lý hồ sơ.
2. Phòng Cấp sổ, thẻ.
BHXH cấp tỉnh là đơn vị có t cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản, trụ sở
riêng nhng hoạt động theo cơ chế phân cấp và uỷ quyền của Tổng Giám đốc
BHXH Việt Nam. Các phòng trực thuộc BHXH tỉnh có chức năng giúp Giám đốc
BHXH tỉnh tổ chức các nhiệm vụ đợc giao theo từng lĩnh vực chuyên môn nghiệp
vụ theo quy định của Tổng Giám đốc. Các phòng chức năng này chịu sự quản lý
điều hành trực tiếp của giám đốc BHXH tỉnh và sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp
vụ của các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, và không có t cách pháp nhân đầy
đủ, không có con dấu và tài khoản riêng.
BHXH cấp huyện

cha có một số bộ phận mà thiếu nó, hoạt động BHXH sẽ thiếu đi những nội dung
cơ bản trong hoạt động nh bảo hiểm thất nghiệp , bảo hiểm tuổi già cho những ng-
ời tàn tật, phụ cấp con, v. v Vấn đề này đã đ ợc đề cập ở trên.
2. 2. 2 - Thực trạng về đội ngũ cán bộ của BHXH Việt Nam
2.2.2.1 - Về tổng thể nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ các cấp:
Hiện nay, tổng số cán bộ của BHXH Việt Nam (kể cả bộ phận bảo hiểm y
tế sau khi sát nhập) khoảng 6. 000 ngời thuộc biên chế và khoảng 1500 ngời làm
hợp đồng.
Trong đó phân loại ra một số chỉ tiêu chính:
a. Số cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, bao gồm:
ở trung ơng :
+ Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam: 6 ngời (có cả bảo hiểm y tế )
+ Tổng Giám đốc: 1 ngời
+ Phó Tổng Giám đốc: 2 ngời
+ Trởng ban và tơng đơng: 7 ngời
+ Phó Trởng ban và tơng đơng: 16 ngời
ở địa ph ơng :
+ Giám đốc BHXH tỉnh: 64 ngời
+ Phó Giám đốc BHXH tỉnh: 72 ngời
+ Trởng phòng: 363 ngời
+ Phó Trởng phòng: 90 ngời
+ Giám đốc BHXH huyện: 579 ngời
+ Phó Giám đốc BHXH huyện: 191 ngời
b. Số công chức, viên chức ở các cấp, bao gồm:
ở trung ơng:
+ Cơ quan BHXH Việt Nam có: 300 ngời trong biên chế
ở địa phơng:
+ BHXH cấp tỉnh có: 4480 ngời
+ BHXH cấp huyện có: 3160 ngời
2.2.2.2 - Về chất lợng đội ngũ cán bộ, viên chức:

phần bớc đầu đáp ứng đợc yêu cầu, nhiệm vụ của công việc.
Ngoài các yêu cầu về trình độ nghiệp vụ chuyên môn, nhìn chung đội ngũ
cán bộ của ngành BHXH ở Việt Nam đều đã tham gia ít nhất một khoá học tiếng
Anh và một khoá học vi tính từ trình độ A trở lên. Điều này đã góp phần không
nhỏ vào việc thực hiện nhiệm vụ chung của ngành, mở ra khả năng áp dụng đợc
những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực BHXH.
Trong đội ngũ cán bộ của BHXH Việt Nam hiện nay vẫn còn tình trạng "
vừa thừa, vừa thiếu". Thừa những ngời cha đủ trình độ, năng lực, phẩm chất, cha
đáp ứng đợc yêu cầu công việc trong giai doạn hiện nay. Thiếu những ngời có
năng lực trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng đợc yêu cầu công việc.Nguyên
nhân dẫn đến tình trạng đó là do:
+ Cơ cấu cán bộ, công chức hiện có không tơng ứng với cơ cấu công việc,
hơn na việc tiếp nhận số cán bộ mới cha xuất phát từ yêu cầu công việc chuyên
môn về BHXH.
+ Do không có tuyển dụng mà chủ yếu thu nhận cán bộ từ các nguồn
khác nhau, không theo chuyên ngành BHXH; tình trạng đội ngũ cán bộ không
đồng bộ; trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lý cha đáp ứng đợc yêu
cầu nhiệm vụ mới của ngành, nhất là trong cơ chế quản lý mới trong nền kinh tế
thị trờng hiện nay.
Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay của BHXH Việt Nam nằm trong thực
trạng chung, xét về chất lợng, số lợng và cơ cấu đều có nhiều mặt cha ngang tầm
với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đối với ngành BHXH Việt Nam do bối cảnh lịch sử tách ra thành hệ thống
tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ đợc một số năm, nên đội ngũ cán bộ pha
trộn từ nhiều chuyên ngành khác, cần phải có thời gian làm quen công việc và
từng bớc đào tạo, bồi dỡng và đào tạo lại.
Xét về mặt cơ cấu cán bộ, thực trạng đội ngũ cán bộ của BHXH Việt Nam
cha có cơ cấu theo cơ cấu công việc. Nguyên nhân ở đây là do đợc thành lập trên
cơ sở hợp nhất các tổ chức và nhân sự làm công tác BHXH từ ngành lao động, th-
ơng binh và xã hội, ngành công đoàn và ngành bảo hiểm y tế sang. Vì cha xây

chính của nhà nớc, hạch toán độc lập và đợc nhà nớc bảo hộ;
Kiến nghị với Chính phủ, Thủ tớng Chính phủ và các cơ quan nhà nớc có
liên quan về việc sửa đổi, bổ sung chính sách, chế độ BHXH; cơ chế quản lý quỹ,
cơ chế quản lý tài chính và tổ chức thực hiện sau khi đợc phê duyệt;
Ban hành các văn bản hớng dẫn thực hiện việc giải quyết các chế độ BHXH
và nghiệp vụ thu, chi BHXH theo thẩm quyền; quản lý nội bộ ngành BHXH;
Tổ chức hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp để phục vụ ngời
có sổ, thẻ bảo hiểm theo quy định của pháp luật;
Kiểm tra việc ký hợp đồng và việc thu chi BHXH đối với cơ quan, đơn vị,
tổ chức sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở khám chữa bệnh; kiến nghị với cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền và cơ quan cấp trên của đơn vị sử dụng lao động, cơ sở
khám chữa bệnh để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH;
Từ chối việc chi các chế độ BHXH khi đối tợng tham gia BHXH không đủ
điều kiện hởng BHXH theo quy định của pháp luật hoặc khi có căn cứ pháp lý về
các hành vi giả mạo, khai man hồ sơ để đợc hởng BHXH;
Bồi thờng mọi khoản thu, chi sai theo quy định của pháp luật về chế độ
BHXH cho đối tợng tham gia BHXH;
Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân về việc thực hiện chính
sách, chế độ BHXH theo quy định của pháp luật;
Lu trữ hồ sơ của đối tợng tham gia và hởng chế độ BHXH theo quy định;
Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học; ứng dụng công nghệ thông tin
trong quản lý, điều hành hoạt động BHXH;
Tổ chức đào tạo và bồi dỡng chuyên môn nghiệp vụ BHXH;
Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ
BHXH;
Thực hiện hợp tác quốc tế về BHXH theo quy định của pháp luật;
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nớc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội ở trung ơng và địa phơng, với các bên tham gia BHXH để giải quyết
các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH theo quy
định của pháp luật;

phủ (tại Nghị định số 100/2002/NĐ- CP).
Tổng Giám đốc là đại diện pháp nhân của BHXH Việt Nam, do Thủ tớng
Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng quản lý. Tổng Giám đốc chịu
trách nhiệm trớc Thủ tớng Chính phủ và Hội đồng quản lý về việc thực hiện chính
sách, chế độ BHXH và quản lý quỹ BHXH.
Các Phó tổng giám đốc do Thủ tớng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm
theo đề nghị của Hội đồng quản lý và Tổng giám đốc.
Các Phó tổng giám đốc đợc Tổng Giám đốc phân công chỉ đạo một số mặt
công tác và chịu trách nhiệm trớc Tổng Giám đốc về nhiệm vụ đợc phân công.
Qua việc phân công chức năng nhiệm vụ nh đã đợc trình bầy ở trên, có thể
rút ra nhận xét:
Việc giao chức năng nhiệm vụ cho BHXH khá rõ ràng, có sự phân
biệt rõ giữa các cấp quản lý và bao hàm khá đầy đủ các hoạt động cơ bản của
BHXH. Quyền hạn và trách nhiệm đợc giao cho Hội đồng quản lý đã thể hiện vai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status