Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ QUỲNH TRANG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Quang Huy

Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Hữu Chí
Phản biện 2: TS. Nguyễn Xuân Thu

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội vào lúc: 11 giờ, ngày 12 tháng
10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện học viện Khoa học xã hội


MỞ ĐẦU

đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật bảo
hiểm xã hội tự nguyện và nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm xã
hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Với mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ nghiên cứu
được xác định trên những nội dung chủ yếu sau:
-

Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội
tự nguyện.

-

Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về bảo hiểm xã
hội tự nguyện để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật về lĩnh vực này.

-

Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội
tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

-

Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo
hiểm xã hội tự nguyện và nâng cao hiệu quả thực hiện tại
tỉnh Thái Nguyên.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp
luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thi hành trên địa bàn


Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội tự
nguyện và pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

-

Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
và thực tiễn thi hành tại tỉnh Thái Nguyên.

-

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại
tỉnh Thái Nguyên.

3


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ
NGUYỆN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỰ NGUYỆN
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện
Có thể hiểu một cách khái quát về bảo hiểm xã hội tự
nguyện như sau: bảo hiểm xã hội tự nguyện là một hình thức bảo
hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức và quản lý hoặc do cộng đồng
NLĐ tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các thành viên nhằm
đảm bảo thu nhập để thỏa mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu của
NLĐ và gia đình họ khi gặp phải những rủi ro làm giảm hoặc mất

quỹ và các nguồn thu khác. Do xuất phát từ đặc điểm của đối tượng
tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nên quỹ BHXH tự nguyện
không có sự đóng góp của NSDLĐ. Đây là đặc điểm khác biệt so
với loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc có sự tham gia của phía
NSDLĐ.
-

BHXH tự nguyện không thực hiện tất cả các chế độ bảo

hiểm xã hội mà chỉ thực hiện một số chế độ nhất định phù hợp với
điều kiện của NLĐ và tình hình kinh tế - xã hội của nước ta. Hiện
nay bảo hiểm xã hội tự nguyện có hai chế độ là chế độ hưu trí và tử
tuất (bảo hiểm xã hội bắt buộc có năm chế độ).
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thứ nhất, BHXH tự nguyện có vai trò quan trọng đối với
NLĐ. Do đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là những
NLĐ tự do, hầu như không có quan hệ lao động với người sử dụng
lao động, thu nhập thường không ổn định như: nông dân, người
kinh doanh, buôn bán tự do…
Thứ hai, việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn giúp
NLĐ có ý thức trong việc tiết kiệm đầu tư những khoản nhỏ, đều
đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chỉ dùng khi già yếu, mất sức
lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình.
Thứ ba, bảo hiểm xã hội tự nguyện tạo ra cơ chế chia sẻ rủi
ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội, cùng truyền thống đoàn kết, gắn
bó giữa các thành phần trong xã hội và góp phần thực hiện công
bằng xã hội, phân phối lại thu nhập xã hội trên cơ sở sự tương trợ
để thiết lập hệ thống an sinh xã hội bền vững.
1.2. Khái quát về pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

6


Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là người
đóng góp phí bảo hiểm xã hội để bảo hiểm cho mình hoặc cho
người khác để được BHXH. Đối tượng chủ yếu đóng góp vào quỹ
bảo hiểm xã hội tự nguyện là NLĐ. Người sử dụng lao động không
đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện, đây là điểm khác biệt
so với BHXH bắt buộc có sự tham gia của phía người sử dụng lao
động.
1.2.3.2. Mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự
nguyện
Mức đóng
Mức đóng BHXH tự nguyện xác định trên cơ sở thu nhập
của đối tượng tham gia tiềm năng, đây là điểm khác biệt giữa
BHXH tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc (mức đóng bảo hiểm
xã hội bắt buộc xác định trên cơ sở tiền lương).
Phương thức đóng
Phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện có thể được
thực hiện thông qua dịch vụ ngân hàng, thẻ điện tử, nộp tại các cơ
quan BHXH cơ sở hay có thể được nhân viên đến thu tại địa chỉ
đăng kí. Đồng thời, phương thức đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo
hiểm xã hội tự nguyện được quy định cụ thể là NLĐ được lựa chọn
đóng hằng tháng, 03 tháng, 06 tháng hay 12 tháng một lần (khoản 2
Điều 87 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014).
1.2.3.3. Các chế dộ bảo hiểm xã hội tự nguyện
Theo ILO không giới hạn các chế độ BHXH tự nguyện, tuy
nhiên, các chế độ của bảo hiểm xã hội tự nguyện được khuyến nghị
nên bao gồm các chế độ dài hạn như hưu trí và tử tuất, đặc biệt là
chế độ hưu trí. Khi xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội thì chế độ

riêng và toàn bộ xã hội nói chung, góp phần củng cố bền vững các
chế độ an sinh xã hội. Đối tượng của bảo hiểm xã hội tự nguyện là
những NLĐ thuộc mọi thành phần kinh tế trừ các đối tượng thuộc
diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Theo pháp luật hiện hành,
BHXH tự nguyện có hai chế độ là hưu trí và tử tuất.
Pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về đối tượng tham gia,
các chế độ được hưởng quỹ BHXH tự nguyện; công tác quản lý và
tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện; công tác thu chi,
thanh tra kiểm tra,... tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong việc
hình thành và phát triển loại hình bảo hiểm xã hội này.

9


Chương 2
2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ
NGUYỆN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI
3.

TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1. Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
2.1.1. Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội
năm 2014, Điều 2 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP và Thông tư số
01/2016/TT-BLĐTBXH: Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc
đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội, bao gồm:

những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản
thân và gia đình;

10


-

Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ

điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội;
-

Người tham gia khác.

2.1.2. Về các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện
2.1.2.1. Chế độ hưu trí
Ở Việt Nam, chế độ hưu trí luôn có vị trí quan trọng đặc
biệt đối với người tham gia BHXH. bảo hiểm xã hội tự nguyện triển
khai chế độ hưu trí đã đáp ứng mong muốn, nguyện vọng của phần
lớn NLĐ tự do, công việc không ổn định, đời sống bấp bênh, quan
hệ lao động với người sử dụng lao động ngắn hạn và không có sự
đóng góp, hỗ trợ từ phía người sử dụng lao động. Họ tự nguyện
tham gia và mong muốn được tham gia để hưởng các chế độ BHXH
tự nguyện.
2.1.2.2. Chế độ tử tuất
Bảo hiểm xã hội tự nguyện quy định chế độ tử tuất nhằm
mục đích hỗ trợ kinh phí cho gia đình NLĐ khi NLĐ tham gia bảo
hiểm xã hội tự nguyện chết. Việc hỗ trợ kinh phí góp phần giúp gia

Phần quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện nhàn rỗi cần được đầu tư sinh
lời để tăng thu và phát triển quỹ, hạn chế sự lãng phí về nguồn lực.
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH tự nguyện phải đảm bảo
an toàn, hiệu quả và thu hồi vốn khi cần thiết.
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại
tỉnh Thái Nguyên
2.2.1. Những kết quả đạt được
Số người tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên liên tục tăng qua các năm. Năm 2014 cả tỉnh có 2.117
người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, năm 2015 cả tỉnh có
2.931 người tham gia, năm 2016 có 3.284 người tham gia, tính đến
hết tháng 6 năm 2017 hiện nay tỉnh Thái Nguyên có tổng số 3.578
người tham gia BHXH tự nguyện. Tổng số người tham gia bảo
hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện là 215.081
người.
12


Tuy nhiên đây vẫn là con số rất thấp, mức tăng hằng năm
không nhiều, cả tỉnh hiện có khoảng 800.000 người trong độ tuổi
lao động, trong đó tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 211.503
người, như vậy còn khoảng gần 600.000 người chưa tham gia
BHXH là tiềm năng lớn cho bảo hiểm xã hội tự nguyện. Song thực
tế cho thấy, tính đến tháng 6 năm 2017 số người tham gia BHXH tự
nguyện chỉ là 3.578 người, chiếm khoảng 0,6% của con số 600.000
người.
2.2.2. Những hạn chế
Thứ nhất, bảo hiểm xã hội tự nguyện triển khai thực hiện từ
năm 2008 đã đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo NLĐ. Tuy
nhiên qua số liệu trong vòng 3 đến 5 năm gần đây cho thấy, con số

tượng bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa đồng bộ, việc triển khai
thanh toán qua thẻ điện tử, thanh toán trực tuyến chưa được áp dụng
nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí và thuận tiện hơn cho NLĐ.
2.2.3. Nguyên nhân
Thứ nhất, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa
sâu rộng, do chưa có đủ nguồn kinh phí để triển khai, nên hình thức
tuyên truyền chưa đa dạng, hiệu quả thấp. BHXH thành phố chưa
quan tâm đầu tư kinh phí hợp lý cho việc tuyên truyền, phổ biến
pháp luật; cán bộ chuyên trách công tác bảo hiểm xã hội tự nguyện
là những cán bộ kiêm nhiệm nhiều việc nên chưa dành thời gian,
công sức đầu tư để đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền.
Thứ hai, người lao động chưa am hiểu về lợi ích lâu dài của
bảo hiểm xã hội tự nguyện, họ so sánh giữa việc tham gia BHXH tự
nguyện với việc gửi tiết kiệm, nên với mức lãi suất kì hạn trên 1

14


năm thì việc gửi tiết kiệm mang lại hiệu quả hơn so với tham gia
bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Thứ ba, chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa thật sự
hấp dẫn đối với người lao động. Có những quy định về điều kiện
hưởng các chế độ như trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất hằng tháng
khắc khe hơn so với BHXH bắt buộc. Những đối tượng lao động có
độ tuổi từ 45 trở lên đối với nam và từ 40 tuổi đối với nữ là những
đối tượng không được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng khi đến tuổi
nghỉ hưu theo quy định (vì thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện chưa đủ 20 năm).
Thứ tư, đội ngũ cán bộ chuyên môn ngành BHXH chưa đáp
ứng yêu cầu quản lý và tác nghiệp theo hướng chuyên nghiệp, hiện

kết quả thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện, việc đưa ra giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao công tác tổ chức thực hiện
đối với loại hình BHXH tự nguyện là việc làm quan trọng, có ý
nghĩa lý luận và tính thực tiễn sâu sắc.

16


Chương 3
4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo
hiểm xã hội tự nguyện
Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ/TW, BHXH tỉnh Thái
Nguyên đã xây dựng kế hoạch và các chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu,
đồng thời đề ra một số giải pháp thực hiện.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về
bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thứ nhất, quyền lợi người tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện còn thấp cũng là một trong những lý do khó thu hút đối
tượng. Nên mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện như chế
độ ốm đau, thai sản… nhằm chia sẻ những rủi ro, tạo bình đẳng hơn
giữa những người tham gia BHXH tự nguyện với những người
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, góp phần thực hiện tốt hơn
Chiến lược đảm bảo an sinh xã hội của cả nước nói chung và tỉnh
Thái Nguyên nói riêng.
Thứ hai, đối với những đối tượng lao động làm nghề hoặc
công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi tham gia BHXH bắt
buộc sẽ được giảm độ tuổi hưởng chế độ hưu trí, đối với nam là 55

đối tượng, ở các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân.
Tập trung xây dựng cho được một đội ngũ cộng tác viên trong
và ngoài ở một số ngành liên quan có năng lực trình độ để làm công
tác hướng dẫn, tập huấn cho cộng tác viên ở cơ sở. Có thể kết hợp
đội ngũ cộng tác viên hay đại lý làm công tác thu BHXH, BHYT tự
nguyện để thực hiện bởi họ đã có sẵn kiến thức về các chính sách
bảo hiểm xã hội, đồng thời còn có chuyên môn nghiệp vụ trong
công tác tuyên truyền.
7.

3.3.2. Bổ sung các quy định về quản lý và mở rộng các đối

tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

18


Hiện nay, công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã
hội tự nguyện có những điểm chưa thật sự phù hợp, chưa ứng dụng
hiệu quả công nghệ thông tin vào phục vụ công tác quản lý. Trong
khi đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thường di chuyển địa bàn
cư trú theo yêu cầu công việc, họ không thể tham gia đóng bảo
hiểm xã hội tại một địa phương, do đó cần thực hiện một cách đồng
bộ việc số hóa sổ BHXH để tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc
quản lý, theo dõi quá trình đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện của
người lao động. BHXH tỉnh nên đề xuất với bảo hiểm xã hội Việt
Nam trong việc quy định thiết lập mã số riêng cho mỗi người tham
gia BHXH tự nguyện, khi thay đổi nơi đóng bảo hiểm, nhân viên
bảo hiểm chỉ cần tra mã số là đã có đầy đủ thông tin của NLĐ. Hiện
nay, phí hoa hồng đối với đội ngũ công tác viên là rất thấp chính vì

BHXH tự nguyện. Cán bộ phải thường xuyên trau dồi kiến thức,
cập nhật thông tin, chính sách nhằm đảm bảo hoạt động bảo hiểm
xã hội tự nguyện đạt được hiệu quả cao. Tăng cường công tác tập
huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, tổ chức rút kinh nghiệm
việc triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện cho đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức làm công tác BHXH ở tỉnh, thị xã,
huyện để đảm bảo tính thống nhất trong quy trình tiếp nhận, giải
quyết các chế độ BHXH tự nguyện đúng quy định, đơn giản hóa các
thủ tục hành chính và hạn chế xảy ra sai xót trong khi thực hiện
nhiệm vụ.
Nâng cao cơ sở vật chất phục vụ NLĐ. Đồng thời cần nhắc nhở
các cán bộ bảo hiểm xã hội về thái độ ứng xử với NLĐ, cần tạo bầu
không khí thân thiện, thoải mái, nhiệt tình để giúp NLĐ dễ dàng
trình bày vấn đề của mình.
Đảm bảo có kinh phí cho công tác triển khai chính sách bảo
hiểm xã hội tự nguyện, đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin
vào mọi mặt hoạt động trong BHXH tự nguyện.
20


Các cơ quan BHXH thành phố và các quận, huyện cần xây
dựng, ban hành các quy chế, quy định, công khai các thủ tục cụ thể
về các nghiệp vụ công tác bảo hiểm để thuận lợi cho người dân
trong việc tiếp cận thông tin và thực hiện các thủ tục hành chính
liên quan. Đồng thời, tang cường hơn nữa kỷ cương, kỷ luật hành
chính, đấu tranh ngăn chặn các hiện tượng quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, nêu cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu trong
việc thực thi nhiệm vụ.
9.


bàn tỉnh tăng cường thông tin, tuyên truyền kịp thời, phổ biến chính
sách BHXH tự nguyện đến với mọi người lao động trên địa bàn
tỉnh, nhất là đối với những người lao động ở vùng nông thôn, miền
núi thuộc các huyện vùng sâu, vùng xa. Đối với địa bàn nông thôn
cần thành lập các đội công tác tự nguyện do lực lượng thanh niên,
hội phụ nữ, hội nông dân làm nòng cốt để đến các đội sản xuất, hợp
tác xã để tuyên truyền, vận động. Tại các trung tâm đào tạo nghề,
giới thiệu việc làm cần đưa vào chương trình đào tạo nội dung phổ
biến kiến thức về bảo hiểm xã hội cho người lao động, để những
học viên này có kiến thức hiểu biết về BHXH tự nguyện và khi có
việc làm họ sẽ tự nguyện tham gia.
11. Kết luận chương 3
12.

Từ thực tiễn thực hiện BHXH tự nguyện cho thấy tỷ lệ

người tham gia còn thấp so với tổng số lao động có nhu cầu tham
gia, điều này xuất phát từ một số nguyên nhân đã nêu trên. Chính vì
vậy, việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực, công tác tổ
chức thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện là việc quan trọng và cần
thiết.
13.

Cần bổ sung thêm các chế độ như thai sản, ốm đau là những

chế độ ngắn hạn để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ. Nâng cao nhận
thức của NLĐ về lợi ích khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thực hiện
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status