LỜI MỞ ĐẦU.
Việt Nam là nước đã trải qua hơn 25 năm đổi mới, thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế
vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, khép kín sang nền kinh
tế mở, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập
khu vực và quốc tế. Quá trình đó, một mặt, làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, góp
phần cải thiện, nâng cao mức sống của nhân dân, cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện
có hiệu quả công cuộc xóa đói, giảm nghèo được thế giới ghi nhận và đánh giá cao, đồng
thời qua đó nâng cao vị thế, uy tín đất nước trên trường quốc tế. Nhưng mặt khác, nó
cũng bộc lộ những mặt trái, những hệ quả xã hội không mong muốn cần tập trung giải
quyết. Một trong những hệ quả đó là vấn đề phân tầng xã hội, gắn với nó là bất bình đẳng
xã hội, phân hóa giàu nghèo và những hiện tượng tiêu cực khác, nếu không nghiên cứu,
tìm ra những phương thức và biện pháp hóa giải kịp thời sẽ đe dọa sự ổn định xã hội, ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Và để hiểu hơn về vấn đề này, chúng ta
sẽ cùng đến với đề tài của nhóm: “ Phân tầng xã hội_thực trạng và giải quyết vấn đề
phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay”.
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
1.1. Khái niệm.
• Tầng xã hội: Là tổng thể các cá nhân tạo thành một tập hợp có cùng hoàn
cảnh xã hội, ngang nhau về tài sản (địa vị kinh tế), quyền lực (địa vị chính trị), và
uy tín (địa vị xã hội) về khả năng thăng tiến xã hội cùng có được cơ may, ân huệ
hay thứ bậc xã hội.
• Phân tầng xã hội là sự phân chia cấu trúc xã hội thành các tầng xã hội
khác nhau về địa vị kinh tế, địa vị chính trị, địa vị xã hội cũng như một số khác
biệt về trình độ học vấn, kiểu dáng nhà ở, nơi cư trú, phong cách sinh hoạt, cách
ứng xử, sở thích nghệ thuật, …
Theo nhà xã hội học Mỹ Neil Smelser, "phân tầng xã hội liên quan đến những
cách thức, trong đó bất bình đẳng dường như từ thế hệ này truyền qua thế hệ
khác, tạo nên vị trí hoặc đẳng cấp xã hội". Một định nghĩa khác: "sự phân tầng
trong xã hội học thường được áp dụng để nghiên cứu về cấu trúc xã hội bất bình
đẳng, vì vậy, nghiên cứu về những hệ thống bất bình đẳng giữa những nhóm
người nảy sinh như là kết quả không chủ ý của những quan hệ xã hội và quá trình
triển tài năng còn những người ở tầng lớp dưới phải chịu những thiệt thòi, bất lợi.
Xã hội phân tầng sẽ tích tụ, làm gay gắt thêm những xung đột và bất bình xã hội.
Đó là nguyên nhân của mọi cuộc khủng hoảng.
Ngoài hai lý thuyết cơ bản nói trên còn có những lý thuyết khái quát về sự phân tầng xã
hội trong các xã hội khác nhau mà tiêu biểu là lý thuyết của Max Weber, Lenski và của
các nhà lý luận về sự tiến hóa xã hội, lý luận phân tầng xã hội khác.
Trong lịch sử, tương ứng với các loại xã hội khác nhau, có những hệ thống phân tầng
khác nhau. Theo các nhà xã hội học, có 4 kiểu chủ yếu về hệ thống phân tầng xã hội:
1. Nô lệ;
2. Đẳng cấp;
3. Địa chủ;
4. Các giai cấp xã hội.
Nhìn chung lý thuyết về phân tầng xã hội nhấn mạnh việc nghiên cứu hình
thành các giai cấp xã hội, các cuộc đấu tranh giữa giai cấp, quy luật hình thành,
chuyển hóa giai cấp. Trong đó tính cơ động xã hội là đặc điểm quan trọng của lý
thuyết.
1.3. Nguyên nhân dẫn đến phân tầng xã hội.
- Thứ nhất: đó là do sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của tất cả các chế độ xã hội
(trừ giai đoạn đầu của thời kỳ nguyên thuỷ). Thực tế, mỗi con người trong mỗi một
xã hội, luôn có sự khác biệt về thể chất, trí tuệ (có người khoẻ, yếu, thông minh,
kém cỏi, người gặp những cơ may thăng tiến, người chịu rủi ro, thiệt thòi…). Chính
sự khác biệt một cách tự nhiên, khách quan này tạo ra những khả năng chiếm giữ
các địa vị xã hội cao thấp, khác nhau.
- Thứ hai: do sự phân công lao động. Đưa đến sự khác nhau về nghề nghiệp, thu
nhập, các điều kiện làm việc, đó cũng là những yếu tố tạo nên sự khác nhau về địa
vị xã hội. Ngoài ra, còn có những yếu tố chủ quan cá nhân tác động vào qúa trình
phân tầng xã hội. Ví dụ: trong xã hội cực quyền, sự lạm dụng và thao túng quyền
lực của các lãnh chúa (xã hội cũ) và giáo hội cũng tạo ra sự phân tầng hoặc làm gay
gắt hơn, làm biến dạng những trật tự vốn có trong xã hội.
Có thể nói, phân tầng xã hội là một hiện tượng tự nhiên, phổ biến, khách
- Phương pháp điều tra: là phương pháp thông qua các tiêu chí nghiên cứu để xác
định tầng xã hội: thu nhập, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt văn hóa, tư liệu sản xuất…
II. TÌNH HÌNH PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA.
Trong lý luận, các nhà khoa học chú ý đến cả 3 hệ thống phân tầng: theo tài sản, thu nhập
( dấu hiệu kinh tế ), theo quyền lực (chính trị ) và theo uy tín (địa vị ). Trong những xã
hội cụ thể, thường có sự đan xen các yếu tố, dấu hiệu của sự phân tầng vì chúng thường
có liên hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, mỗi dấu hiệu đều có những khó khăn riêng trong
việc tiếp cận và đo lường chúng, đặc biệt đối với các dấu hiệu quyền lực và uy tín.
Nhìn chung, người ta đều thừa nhận rằng, việc đo lường các khác biệt về kinh tế (tài sản
và thu nhập ) dễ hơn nhiều so với hai lĩnh vực còn lại trong định nghĩa về phân tầng xã
hội. Đồng thời, trong việc đo lường chính xác các khác biệt về tài sản và thu nhập cũng
không dễ dàng, nhất là trong các xã hội đang phát triển. Vì vậy, ở nước ta tại thời điểm
hiện tại, các nhà nghiên cứu thường chấp nhận việc sử dụng các chỉ báo về thu nhập và
mức sống để xem xét sự phân tầng xã hội. Điều này có thể coi là hợp lý bởi vì sẽ cần rất
nhiều thời gian để xử lý các vấn đề phương pháp luận và phương pháp cụ thể nếu muốn
đo lường đông thời cả 3 loại dấu hiệu trên để xác định sự phân tầng xã hội thực tế. Do đó,
đối với đề tài này, vì không đủ thời gian và năng lực cho nên chúng tôi xin được chỉ
nghiên cứu về phân tầng xã hội theo thu nhập, mức sống thay cho việc nghiên cứu về
toàn bộ hệ thống phân tầng xã hội Việt Nam hiện nay.
2.1. Thực trạng tầng xã hội theo mức sống, thu nhập ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Nền tảng và xu hướng chung.
Nền tảng cơ bản nhất của hiện trang phân tần xã hội ở VN là mức sống của đại đa số
dân cư tăng lên trong 10 năm qua. Theo báo cáo, tỷ lệ hộ nghèo đói đã giảm khá mạnh, từ
khoảng 22% năm 2005 xuống còn khoảng 9,45% năm 2010 ( theo tiêu chuẩn cũ). Đối với
giai đoạn 2010- 2013 (áp dụng chuẩn nghèo mới): Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ
14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011) và 9,6% (năm 2012), năm 2013 chỉ
còn khoảng 7,6%-7,8%. Chênh lệch giàu nghèo tiếp tục tăng trên nền tảng chung nói
trên. Sự chênh lệch về mức sống càng tăng, tạo nên một sự phân tầng xã hội trong hầu hết
các nhóm xã hội. Chẳng hạn, ở Việt Nam chênh lệch về chi tiêu giữa nhóm 20% giàu
Theo số liệu trên ta thấy thu nhập bình quân/người/tháng ở khu vực thành thị năm
2002 gấp 2,26 lần so với nông thôn, đến nay đang có xu hướng giảm dần: năm 2006,
2010 là 2,02 lần và 1,92 lần; nhưng đến năm 2012 con số này vẫn còn 1,89 lần. Bên cạnh
đó, tổng chi tiêu bình quân người/tháng ở thành thị năm 2012 (đạt 2,288 triệu đồng) cũng
hơn 1,74 lần so với mức chi tiêu ở nông thôn (1,315 triệu đồng). Mức độ bất bình đẳng
về kinh tế ở thành thị tăng chậm hơn ở nông thôn, nhưng lại cao hơn nông thôn. Cụ thể
là: khoảng cách về thu nhập giữa hai nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất ở thành thị
tăng từ 4,5 lần (năm 2002) lên 4,9 lần (năm 2012) trong khi ở nông thôn là 3,1 lần (năm
2002) lên tới 4,7 lần (năm 2012). Ngoài ra, 97% dân số trong độ tuổi lao động thuộc
nhóm 20% nghèo nhất là ở nông thôn. 65% dân số trong độ tuổi lao động thuộc nhóm
20% giàu nhất là ở đô thị. Sự chệnh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn là lớn hơn
rất nhiều so với sự chênh lệch này trong nội bộ mỗi khu vực. Vì vậy chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn đóng góp chủ yếu ( tới 96%) vào mức độ phân tầng mức sống nói
chung trên quy mô toàn quốc.
Ngoài ra, phần lớn dân số trong độ tuổi lao động thuộc nhóm 20,5% giàu nhất sống ở
vùng Đông Nam Bộ (37%) đồng bằng sông Hồng (21%) và đồng bằng sông Cửu Long
(18%). Sống ở vùng miền núi phía Bắc chỉ có gần 7% và ở Bắc Trung Bộ là 6%. Từ bảng
số liệu cũng thấy rõ, năm 2012, thu nhập bình quân ở vùng Đông Nam Bộ (vùng cao
nhất) đạt 3,016 triệu đồng/tháng, cao gấp gần 3lần con số tương ứng của vùng trung du
và miền núi Tây Bắc (thấp nhất) là 0,998 triệu đồng/tháng. Mức chi tiêu bình quân
người/tháng của Đông Nam Bộ cũng cao hơn hẳn (đạt 2,086 triệu đồng) so với vùng Tây
Bắc ( đạt 0,987 triệu đồng).
Như vậy, xu hướng khác biệt theo vùng trong sự phân tầng xã hội cũng có thể được
khái quát như sau: Theo chiều không gian từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng đến miền núi thì
sự phân hóa ở các tỉnh phía Nam rõ hơn ngoài Bắc, đồng bằng rõ hơn miền núi. Nếu lấy
các đô thị làm tâm và theo chiều từ đô thị về nộng thôn, về tiếp các vùng sâu, cùng xa thì
sự phân hóa ở đô thị diễn ra mạnh nhất, càng lan tỏa ra các vùng nông thôn xung quanh,
sự phân hóa càng yếu dần và hầu như còn phẳng lặng ở vùng miền núi.
2.1.4. Khác biệt về khu vực kinh tế.
Phân tầng mức sống liên quan đặc biệt rõ rệt theo các khu vực kinh tế. Phần lớn người
Tóm lại: Hiện trạng phân tầng xã hội ở VN là rất đặc trưng cho thời kì đầu chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà
nước xã hội chủ nghĩa.
2.2. Nguyên nhân cơ bản của phân tầng xã hội
Có hàng loạt nguyên nhân dẫn đến phân tầng xã hội, đặc biệt là các nguyên nhân
kinh tế - xã hội như: sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu nghề nghiệp,
trình độ học vấn, vai trò của quyền lực, tính chất độc quyền hoặc có ưu thế của một số
ngành, lĩnh vực hoạt động,
Trước hết, đó là tác động của quá trình thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện
cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.
Về kinh tế, việc chú trọng và tập trung quá mức các hình thức đầu tư vào đô thị và
công nghiệp, tác động của việc tập trung đất đai ở một số vùng, việc sử dụng không hợp
lý các nguồn lực trong và ngoài nước vì lợi ích của một số vùng đô thị, sự hình thành
những người hưởng lợi trung gian và nhóm đặc quyền đặc lợi, những cản trở ngại lớn đối
với các doanh nghiệp địa phương và nông thôn trong việc tiếp cận tới thị trường là những
yếu tố có tác động nhất định đến phân tầng xã hội.
Việc thị trường hoá các dịch vụ xã hội (đặc biệt sự phát triển các dịch vụ tư nhân
trong giáo dục và y tế) đã gây tác động tiêu cực, làm tăng cường sự phân tầng xã hội, đặc
biệt đối với nhóm nghèo.
Học vấn được thừa nhận là một yếu tố tác động quan trọng đối với sự phân tầng xã
hội. Bên cạnh đó, hai yếu tố tác động khác, rất quan trọng là quyền lực và môi trường
pháp ý hiện nay ở nước ta.
Quyền lực ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả quyền lực kinh tế (các
nguồn lực, đặc biệt là tiền vốn), hành chính, chính trị, xã hội (các quan hệ). Trong nhiều
trường hợp, các quyền lực này thường được kết hợp với nhau, cùng phát huy sức mạnh
và kết quả là đã hình thành nên một “tầng lớp trung lưu” mới. Đã quan sát thấy một số
gia đình hội nhập được nhiều nguồn lực để gia nhập nhóm trung lưu trong một thời gian
ngắn.
Môi trường pháp lý ở Việt Nam rõ ràng là còn chưa hoàn thiện, chưa ổn định và
có nhiều khiếm khuyết. Nhiều đạo luật còn thiếu đang được bổ sung. Những cái đã có
hướng xã hội chủ nghĩa, và theo đuổi những nguyên tắc công bằng xã hội. Và một khi
những bất bình đẳng xã hội vượt quá mức hạn hợp lý của chúng sẽ có thể gây nên những
bất ổn định, tiêu cực và xung đột xã hội.
b) Trong điều kiện quá độ sang nền kinh tế thị trường, hiện tượng phân tầng xã hội
thường có những biểu hiện bột phát, cực đoan. Sự đối lập, đôi khi đến mức tương phản 2
cực giàu - nghèo trong đời sống cũng đặt ra nhiều vấn đề mà xã hội phải có trách nhiệm
lưu tâm.
Xuất hiện những nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong cơ chế thị trường. Những hộ
nghèo, phụ nữ, trẻ em, người già, dân nhập cư tự do, Và đặc biệt khi nhóm người nghèo
lại rơi vào một số gia đình là đối tượng quan tâm của các chính sách xã hội thì vấn đề
càng trở nên phức tạp hơn.
c) Trên bình diện lối sống, phân tầng xã hội góp phần tạo ra sự đa dạng trong các
hình mẫu lối sống. Đáng lưu ý là sự phát triển của lối sống tiêu dùng trong bộ phận dân
cư khá giả, đặc biệt trong nhóm giàu “mới”. Trong khi đó nhóm người nghèo bị bần cùng
hoá, cũng sẽ hành động không như xã hội mong đợi. ở cả hai cực của sự phân hoá đó đều
chứa đựng nguy cơ tiềm tàng gây ra những bất ổn định xã hội.
d) Và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là những tác động về mặt tư
tưởng, tâm lý, niềm tin về công bằng xã hội, một khái niệm vốn gắn bó với mô hình của
nghĩa xã hội trước đây trong một bộ phận dân cư (người già, người về hưu, các gia đình
chính sách, ). Bên cạnh đại đa số chấp nhận tính tất yếu của sự phân tầng xã hội, vẫn
còn một bộ phận dân cư coi đó là hiện thượng không bình thường, khó chấp nhận và dễ
tạo ra một tâm lý xã hội bi quan trước tác động của cơ chế thị trường.
Phân tầng xã hội với hai mặt tích cực và tiêu cực nêu trên, vừa là kết quả của sự phát
triển kinh tế - xã hội, sự phân công lao động trong cơ chế thị trường, vừa là động lực vừa
là lực cản của quá trình đó, tùy thuộc vào năng lực quản trị xã hội của hệ thống quản lý
xã hội. Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu rộng hơn về phân tầng xã hội, qua
đó giúp cơ quan quản lý hiểu rõ hơn xu hướng vận động của cơ cấu xã hội với các giai
tầng khác nhau trong nền kinh tế thị trường, từ đó có những chính sách, giải pháp quản trị
phù hợp, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, bảo đảm sự ổn định và phát triển
xã hội bền vững.
công cộng, tạo dựng môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế, đầu tư có mục tiêu xã hội. Chẳng hạn những khoản đầu tư để duy trì các xí
nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ sẽ được chuyển sang đầu tư cho phát triển cơ sở hạ
tầng nông thôn hoặc trợ giúp phát triển nông nghiệp ở những vùng khó khăn.
Phát triển con người là yếu tố quan trọng bậc nhất để đảm bảo tăng trưởng kinh tế và
giảm nghèo đói. Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia cũng như cơ sở đảm bảo cho sự
phát triển bền vững trong những thập kỷ tới phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển
con người ở mỗi nước. Sự phân hoá giàu nghèo cũng có nguyên nhân một phần bởi sự
khác biệt về trình độ học vấn nói riêng và sự phát triển con người (bao gồm cả thể chất và
tinh thần) nói chung.
Phát triển con người cũng cần nhìn từ hai phía: vừa phải xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ
người nghèo, đặc biệt cho các nhóm thiệt thòi, đồng thời phải khuyến khích sự vượt trội,
làm giàu chính đáng, hợp pháp, góp phần tạo lực đẩy cho sự tăng trưởng kinh tế và phát
triển con người. Nguyên tắc là hỗ trợ, nâng đỡ các nhóm xã hội bị thiệt thòi, không có lợi
thế, song lại không được làm thui chột động lực kích thích những nhóm có ưu thế hay
những nhóm vượt trội tiếp tục phát triển lành mạnh, đúng hướng và hợp pháp.
Nâng cao học vấn và dân trí là một biện pháp có ý nghĩa trước mắt và lâu dài. Tăng
cường đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp bao gồm cả tái đào tạo nghề nghiệp người giúp
cho người trong độ tuổi lao động có thể dễ dàng thích ứng với những đòi hỏi thường
xuyên biến đổi của thị trường lao động.
Cải cách giáo dục toàn diện nhằm làm cho hệ thống giáo dục gắn liền với yêu cầu phát
triển của đất nước. Tăng cường đầu tư cho giáo dục bằng nhiều nguồn khác nhau, trong
đó đầu tư từ ngân sách cần tăng lên tới mức 15% - 25% như các nước khác.
Phát triển nông thôn là một trong những biện pháp, chính sách đặc thù mang tính ưu
tiên ở nước ta. Nhìn từ góc độ tăng trưởng và công bằng xã hội bao gồm:
- Khuyến khích đa dạng hoá nông nghiệp nhằm tạo ra nhiều việc làm phi nông
nghiệp, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.
- Ưu tiên đầu tư vào kỹ thuật nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn.
- Khuyến khích dịch chuyển lao động ra khỏi ngành nông nghiệp.
- Phát triển công nghiệp nông thôn, chú trọng xây dựng các điểm đô thị ở các vùng
làm giàu bất hợp pháp; chống tham nhũng và phát huy dân chủ cũng là những giải pháp
nhằm tạo lập cơ sở xã hội và thể chế cho tăng trưởng trong công bằng.
KẾT LUẬN
Nhìn chung, khi nói về thực trạng phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay, có thể khẳng
định rằng: đang tồn tại khá phổ biến sự phân tầng xã hội theo mức sống, thu nhập. Tính
phổ biến của hiện tượng thể hiện ở chỗ: sự phân tầng diễn ra ở mọi địa bàn ( đô thị, nông
thôn, vùn miền địa lý- lạnh thổ) trong suốt quá trình phát triển và trong mọi bộ phận hợp
thành của cơ cấu xã hội.
Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu PTXH ở Việt Nam trong đề tài này mới
chỉ là nghiên cứu về sự phân hoá giàu nghèo, khoảng cách giữa các nhóm theo chỉ báo
kinh tế, thu nhập, mức sống. Tức là, nhóm mới chỉ nghiên cứu về hệ thống phân tầng
theo địa vị kinh tế, tuy nhiên đây là hệ thống phân tầng cơ bản và có ảnh hưởng lớn tới
hai lĩnh vực phân tầng còn lại( địa vị chính trị và địa vị xã hội). Và từ đó chúng ta cũng
có thể thấy được phần nào tình hình phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay, những vấn đề
cần đặt ra và một số giải pháp hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ phân tầng xã hội
mang lại.
Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình Xã hội học_ Lê Tất Dong, Lê Ngọc Hùng.
- Tổng cục thống kê: số liệu về khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2012.
- Các webside: dantri.com.vn, nld.com.vn, baodientu.chinhphu.vn, luanvan.net.vn,…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ THẢO LUẬN
Môn: Xã hội học đại cương.
Nhóm: 02
ST
T
Họ tên Công việc Điểm tự
đánh giá
Nhóm