Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh bắc ninh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THỊ MINH HƯỜNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH BẮC NINH

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN HẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHAN THỊ THANH HUYỀN

Hà Nội, 2019

1


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS.Phan Thị Thanh Huyền. Các số liệu, những kết luận
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực. Tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên

Mai Thị Minh Hường

2


Bảo hiểm thất nghiệp

TCTN

Trợ cấp thất nghiệp

HĐLV

Hợp đồng làm việc

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

BHXH

Bảo hiểm xã hội

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

NLĐ

Người lao động

UBND

Ủy ban nhân dân


C


5


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Thất nghiệp là hiện tượng khách quan và được biểu hiện như một đặc trưng vốn có
của kinh tế thị trường.Thất nghiệp có tác động lớn đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính
trị và xã hội của mỗi quốc gia.Thất nghiệp có thể khiến NLĐ vào tình cảnh túng quẫn,
lãng phí nguồn lực xã hội, gia tăng tỷ lệ tội phạm, là một trong những nguyên nhân cơ bản
khiến nền kinh tế bị đình trệ. Do đó, BHTN là một trong những chính sách quan trọng
hàng đầu trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp. BHTN được xây dựng và thực hiện
với mục đích bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm, đồng thời tạo điều
kiện để NLĐ có cơ hội tìm kiếm được việc làm mới trong thời gian sớm nhất.

Việt Nam là quốc gia thực hiện chính sách về BHTN tương đối muộn so với
nhiều quốc gia khác trên thế giới.Năm 2006, BHTN lần đầu tiên ở Việt Nam được quy
định trong Luật bảo hiểm xã hội và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 và tiếp tục
được hoàn thiện bởi Luật việc làm năm 2013. Về cơ bản, pháp luật BHTN đã góp phần
đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ bị mất việc làm đồng thời cũng giúp NSDLĐ san
sẻ được gánh nặng tài chính, họ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết chế
độ cho NLĐ. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện pháp luật về BHTN đã bộc lộ một
số hạn chế không chỉ về các quy định pháp luật mà còn trong thực tiễn thực hiện. Đó là
những bất cập về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, thủ tục thực hiện, các hoạt
động hỗ trợ học nghề, tư vấn – giới thiệu việc làm...

nêu lên vấn đề thất nghiệp và BHTN, cũng như yêu cầu xây dựng chế độ BHTN ở Việt
Nam.Luận án tiến sĩ luật học “Chế độ BHTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
(2005) của tác giả Lê Thị Hoài Thu đã đi sâu nghiên cứu và trình bày một cách hệ thống
những nội dung chủ yếu của chế độ BHTN, những yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng
chế độ BHTN ở Việt Nam, đồng thời có sự so sánh với quy định của Tổ chức lao động
quốc tế (ILO) và một số nước trên thế giới. Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các
tạp chí khoa học pháp lý như: “Đánh giá kết quả 7 năm thực hiện bảo hiểm thất
nghiệp” của tác giả Trương Thị Thu Hiền đăng trên tạp chí Quản lý Nhà nước số6/2016;
“Chính sách bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam –

Những bất cập và khuyến nghị” của tác giả Tạ Thị Hương đăng trên Quản lý Nhà
nước số6/2013 ; “Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện chính sách BHTN” của
tác giả Trương Thị Thu Hiền đăng trênTạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21/2017…
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về pháp luật BHTN và thực tiễn thực hiện trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh thì hiện chưa có công trình nghiên cứu những năm gần đây đặc biệt
2


là từ khi Luật việc làm năm 2013 có hiệu lực đề cập. Hơn thế do pháp luật BHTN là
vấn đề khó, là đối tượng nghiên cứu của cả khoa học kinh tế và khoa học pháp lý, nên
trong khóa luận em có sử dụng những tư liệu, bài viết và những công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học đã có nghiên cứu về BHTN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về BHTN.

- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về Bảo hiểm thất
nghiệp.
-

-

Phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được

sử dụng với tư cách là phương pháp luận cho việc nghiên cứu.
- Những phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, xã hội phù hợp với từng
vấn
đề của đề tài cũng được vận dụng như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, quy
nạp, đối chiếu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về BHTN
cũng
như pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN qua thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh, từ đó xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực
hiện BHTN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.


3


-

Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng kiến thức của pháp luật bảo hiểm xã hội, BHTN vào

giải quyết các vấn đề cụ thể trong thực tế. Đề tài cũng góp một phần để sử dụng làm
tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên các trường Đại học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp và pháp

lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định để đạt được sự cân
bằng của hệ thống kinh tế.” Theo ông nạn thất nghiệp tồn tại dưới đạng bắt buộc mà
trong đó “tổng cung về lao động của những NLĐ muốn làm việc với tiền lương danh
nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có.”
Samuelson – một trong số các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra lý thuyết mới về
thất nghiệp: “Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao
động xã hội, bị tác khỏi tư liệu sản xuất. Và trong nền kinh tế thị trường, luôn luôn tồn tại
một bộ phận NLĐ bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất

5


nhiều vào khả năng giải quyết việc làm của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ
đối với giới chủ.”
Điều 20, Công ước 102 (1952) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra
khái niệm thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là hiện tượng NLĐ bị ngừng thu nhập do
không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả
năng làm việc và sẵn sàng làm việc”.
ỞViệt Nam, từ các góc độ khác nhau, có những quan niệm về thất nghiệp
khác
nhau. Văn bản đầu tiên ghi nhận thuật ngữ ‘thất nghiệp” là Điều 76, Sắc lệnh 29/SL
ngày 12/3/1947: “Nếu người cha mất đi, thất nghiệp, hay coi như mất tích, thì người
mẹ sẽ được lĩnh phụ cấp”.Tuy nhiên, ở Sắc lệnh này lại không hề nói đến định nghĩa
thất nghiệp. Theo sau đó, một loạt các văn bản pháp luật ra đời đề cập đến thuật ngữ
“thất nghiệp” nhưng lại không nêu ra được cụ thể thế nào là thất nghiệp bao gồm cả
Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Luật Việc làm 2013”[18]. Một số nhà nghiên cứu khoa
học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về thất nghiệp như: Theo tác giả Phạm Quý
Thọ: “Thất nghiệp là một trạng thái trong đó NLĐ trong tuổi lao động, có khả năng
và nhu cầu lao động mà không có việc làm. Người thất nghiệp là người hiện không có
việc làm hoặc đang tìm việc làm”.“Thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao

đề, trong đó quan trọng nhất là xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh của chế độ BHTN.

Trên cơ sở quan điểm thất nghiệp của tổ chức lao động quốc tế (ILO), Văn
phòng lao động quốc tế đã đưa ra khái niệm về người thất nghiệp như sau: “Người
thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc hoặc đã có việc làm
những đã thôi việc và đang cần tìm việc làm có thu nhập”.Theo đó, ILO đã đưa ra bốn
tiêu chí cơ bản để xác định “người thất nghiệp” đó là: trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm.
Theo Điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội 2006 sửa đổi bổ sung năm 2014: “Người thất
nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt
HĐLĐ, HĐLV nhưng chưa tìm được việc làm” [22, khoản 4 điều3]. So với quan điểm
của ILO được các quốc gia trên thế giới áp dụng thì khái niệm này bộc lộ hạn chếlàphạm

vi xác định người thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay quá hẹp. BHTN chỉ là
một trong những chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước hoạt động theocơ
chế bảo hiểm, do đó không thể coi việc tham gia BHTN là một chuẩn chung để đánh giá
tình trạng việc làm của tất cả lao động trong xã hội. Điều này đã tạo nên một giới hạn, chỉ
những người thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về BHTN mà không có việc làm
mới được coi là người thất nghiệp, xét cho cùng cho dù họ có đóng bảo hiểm thất

7


nghiệp hay không thì về bản chất họ vẫn là người thất nghiệp. Với việc xác định nội
hàm khái niệm người thất nghiệp chắc chắn con số thống kê về số người thất nghiệp sẽ
không bao giờ đúng với thực tế, nếu như không muốn nói là quá nhỏ so với thực tế và
kết quả là sẽ rất khó cho các nhà hoạch định chính sách khi đưa ra những giải pháp để
khắc phục tình trạng thất nghiệp của quốc gia.
Do vậy theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu: “Người thất nghiệp là những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trongkhoảng thời gian xác định

mức tiền lương cân bằng, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bộ phận lao động yếu thế trên
thị trường. Mức tiền lương này do Chính phủ ấn định hoặc do sức ép của công đoàn,
nghiệp đoàn.

8


-

Thất nghiệp do áp dụng công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản

xuất, máy móc thiết bị thay thế con người, chỉ cần một số ít người vận hành, một bộ

phận NLĐ trong các dây chuyền sản xuất bị dôi ra, trở thành thất nghiệp công nghệ.
-

Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự mất cân đối giữa nhu cầu

sử dụng lao động và cơ cấu của lực lượng lao động, hay nói cách khác là lượng cung lao

động vượt lượng cầu về lao động. Các nguyên nhân dẫn đến cung lao động vượt cầu
lao động: do thay đổi cơ cấu kinh tế, do lao động được đào tạo không đáp ứng được
nhu cầu thị trường lao động, do luật tiền lương tối thiểu làm mất cân đối giữa cung và
cầu cục bộ trên thị trường lao động[18].
-

Thất nghiệp theo chu kì: Đây là loại thất nghiệp phát sinh do nền kinh tế lâm vào

tình trạng suy thoái, tổng cầu thấp dẫn đến tình trạng không có nhu cầu sử dụng lao


9


1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp.
Thứ nhất, nguyên nhân là do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi: theo chu kỳ
phát triển kinh tế, sau hưng thịnh đến suy thoái, khủng hoảng. Ở thời kỳ hưng thịnh,
sản xuất được mở rộng, nguồn nhân lực xã hội được huy động vào sản xuất, nhu cầu
về sức lao động tăng nhanh nên thu hút nhiều lao động. Ngược lại, ở thời kỳ suy thoái,
sản xuất đình trệ, cầu lao động giảm, không những không tuyển thêm lao động mà còn
dư thừa lao động, gây nên tình trạng thất nghiệp.
Thứ hai, do sự gia tăng dân số: đây là nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng
thất nghiệp trong dài hạn. Dân số gia tăng hàng năm sẽ bổ sung một lực lượng lao
động rất lớn vào nguồn lực lao động của mỗi quốc gia. Dân số càng tăng và tốc độ gia
tăng càng nhanh thì lực lượng lao động dư thừa sẽ càng lớn. Thêm vào đó, quá trình
quốc tế hóa và toàn cầu hóa cũng có tác động tiêu cực đến thị trường lao động làm một
bộ phận NLĐ bị thất nghiệp. Nguyên nhân này thường xuất hiện phổ biến ở các nước
đang phát triển và chậm phát triển, những nước luôn có tỷ lệ gia tăng dân số cao.Đây
cũng chính là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng thất nghiệp ở Việt
Nam, cũng như ở nhiều nước đang phát triển khác.
Thứ ba, thất nghiệp là do những thay đổi trong xu thế cung cầu trong nền kinh
tế thị trường. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế luôn có sự thay đổi liên tục. Có
những ngành nghề trở thành xu hướng, nhu cầu chung của xã hội, có những ngành
nghề lại trở nên lạc hậu, không còn phù hợp. Khi đó, lực lượng lao động theo đó cũng
có sự dịch chuyển ngành nghề dẫn đến thất nghiệp.
Thứ tư, do sự thay đổi cơ cấu ngành nghề: ở từng thời kỳ, sự phát triển kinh tế
có thể dẫn tới thay đổi cơ cấu kinh tế. Theo đó, cơ cấu của một số ngành nghề thay đổi.
Những ngành nghề làm ăn có hiệu quả hoặc cần phải được mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh hoặc xuất hiện ngành nghề mới sẽ tạo cơ hội thu hút thêm nhiều lao động.
Nhưng lại có những ngành nghề phải thu hẹp sản xuất, phải sa thải NLĐ và một bộ
phận NLĐ bị thất nghiệp.

cũng không kém quan trọng đó là NLĐ không còn đủ sức khỏe để đảm đương công
việc đang làm phải tìm kiếm công việc khác phù hợp hơn.
1.1.4. Tác động của thất nghiệp đối với xã hội
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế
– xã hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là kết quả.Ngược lại, thất
nghiệp có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Thất nghiệp

11


không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân NLĐ và gia đình họ mà còn tác động
mạnh mẽ tới tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia. Cụ thể:
Thứ nhất, đối với nền kinh tế: Thất nghiệp chính là sự lãng phí nguồn lực xã
hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm
phát triển. Vì khi đó có một bộ phận NLĐ trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động nhưng vì lý do khách quan không có việc làm thì dĩ nhiên sức sản xuất trong
nước và thu nhập quốc dân thấp hơn so với khi mọi người đều có việc làm. Ngoài ra,
khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau,
đôi khi tạo thành vòng luẩn quẩn không thoát ra được.Bên cạnh đó, thất nghiệp có thể
làm cho xã hội bất ổn.Đến lượt nó làm cho kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng trầm
trọng hơn và có khả năng phục hồi chậm.
Thứ hai, đối với bản thân NLĐ và gia đình: Thất nghiệp có thể gây ra những hậu
quả rất trầm trọng. Bởi vì khi bị mất việc làm thường đồng nghĩa với việc mất đi nguồn
thu nhập chủ yếu và khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng. Hậu quả
là họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn chung của xã hội. Sau
đó nếu không có sự trợ giúp nào khác thì phải vay nợ và nếu kéo dài sẽ dẫn đến nợ nần
chồng chất. Sự tác động vào thu nhập cho gia đình phụ thuộc vào tiền thất nghiệp của bản
thân họ nhận được cũng như thu nhập của những thành viên khác trong gia đình còn việc
làm. Nạn thất nghiệp không chỉ là hậu quả về tài chính mà còn là hậu quả về khả năng
nghề nghiệp.Khi thất nghiệp kéo dài, hậu quả là họ bị mất đi khả năng nâng cao trình độ

một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về bảo hiểm xã hội và BHTN,
chẳng hạn như ở Mỹ năm 1935, Canađa vào năm 1939. Khi chiến tranh thế giới lần
thứ II kết thúc, đặc biệt là khi có Công ước số 102 (1952) của Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) thì nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai BHTN và TCTN.
Theo công ước 102 (1952) của Tổ chức lao động quốc tế thì BHTN là một trong
9 nhánh của bảo hiểm xã hội. Cùng với các chế độ khác, BHTN nâng cao khả năng bảo
vệ NLĐ của hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội. Với tính chất chia sẻ giữa những đối

tượng tham gia, BHTN hỗ trợ một khoản tài chính giúp NLĐ thất nghiệp đảm bảo ổn
định cuộc sống; sớm đưa lao động thất nghiệp tìm được việc làm ổn định thông qua
các hoạt động đào tạo, tư vấn, hỗ trợ học nghề.
Cùng với sự phát triển nền kinh tế xã hội và sự quan tâm đến các vấn đề về BHTN,
khái niệm “thất nghiệp” và “người thất nghiệp” đã không còn xa lạ đối với người dân
Việt Nam. Đối với một quốc gia được xếp vào loại dân số trẻ với nguồn nhân lực dồi dào
nhưng lại bị mất cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị trường lao

13


động, tình trạng cung lao động lớn hơn cầu lao động cả về quy mô và cơ cấu cũng như
việc phân bổ lao động không đồng đều giữa các ngành, các địa phương như ở nước ta
thì sự gia tăng của tình trạng thất nghiệp là không thể tránh khỏi. Thất nghiệp không
chỉ đe dọa tới đời sống của NLĐ nói riêng mà còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực
đối với quốc gia và toàn xã hội nói chung.


Việt Nam, theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì BHTN được

hiểu là “sự đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ trong trường hợp bị


là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những
lao động thất nghiệp tìm được việc làm mới thích hợp và ổn định.
Như vậy, có thể hiểu “bảo hiểm thất nghiệp là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ
tiền tệ tập trung (Quỹ bảo hiểm thất nghiệp) được hình thành do sự đóng góp của các
bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm hỗ trợ tài chính tạm
thời dành cho những người bị mất việc làm mà đáp ứng yêu cầu luật định”.

1.2.2. Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp
Xuất phát từviệc phân tích khái niệm BHTN chúng ta có thểthấy BHTN mang
một sốđặc điểm chung của một chếđộnằm trong BHXH đồng thời nó cũng mang một
sốđặc điểm đặc thù khác có tính chất của chếđộviệc làm, góp phần tạo nên một
sựthống nhất trong quan hệcủa chếđộan sinh xã hội với vần đềviệc làm.
Thứ nhất, BHTN xuất phát từ quan hệ lao động nhưng khi thực hiện lại chủ
yếu thuộc về lĩnh vực việc làm. Việc thực hiện chi trả TCTN luôn được gắn liền với
vấn đề giải quyết việc làm cho NLĐ, BHTN do đó vừa có chức năng hỗ trợ khó khăn
cho người thất nghiệp khi tạm thời mất thu nhập vừa có chức năng xúc tiến những hoạt
động tìm kiếm và tạo việc làm cho NLĐ.
Thứ hai, BHTN không chỉ thu và chi trả TCTN mà còn thực hiện các biện pháp để
đưa NLĐ trở lại thị trường lao động. Do đó, cơ quan BHTN vừa có trách nhiệm đăng ký
thất nghiệp vừa phải kịp thời nắm bắt các thông tin về thị trường lao động để giới thiệu
việc làm, đào tạo nghề phù hợp cho người thất nghiệp. Đây là điểm khác biệt giữa hoạt
động quản lý thất nghiệp với các loại hình bảo hiểm xã hội khác [28]. Như vậy khác với
cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội thông thường chỉ thực hiện chức năng thu, chi bảo hiểm
xã hội, các cơ quan quản lý BHTN còn phải tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm giải
quyết việc làm, bên cạnh các nghiệp vụ bảo hiểm xã hội thuần túy.

Thứ ba, đối tượng hưởng BHTN là những người trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động nhưng đang trong tình trạng không có việc làm, không có thu nhập và
đang tìm kiếm việc làm. Đối tượng hưởng BHTN là những người đang không tham gia
15

độ khác của BHXH, mang bản chất đặc trưng của chế độviệc làm. Ngoài ra, NLĐ bị
thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ BHTN như được đóng bảo hiểm
y tế trong thời gian bị thất nghiệp hay được bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề
để duy trì việc làm cho NLĐ. Đây là một trong giải pháp hữu hiệu trong việc phòng
ngừa từ xa tình trạng thất nghiệp có thể xảy ra.
16


-

Đối với người sử dụng lao động:

Đối với NSDLĐ, gánh nặng tài chính của họ sẽ được san sẻ khi những NLĐ tại
doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết
chế độ cho NLĐ. Đặc biệt, trong những thời kỳ khó khăn, buộc phải thu hẹp sản xuất,
nhiều NLĐ thất nghiệp. Kể từ khi pháp luật về bảo thất nghiệp ra đời, đối với những
trường hợp chấm dứt HĐLĐ, BHTN đã phần nào san sẻ bớt gánh nặng cho những
NSDLĐ. Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ giải quyết vấn đề trợ cấp cho NLĐ khi nghỉ
việc mà còn hỗ trợ NSDLĐ trong việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề
cho NLĐ nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động[18].
-

Về mặt kinh tế:

Khi tham gia quan hệ lao động, NLĐ muốn tìm kiếm công việc tốt, thu nhập ổn
định cao, đúng với chuyên môn kỹ thuật hoặc ít nhất là có việc làm, có thu nhập đủ để duy
trì cuộc sống gia đình bình thường. Nếu không may vì một lý do nào đó mà họ bị mất việc
làm thì điều này sẽ gây khó khăn về tài chính cho gia đình cũng như bản thân họ. Nếu có
chế độ TCTN thì những khó khăn này có thể giải quyết phần nào vì khoản tiền TCTN là
khoản được sử dụng để giúp NLĐ có được cuộc sống tương đối ổn định sau khi bị mất


ý nghĩa rất to lớn về mặt chính trị.Bất kỳ một quốc gia nào, vào thời gian nào cũng tồn
tại một đội quân thất nghiệp tuy mức độ và tỷ lệ là khác nhau. Thường trong giai đoạn
hưng thịnh của nền kinh tế thì tỷ lệ thất nghiệp thấp và trong giai đoạn khủng hoảng thì tỷ
lệ này là cao. Khi NLĐ bị mất đi nguồn thu nhập do mất việc làm, đời sống lâm vào hoàn
cảnh khó khăn, sẽ khiến cho họ mất đi lòng tin đối với Nhà nước, gây ra những hậu quả
khó lường trước, thậm chí dẫn tới sự sụp đổ của một chế độ, một quốc gia. Do đó, bảo
hiểm thất nghiệp được thực hiện sẽ góp phần ổn định chính trị của đất nước.

-

Về mặt pháp lý:
Theo Công ước số 102 năm 1952 của ILO thì TCTN là một trong chín nhánh của

bảo hiểm xã hội. Với sự ra đời của loại hình bảo hiểm này thì quyền được bảo hiểm của
con người đã được nâng lên một bước. Việc hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội là việc
làm hết sức cần thiết vì quyền được bảo hiểm xã hội là một trong những quyền cơ bản của
con người. Trong tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hiệp quốc thông qua ngày
10/12/1948: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng
bảo hiểm xã hội. Quyền đó được đặt trên cơ sở sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội
và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”và ngoài ra Điều 25
có ghi: “Mỗi người có quyền có một mức sống cần thiết cho việc giữ gìn sức khỏe cho
bản thân và gia đình, có quyền được bảo đảm trong trường hợp thất nghiệp”. Việc làm và
giải quyết việc làm nhằm hạn chế thất nghiệp cũng là một phạm trù thuộc quyền con
người. Điều 3 tuyên ngôn nhân quyền nhấn mạnh: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự
do chọn nghề, được có những điều kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status