Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại tỉnh sơn la - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƢỜNG THANH HUYỀN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
Mã số

: Luật Kinh tế
: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả được nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu và trích dẫn nêu trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Xác nhận của giảng viên hƣớng dẫn

Tác giả luận văn



DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1. Số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc giai đoạn 2010 - 2015...............56
Bảng 3.2: Số người tham gia BHXH bắt buộc 3 tháng đầu năm 2016....................57
Bảng 3.3: Tổng hợp thu, chi quỹ BHXH bắt buộc giai đoạn 2010 - 2015...............57
Bảng 3.4: Chi quỹ BHXH bắt buộc 3 tháng đầu năm 2016 ....................................58
Bảng 3.5: Giải quyết chế độ BHXH bắt buộc giai đoạn 2010 - 2015......................59
Bảng 3.6: Giải quyết chế độ BHXH bắt buộc 3 tháng đầu năm 2016......................60


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................2
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu ........................................................................3
4. Đối tượng nghiên cứu .........................................................................................3
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn .................................................................3
6. Các phương pháp nghiên cứu .............................................................................4
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................................4
8. Bố cục của luận văn ............................................................................................4
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC ..................................... 5
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội bắt buộc ......................................5
1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội bắt buộc .......................................................5
1.1.2. Ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội bắt buộc .....................................................8
1.2. Các nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội bắt buộc ..............................................10
1.3. Nội dung pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc ..........................................12
1.3.1. Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc .......................................12
1.3.2. Quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................................................... 13

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử văn minh của nhân loại là lịch sử của lao động và sáng tạo. Lao động
là điều kiện cơ bản để tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Tuy nhiên
trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện sức
khỏe và khả năng lao động để nuôi sống được bản thân và gia đình. Bên cạnh đó
ngay cả trong quá trình lao động họ cũng không thể tránh khỏi những rủi ro làm ảnh
hưởng đến sức lao động như ốm đau, tai nạn, tuổi già, chết hoặc do những tác nhân
xã hội khác như điều kiện sống và sinh hoạt...
Chính bởi trong cuộc sống con người luôn phải đối mặt với những rủi ro
không lường trước được nên cần phải có những biện pháp để đảm bảo an toàn khi
gặp phải các rủi ro, một trong các biện pháp đó chính là tham gia bảo hiểm xã hội.
Trên thế giới, hình thức bảo hiểm xã hội xuất hiện đầu tiên ở Đức vào khoảng giữa
thế kỷ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ với một số
chế độ bảo hiểm xã hội mang tính bắt buộc. Sau đó, bảo hiểm xã hội được lan rộng
ra các nước châu Âu và các nước khác. Cho đến nay, hầu hết các quốc gia đều đã
xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội. Ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội cũng là vấn đề
được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Ngay từ khi mới giành được độc lập
trong Sắc lệnh số 29/SL do Hồ Chủ Tịch ký cũng đã có quy định về chế độ phụ cấp
cho công nhân như phụ cấp gia đình, phụ cấp thâm niên; chế độ nghỉ đẻ và cho con
bú của phụ nữ; chế độ nghỉ ốm đau cho công nhân, chế độ tai nạn lao động và trách
nhiệm của chủ sử dụng lao động. Đây là những yếu tố có tính chất tiền đề đánh dấu
một nền móng vững chắc cho sự phát triển của pháp luật bảo hiểm xã hội trong
những giai đoạn phát triển của đất nước sau này. Điểm mốc đánh dấu bước ngoặt
quan trọng trong lịch sử pháp luật về bảo hiểm xã hội Việt Nam chính là Luật bảo
hiểm xã hội năm 2006, trong đó có quy định cụ thể 5 chế độ bảo hiểm xã hội mang
tính bắt buộc, đó là chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Tuy nhiên sau gần 10 năm thực hiện, Luật bảo hiểm xã
hội cũng đã bộc lộ nhiều điểm còn bất cập, mâu thuẫn và đặc biệt là nhiều điểm còn

Điều 60 Luật BHXH năm 2014 dưới góc nhìn quan hệ lao động tập thể”, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, (9);
- Hoàng Kim Khuyên và Hoàng Thị Quỳnh Trang (2014), “Thực trạng nợ,
chậm và “trốn” đóng tiền BHXH ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, (8);
- Đặng Như Lợi (2014), “Cải cách Luật BHXH để mở rộng bảo hiểm hưu trí
đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính trị, (12);
- Bùi Sỹ Lợi (2015), “Tính ưu việt của Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm
y tế - thách thức trong triển khai và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội”, Tạp chí
Cộng sản, (7);
- TS. Nguyễn Hiền Phương (chủ biên, 2015), “Bình luận khoa học một số


3
quy định của luật Bảo hiểm xã hội năm 2014”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Những bài viết này tuy đã đề cập đến một số chế độ của bảo hiểm xã hội bắt
buộc của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 như chế độ bảo hiểm xã hội thai sản, chế
độ bảo hiểm xã hội hưu trí song chủ yếu mới dừng lại ở việc đề cập các điểm mới
hoặc về cách hiểu, cách áp dụng các quy định của luật Bảo hiểm xã hội...chứ chưa
có sự đánh giá một cánh toàn diện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng
như thực tiễn thực hiện. Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về việc
thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ở tỉnh Sơn La.
Chính vì vậy, đây chính là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về bảo
hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Sơn La.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo hiểm xã
hội bắt buộc, thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm xã hội bắt buộc
và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại

6. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, các phương pháp
nghiên cứu cụ thể phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài như: phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kế...cũng được sử dụng trong quá trình nghiên
cứu phù hợp với từng chương và nội dung của đề tài.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn đã làm sâu sắc và hoàn thiện hơn những vấn đề lý luận về Bảo
hiểm xã hội bắt buộc.
- Phân tích một cách sâu sắc thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo
hiểm xã hội bắt buộc.
- Đánh giá một cách đầy đủ là toàn diện thực trạng thi hành các chế độ bảo
hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Sơn La.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong ba
chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm xã hội bắt buộc và pháp luật về
bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về Bảo hiểm xã hội bắt
buộc.
Chƣơng 3: Thực tiễn thi hành pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc ở tỉnh Sơn
La và một số kiến nghị.


5

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC



6
chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau được thiết lập năm 1883, chế độ bảo hiểm tai nạn
lao động năm 1884 và chế độ bảo hiểm tuổi già năm 1889. Vào cuối thế kỷ XIX, ở
Đức chỉ có 10% dân số tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên đến thế kỷ XX, đặc
biệt là từ năm 1950 BHXH bắt buộc phát triển đến mức số người tham gia chiếm
hơn 90% dân số.(2)
Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người và được
xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi
nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng
BHXH”. Ngày 04/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã kí công ước Giơnevơ
về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến
hành BHXH cho NLĐ và gia đình họ.
Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH đặc
biệt là BHXH bắt buộc và coi đó là một trong những chính sách xã hội quan trọng
nhất trong hệ thống an sinh xã hội. Mục đích của pháp luật BHXH bắt buộc ở các
nước đều giống nhau là bảo vệ và hỗ trợ về vật chất cho NLĐ khi họ gặp phải rủi
ro, bất hạnh do suy giảm khả năng lao động hoặc hết tuổi lao động…dẫn đến bị
ngừng hoặc giảm thu nhập. Chính vì vậy, phạm vi và đối tượng áp dụng của pháp
luật BHXH bắt buộc ngày càng được mở rộng. Thông thường các nước thực hiện
BHXH cho công chức Nhà nước và quân đội, rồi đến công nhân trong các xí nghiệp
do Nhà nước quản lý và những người làm công ăn lương do tư nhân thuê mướn và
mở rộng đến những dạng lao động khác. Các chế độ trợ cấp BHXH bắt buộc cũng
được bổ sung dần, nhằm đảm bảo khắc phục được toàn diện những rủi ro có thể xảy
ra với NLĐ. Điều đó cho thấy BHXH bắt buộc đặc biệt quan trọng và có thể xem là
trụ cột chính của hệ thống bảo hiểm xã hội.
Vậy BHXH là gì? Theo khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 thì BHXH
được hiểu là: “sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ
bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,

hiện. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi quốc gia quy định
về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc rộng, hẹp khác nhau. Đặc trưng cơ bản của
BHXH bắt buộc so với BHXH tự nguyện là tính bắt buộc. Tính bắt buộc của BHXH
thể hiện ở chỗ:
Về đối tượng tham gia: đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ và
NSDLĐ. Tuy nhiên, những đối tượng nào theo quy định của pháp luật thuộc diện
đóng BHXH bắt buộc thì đều bắt buộc phải tham gia BHXH dù muốn hay không.
Việc tham gia BHXH của các đối tượng này vừa là quyền nhưng đồng thời cũng
vừa là nghĩa vụ của họ. Điều đó có nghĩa việc tham gia BHXH của các đối tượng
này không phụ thuộc vào ý chí của họ mà do pháp luật quy định. NLĐ và NSDLĐ
không thể thỏa thuận về việc có tham gia BHXH hay không cũng như thay thế việc
đóng BHXH bằng các hình thức khác.


8
Về mức đóng: Mức đóng của BHXH bắt buộc thường là do pháp luật ấn
định đối với cả NLĐ và NSDLĐ, NLĐ và NSDLĐ phải đóng BHXH trên cơ sở
mức đóng do pháp luật quy định. Các bên không có quyền lựa chọn mức đóng, cũng
như thương lượng hay thỏa thuận mức đóng. Thông thường, mức đóng BHXH hàng
tháng được tính theo mức phần trăm tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao
động, hợp đồng làm việc và do pháp luật quy định.
Về các chế độ BHXH: các chế độ của BHXH bắt buộc cũng do pháp luật quy
định. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà các chế độ được quy
định khác nhau. Tuy nhiên khi đã tham gia BHXH bắt buộc thì sẽ phải tham gia tất
cả các chế độ BHXH chứ không được lựa chọn tham gia một hay một vài chế độ.
Các chế độ BHXH bắt buộc thông thường bao gồm: chế độ ốm đau, chế độ thai sản,
chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Ngoài
ra, điều kiện hưởng, mức hưởng của các chế độ BHXH bắt buộc cũng do pháp luật
quy định chứ không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.
1.1.2. Ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội bắt buộc

tai nạn không có nguồn thu nhập, chi phí thuốc men...đời sống của họ bị ảnh hưởng
thì quan hệ lao động, chất lượng lao động sẽ bị ảnh hưởng. Qua việc phân phối chi
phí cho NLĐ hợp lý, BHXH bắt buộc góp phần làm cho lực lượng lao động trong
mỗi đơn vị ổn định, sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả, các bên trong quan
hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn.
BHXH bắt buộc tạo điều kiện cho NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ, không
chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời NLĐ, cho đến khi già
yếu, khiến cho BHXH bắt buộc có tính nhân văn sâu sắc hơn.
Tóm lại, tuy không trực tiếp mang lại lợi ích cho NSDLĐ nhưng BHXH bắt
buộc gián tiếp làm tăng kết quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị.
* Đối với xã hội:
Bản chất và chức năng vốn có của BHXH là việc chia sẻ những rủi ro, tạo ra
sự san sẻ, tương trợ giữa NSDLĐ và NLĐ, và ngay cả giữa những NLĐ với nhau
theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”. Thông qua việc tham gia BHXH rủi ro của
một người sẽ được chia sẻ cho nhiều người trong cộng đồng, thông qua việc hình
thành, phân phối và sử dụng quỹ BHXH. Nó tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao
tính cộng đồng xã hội, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội.
Đối với nhiều quốc gia, BHXH đặc biệt là BHXH bắt buộc được xem là một
trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, là cơ sở để phát triển các bộ phận khác của hệ
thống an sinh xã hội. Các nhà nước thường căn cứ vào mức độ bao phủ của chính
sách BHXH để xác định những đối tượng nào còn gặp khó khăn, cần cộng đồng
chia sẻ nhưng chưa được tham gia BHXH để thiết kế những mạng lưới khác của an
sinh xã hội như trợ cấp, cứu trợ xã hội...Trên cơ sở đó, BHXH là căn cứ để đánh giá
trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ an sinh xã hội đạt được của mỗi
nước.


10
Bảo hiểm xã hội còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của
một quốc gia. Khi kinh tế càng phát triển, đời sống của NLĐ được nâng cao thì nhu

(3).Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật An sinh xã hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
125.


11
* Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng
của NLĐ.
Mức thu nhập được bảo hiểm là mức tiền lương hoặc mức thu nhập bằng tiền
nào đó do Nhà nước quy định. Trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thực
tế của đại đa số NLĐ và mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người, Nhà nước
quy định, lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm để đảm bảo mức thu nhập này luôn
tương đối, nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ tham gia đóng BHXH và gia đình họ.
Trên thực tế có hai cách để lựa chọn mức thu nhập đóng bảo hiểm bắt
buộc. Đó là xác định một mức thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm hoặc lấy tiền
lương làm cơ sở đóng BHXH. Tuy nhiên, đối với BHXH bắt buộc, người ta
thường hay lấy tiền luơng làm căn cứ đóng BHXH và đó cũng chính là cơ sở để
quy định mức thu nhập được hưởng bảo hiểm. Mặt khác, mức thu nhập đóng bảo
hiểm còn là công cụ để Nhà nước giám sát, kiểm tra, điều tiết trên giác độ quản
lý vĩ mô với BHXH và quản lý lao động trong nền kinh tế quốc dân.
* Quỹ BHXH bắt buộc được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch;
được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần.
BHXH là một chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội,
chứa đựng cả nội dung kinh tế, xã hội và pháp lý. Để đảm bảo thực hiện hài hòa
những nội dung trên và đạt được mục tiêu mà BHXH bắt buộc đặt ra thì một
trong những vấn đề cần được chú ý là việc quản lý, sử dụng quỹ BHXH bắt buộc
nhằm đảm bảo sự cân đối và ổn định của quỹ. Do đó, việc sử dụng quản lý quỹ
BHXH bắt buộc phải trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý và hạch toán theo
quy định của pháp luật.
* Việc thực hiện BHXH bắt buộc phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo
đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.

NLĐ trong và ngoài doanh nghiệp nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham
gia BHXH và đối tượng của BHXH cũng được mở rộng ra.
Việc tham gia BHXH có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo điều kiện sống
cho NLĐ và gia đình họ trong những trường hợp NLĐ gặp rủi ro. Tuy nhiên, không
phải NLĐ và NSDLĐ nào cũng tự giác tham gia BHXH. Hơn nữa để thực hiện
BHXH một cách lâu dài thì cần phải xác định đối tượng tham gia để đảm bảo nguồn
thu cũng như chi trả các chế độ BHXH . Bởi vậy, pháp luật hầu hết các nước đều quy
định các đối tượng có trách nhiệm phải tham gia BHXH. Đối tượng có trách nhiệm
phải tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ và NSDLĐ. Tuy nhiên không có nghĩa tất cả
mọi NLĐ và NSDLĐ đều phải tham gia BHXH. Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội
của từng nước mà các nước có sự quy định về đối tượng tham gia song nhìn chung
pháp luật các nước đều hướng tới những đối tượng tham gia quan hệ lao động có tính
ổn định và càng ngày các đối tượng này càng có xu hướng mở rộng.
Pháp luật BHXH Đan Mạch có quy định, mọi người dân được hưởng chế độ
bảo hiểm từ hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia, trợ cấp gia đình và trợ cấp người
già mà không phụ thuộc vào hoạt động nghề nghiệp; trái lại trợ cấp dành cho việc


13
bù đắp do mất thu nhập chỉ được chi trả cho những người đang hoạt động, những
người không thuộc diện NLĐ làm công ăn lương cũng hưởng trợ cấp bằng tiền của
bảo hiểm ốm đau.
Tại Hà Lan, có hai loại hình BHXH là BHXH đối với người làm công ăn
lương và BHXH quốc gia. BHXH của những người làm công ăn lương bảo đảm chi
phí duy nhất cho những người làm công ăn lương và những người giống như vậy.
Để được thụ hưởng BHXH này, phải có một hợp đồng lao động, ít nhất giống như
người làm công ăn lương. Đó là trường hợp người học nghề, những NLĐ tại nhà
hoặc trong các phân xưởng được bảo hiểm. Những NLĐ thật sự độc lập không
giống người làm công ăn lương và công chức có chế độ riêng (5).BHXH quốc gia là
loại hình bảo đảm chế độ BHXH cho tất cả những người sống ở Hà Lan, cũng như

vừa là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế
vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo
cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi
ro xã hội của tất cả những người tham gia BHXH, giúp cho việc dàn trải rủi ro
được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối
thiểu thiệt hại kinh tế cho NSDLĐ, tiết kiện chi cho ngân sách nhà nước và ngân
sách gia đình.
Ở các nước như Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha các khoản phí đóng góp này
cũng được chia sẻ cho cả NLĐ và NSDLĐ. Đặc biệt ở Tây Ban Nha, đóng góp
BHXH chiếm 70% tổng thu nhập BHXH, trong đó các khoản đóng góp của
NSDLĐ lớn gấp 5 lần khoản đóng góp của NLĐ.(7)
Ngoài phí BHXH một phần quan trọng khác nữa tạo ra quỹ BHXH là sự hỗ
trợ của nhà nước với mục đích nhằm đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra đều
đặn, ổn định. Một bộ phận khác của quỹ BHXH là các nguồn thu hợp pháp khác,
đó là các khoản giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, các khoản
phạt của những cá nhân, tổ chức kinh tế vi phạm quy định pháp luật về BHXH như
chậm nộp BHXH, nộp thiếu...
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội đặc thù của mỗi quốc gia, việc lựa
chọn cơ chế đóng quỹ BHXH cũng khác nhau. Ở Đức, riêng với chế độ bảo hiểm ốm
đau đã có khoảng 900 quỹ và được chia thành các quỹ thành phần là các quỹ địa
phương, quỹ doanh nghiệp, quỹ nghiệp đoàn và các quỹ thay thế ngoài ra còn có các
quỹ xã hội - nghề nghiệp. Phí bảo hiểm của NLĐ và NSDLĐ là bằng nhau, dao động

(6). Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật An sinh xã hội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.120
(7). Ủy ban các vấn để xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 311.



(8). Ủy ban các vấn để xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 329


16
Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia quy định các chế độ BHXH mang tính bắt buộc
thường bao gồm 5 chế độ: chế độ BHXH ốm đau, chế độ BHXH thai sản, chế độ
BHXH tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ BHXH hưu trí và chế độ tử tuất.
* Chế độ ốm đau
Ốm đau là một hiện tượng rủi ro phổ biến mà con người không hề mong
muốn. Ốm đau không chỉ tác động đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt mà còn là
nguyên nhân khiến sức lao động của con người bị ảnh hưởng. Với mong muốn đảm
bảo thu nhập cho NLĐ khi phải tạm thời nghỉ việc vì ốm đau do những nguyên
nhân khách quan hoặc chăm sóc con ốm, chế độ bảo hiểm ốm đau đã được hình
thành. Mục đích của bảo hiểm ốm đau là nhằm bù đắp phần nào thu nhập bị mất
hoặc bị giảm trong thời gian người tham gia BHXH gặp rủi ro ốm đau, chia sẻ
những khó khăn, thiệt thòi của NLĐ trong thời gian bị ốm đau, tai nạn hoặc chăm
sóc con ốm.
Bảo hiểm ốm đau là một trong các chế độ BHXH ra đời sớm nhất trong lịch
sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH. Ở nước Đức, ngay từ những năm
50 của thế kỷ XIX nhiều chính quyền bang đã quan tâm tới việc quy định và bắt
buộc thực hiện chế độ trợ cấp ốm đau đối với NLĐ. Đối tượng tham gia chế độ bảo
hiểm ốm đau ngày càng được mở rộng. Sau đó, nhiều nước châu Âu cũng đã cho ra
đời các đạo luật của mình có quy định về vấn đề bảo hiểm ốm đau. Đến đầu thế kỷ
XX, bảo hiểm ốm đau đã mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước
Mỹ La tinh, Hoa Kỳ, Canada và một số nước khác. (9)
Năm 1952, Tổ chức Lao động quốc tế đã thông qua Công ước số 102 với
những quy phạm tối thiểu về BHXH. Trong đó, Điều 14 của Công ước quy định chế
độ trợ cấp ốm đau được áp dụng đối với các trường hợp bị mất khả năng lao động
do đau ốm gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập như pháp luật hoặc quy định quốc

phục và duy trì sức khỏe sau khi sinh.
BHXH thai sản cũng là một trong những chế độ BHXH bắt buộc được nhiều
nước thừa nhận. Lao động nữ với chức năng sinh đẻ và nuôi con nên khi tham gia
quan hệ lao động họ cần phải được đảm bảo đời sống và thu nhập khi thực hiện
chức năng này. Thậm chí hiện nay, một số nước quy định lao động nữ và nam đều
được hưởng chế độ thai sản như nhau như Thụy Điển, Bungari. Đặc biệt ở Bungari
còn quy định ông, bà cũng được nghỉ hưởng trợ cấp trong thời gian người mẹ mang
thai, trước và sau sinh nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con cháu trong gia đình;
còn theo pháp luật Thụy Điển thì cả cha và mẹ đều được hưởng chế độ thai sản như
nhau... (11)

(10). Ủy ban các vấn để xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế
giới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 360.
(11). Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật An sinh xã hội,Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.149.


18
Về điều kiện tham gia BHXH nói chung và chế độ thai sản nói riêng ở các
nước thông thường đều quy định những người đang mang thai hoặc sinh đẻ thì có
thể tham gia BHXH và phải có thời gian tham gia BHXH tối thiểu trước khi sinh,
khoảng từ 6 đến 12 tháng cuối cùng trước khi sinh. Chẳng hạn ở Achentina, NLĐ
phải có 10 tháng đóng góp liên tục sau khi nghỉ thai sản hoặc đã có 6 tháng đóng
góp trong 12 tháng trước khi sinh trong đó có một tháng làm việc ngay trước khi
sinh; ở Pháp NLĐ phải đảm bảo có 200 giờ làm việc trong 3 tháng cuối cùng trước
khi sinh; ở Thái Lan, NLĐ phải có 7 tháng đóng góp trong 15 tháng trước khi sinh
(chỉ giới hạn trong hai lần sinh). Tuy nhiên, ở Trung Quốc và Nga lại không quy
định thời gian đóng góp tối thiểu để được hưởng chế độ thai sản.
Về thời gian hưởng trợ cấp BHXH thai sản, tùy thuộc vào điều kiện kinh tếxã hội của từng quốc gia và khả năng hồi phục sức khỏe của lực lượng lao động của
quốc gia đó mà mỗi quốc gia quy định thời gian hưởng, mức hưởng khác nhau.

nghĩa vụ và quyền lợi cũng như sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm.
* Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ,BNN) là những nguy cơ NLĐ có
thể gặp phải khi tham gia quan hệ lao động. Khi NLĐ bị TNLĐ, BNN khả năng lao
động của họ có thể bị giảm sút dẫn đến việc giảm hoặc mất khả năng lao động.
Chính vì vậy, pháp luật các nước đều quy định bảo hiểm TNLĐ, BNN là chế độ
BHXH mang tính bắt buộc. Chế độ này nhằm đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi bị
TNLĐ, BNN dẫn đến giảm hoặc mất khả năng lao động.
Ở Trung Quốc, năm 1994, Luật Lao động được ban hành và dành một
chương riêng quy định về “Bảo hiểm xã hội và phúc lợi xã hội”. Theo đó, hệ thống
BHXH được cải tổ theo các nội dung: bảo hiểm dưỡng lão, bảo hiểm thất nghiệp,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm TNLĐ, BNN và bảo hiểm thai sản. Chính phủ Trung Quốc
đã và đang nỗ lực trong việc thiết lập chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN bao gồm:
phòng chống thương tích xảy ra trong lao động, bồi thường và phục hồi chức năng
cho NLĐ bị các tổn thương liên quan đến công việc. Năm 2003, Hội đồng Nhà
nước ban hành Điều lệ về bảo hiểm TNLĐ, BNN. Theo quy định của Điều lệ tất cả
các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đề phải tham gia đóng phí TNLĐ, BNN vĩnh
viễn cũng như tạm thời cho toàn bộ NLĐ của họ. Những đơn vị không tham gia
chế độ TNLĐ, BNN khi xảy ra TNLĐ, BNN thì đơn vị đó phải chịu trách nhiệm chi
trả các chế độ như quy định trong điều lệ.
Pháp luật BHXH tại Thái Lan hiện nay cũng có quy định về BHXH đối với
TNLĐ, BNN. Trong các tổ chức thành viên của Hiệp hội an sinh xã hội ASEAN
(ASSA), Cơ quan an sinh xã hội Thái Lan (SSO) có nhiều điểm tương đồng với

(12). Khoa bảo hiểm, Trường đại học kinh tế quốc dân (2011), “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ trợ
cấp thai sản trong pháp luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, tr.18.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status