BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM LAN HƯƠNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐÀO THỊ HẰNG
HÀ NỘI - 2012
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đào Thị
Hằng đã tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô Khoa Sau Đại học, Khoa Pháp
luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện trong suốt quá trình
được đào tạo tại hệ Cao học của trường.
Chân thành cảm ơn BHXH tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ tôi trong quá trình
thu thập số liệu và đóng góp ý kiến có giá trị thực tiễn cho tôi để tôi hoàn thành
luận văn.
2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ ............................................30
2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ32
2.2.1. Việc thực hiện các quy định về đối tượng áp dụng và đóng góp quỹ BHXH
bắt buộc ..................................................................................................................32
2.2.2. Tình hình chi trả các chế độ BHXH bắt buộc ...........................................38
2.2.3. Quản lý quỹ BHXH bắt buộc của BHXH tỉnh Phú Thọ ...........................41
2.2.4. Thực tiễn xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về BHXH bắt buộc tại tỉnh
Phú Thọ ..................................................................................................................47
CHƯƠNG 3.......................................................................................................... 51
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT vµ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
THỌ...................................................................................................................... 51
3.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật ..............................................51
3.1.1 Về đối tượng áp dụng chế độ BHXH bắt buộc...........................................51
3.1.2. Về các chế độ BHXH bắt buộc...................................................................52
3.1.3. Về xử lý vi phạm BHXH bắt buộc .............................................................56
3.1.4. Về quỹ BHXH bắt buộc ..............................................................................61
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả BHXH bắt buộc nói chung và trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng........................................................................................64
3.2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về BHXH bắt buộc
.................................................................................................................................64
3.2.2. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có liên quan đến BHXH bắt buộc65
3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động thực hiện
pháp luật BHXH bắt buộc .....................................................................................66
3.2.4. Bồi dưỡng cán bộ trong lĩnh vực BHXH ...................................................67
KẾT LUẬN……………………………………………………………………………… 69
Phú Thọ là một tỉnh trung du, miền núi phía Bắc. Phú Thọ đang chú trọng
phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân do vậy, số lượng các doanh
nghiệp cũng như các đơn vị có sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng
lên. Một trong những vấn đề mà người lao động đặc biệt quan tâm đó là bảo hiểm
2
xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng. Việc thực hiện các quy định
pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc thời gian qua trên địa bàn tỉnh ngoài những
thành tựu đã đạt được cũng đã bộc lộ không ít những vướng mắc, tồn tại. Điều này
cũng làm phát sinh nhu cầu tiếp tục nghiên cứu để tìm cách tháo gỡ vướng mắc,
hoàn thiện pháp luật. Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn vấn đề ““Pháp luật về
Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm đề
tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến
pháp luật về bảo hiểm xã hội. Cụ thể:
* Đề tài nghiên cứu khoa học:
- Nguyễn Thị Kim Phụng (2006) “Hoàn thiện về pháp luật BHXH ở Việt
Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội.
* Một số khóa luận tốt nghiệp như:
- Vũ Thu Trang (2010) “Tuổi nghỉ hưu của người lao động – Những vấn đề
lý luận và thực tiễn trong quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam”, Khóa
luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội.
- Lê Thị Thanh Thảo (2009) “Chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí ở Việt Nam –
Thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà
Nội.
- Nguyễn Thị Huyền (2009) “Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ theo pháp
luật hiện hành – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Khóa luận tốt nghiệp,
những ưu điểm và hạn chế của các quy định đó
- Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt buộc và
nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Phú Thọ
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về BHXH bắt
buộc và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Phù hợp với đề tài nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng
nghiên cứu nêu trên. Pháp luật nước ngoài về BHXH bắt buộc chỉ được luận văn đề
cập ở mức độ nhất định.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phương
pháp luận của triết học Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch
4
sử. Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực của đề
tài như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, logic... cũng được sử dụng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan
hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc, đặc
biệt các cơ quan BHXH, các doanh nghiệp… trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công
tác giảng dạy và nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất kỳ ai có quan tâm đến
pháp luật BHXH nói chung, pháp luật về BHXH bắt buộc nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia
thành 3 chương. Cụ thể:
Thông thường có hai nhóm biện pháp khắc phục rủi ro là các biện pháp chấp
nhận rủi ro và bảo hiểm. Chấp nhận rủi ro là người gặp phải rủi ro phải chấp nhận
khoản tổn thất đó, tự bản thân họ phải tự bảo hiểm cho mình. Họ có thể chủ động
lập quỹ dự trữ, dự phòng trước để bù đắp, khắc phục những tổn thất do biến cố rủi
ro gây nên; hoặc cũng có thể đi vay ngân hàng, các tổ chức tài chính để bù đắp tổn
thất trong trường hợp không lập quỹ dự trữ, dự phòng trước.
Bảo hiểm là sự chuyển giao, san sẻ rủi ro giữa những người cùng tham gia bảo
hiểm trên cơ sở những nguyên tắc, chuẩn mực đã được thống nhất và quy định
trước, nhằm đảm bảo an toàn, ổn định sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội của
những người tham gia bảo hiểm và cộng đồng xã hội. Bảo hiểm là công cụ quan
trọng và có hiệu quả nhất để khắc phục hậu quả tổn thất khi xảy ra rủi ro.
6
Mục đích của bảo hiểm là góp phần làm ổn định, an toàn kinh tế cho mọi
người, mọi tổ chức và mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm, đảm bảo an toàn xã hội,
đồng thời tạo ra nguồn vốn quan trọng để tham gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
BHXH đã được nhiều nhà khoa học đề cập và nghiên cứu một cách sâu sắc
dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. BHXH đã xuất hiện và phát triển theo
cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại. Hệ thống bảo hiểm xã
hội hình thành đầu tiên trên thế giới ở Đức dưới thời thủ tướng Bismark với cơ chế
ba bên (Nhà nước – giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người
lao động trong một số trường hợp rủi ro. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã
thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và coi nó là một trong những chính sách xã
hội quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội.
Trước hết, để hiểu được BHXH bắt buộc là gì thì cần tìm hiểu về bảo hiểm xã
hội nói chung. Bảo hiểm xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học
khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý... Do đó, hiện nay còn tồn tại nhiều quan
hoặc mất khả năng lao động do một số nguyên nhân nhất định gây ra (như ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu hoặc chết) trên cơ sở nghĩa vụ
(bắt buộc) tham gia của người sử dụng lao động và người lao động.
Như vậy, BHXH bắt buộc là một hình thức đảm bảo về thu nhập cho người
lao động (và một số trường hợp là thành viên gia đình) trong những trường hợp rủi
ro nhất định. Việc đảm bảo này được thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ phải tham gia
đóng góp của các đối tượng nhất định nhằm tạo lập nguồn chi trả. Nói cách khác,
các đối tượng không có quyền lựa chọn có được tham gia hay không tham gia mà
họ phải tham gia hình thức BHXH này khi thuộc các trường hợp pháp luật đã quy
định.
1.1.2. Sự cần thiết của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Khi nền kinh tế càng phát triển, con người cũng chú trọng hơn đến việc bảo
đảm các khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất do những rủi ro, biến cố trong cuộc
sống gây nên. Mác đã khẳng định rằng vì nhiều rủi ro khác nhau nên đành phải
dành một số thặng dư nhất định cho quỹ BHXH để bảo đảm cho sự mở rộng theo
kiểu lũy tiến quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết, phù hợp với sự phát triển của
nhu cầu và tình hình tăng dân số. [22]
Sự cần thiết của BHXH bắt buộc một mặt xuất phát từ lịch sử hình thành và
phát triển của BHXH nói chung.
Trong quá trình sinh tồn và trưởng thành của mỗi con người, nhằm thoả mãn
những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn, ở, mặc, sinh hoạt, v.v..., con người phải lao
8
động để làm ra những của cải, vật chất cần thiết. Nhưng trong thực tế, không phải
lúc nào con người cũng gặp may mắn, thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều
kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, trắc trở, rủi
ro xảy ra do điều kiện tự nhiên, môi trường sống, hoặc điều kiện xã hội làm con
người bị giảm hoặc mất thu nhập như ốm đau, tai nạn, mất việc làm, mất người nuôi
trợ cấp để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn... Mặt
khác, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ
biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam
kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang
trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tại nạn, thai sản v.v... Trong
thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra
một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều
khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ
liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày
càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà
nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt
làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp
một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất
rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành
một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ ngân
sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp
phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà cuộc
sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ
cũng thấy mình đỡ bị thiệt hại về kinh tế, ổn định lực lượng lao động để phát triển
sản xuất kinh doanh, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ
tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn mạnh nhanh chóng. Khả năng giải
quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Như vậy, BHXH ra đời và phát triển là một quá trình. Việc đảm bảo vật chất
cho NLĐ khi họ gặp biến cố, rủi ro, trong cuộc đời lao động sẽ khó được thực hiện
thường xuyên và đầy đủ nếu chỉ dựa vào sự tương trợ mang tính hảo tâm. Ngược
lại, nó chỉ có thể được đảm bảo chắc chắn, ổn định và bền vững khi có sự tham gia
của Nhà nước với những quy định về đóng góp mang tính bắt buộc để hình thành
nên một loại quỹ tiền tệ tập trung ở phạm vi lớn. Chính điều này là cơ sở cho việc
hình thành nên hình thức BHXH ở phạm vi lớn. Chính điều này là cơ sở cho việc
hình thành nên hình thức BHXH bắt buộc.
họ gặp rủi ro. Để tạo nguồn thu ổn định, lâu dài cho quỹ BHXH đồng thời phải phù
hợp với điều kiện của người đóng góp, thì việc lựa chọn đối tượng áp dụng chế độ
BHXH bắt buộc rất quan trọng.
Theo quy định của Luật BHXH tại Điều 2, đối tượng áp dụng BHXH bắt
buộc cụ thể như sau:
11
* Đối với người lao động
Đó là người lao động là công dân Việt Nam, bao gồm: Người làm việc theo
hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3
tháng trở lên; cán bộ, công chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công nhân công
an; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp
vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác
cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; hạ sĩ quan,
binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sỹ công an nhân dân phục vụ có thời
hạn; người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó có đóng BHXH bắt buộc.
Như vậy, với quy định này của pháp luật thì đối tượng người lao động tham
gia BHXH bắt buộc khá phong phú, chiếm đại đa số người lao động tham gia vào
quan hệ lao động. Đây là đối tượng có thời hạn làm việc ổn định, lâu dài nên việc
quy định đối tượng này là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là hợp lý, từ đó có
thể tạo một nguồn thu ổn định cho quỹ BHXH bắt buộc nhằm đảm bảo mục tiêu của
BHXH.
Tuy nhiên, do đối tượng áp dụng hiện nay là công dân Việt Nam tham gia
hợp đồng lao động từ đủ ba tháng trở lên nên có nhiều trường hợp người sử dụng
lao động “lách” bằng cách ký rất nhiều hợp đồng “chuỗi” với thời hạn dưới 3 tháng
với người lao động nhằm né tránh nghĩa vụ đóng góp BHXH. Mặt khác, trong điều
kiện nước ta hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, số lượng lao động nước
ngoài tham gia quan hệ lao động tại Việt Nam cũng tăng lên. Đây cũng là vấn đề
Riêng đối với đối tượng hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và hạ sỹ
quan, chiến sỹ công an nhân dân phục vụ có thời hạn, người sử dụng lao động đóng
BHXH cho đối tượng này bằng 21% mức lương tối thiểu chung (trong đó: 1% vào
quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 20% vào quỹ hưu trí, tử tuất).
Theo quy định tại Điều 94 Luật BHXH thì tiền công, tiền lương tháng đóng
BHXH đối với người lao động thực hiện chế độ lương do Nhà nước quy định là tiền
lương theo ngạch, bậc, cấp bậc, quân hàm và các khoản phụ cấp khác; đối với người
lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định
thì mức đóng BHXH theo quy định là tiền công, tiền lương kể cả phụ cấp (nếu có)
được ghi trong hợp đồng lao động. Mức đóng tối đa không quá 20 lần tháng lương
tối thiểu chung. Tuy nhiên, đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước
thì việc quản lý lương tương đối dễ dàng nhưng trường hợp thường xảy ra vi phạm
là đối tượng hưởng lương do người sử dụng quyết định. Với quy định như luật hiện
hành sẽ dẫn đến tình trạng người sử dụng lao động ghi một mức tiền lương, tiền
công trong hợp đồng thấp hơn mức tiền lương thực tế người lao động nhận được để
giảm tiền đóng BHXH. Trong khi đó, bảng lương nộp cho cơ quan thuế lại cao hơn
13
để được khấu trừ thuế. Điều này sẽ dẫn đến thiệt thòi cho quyền lợi của người lao
động.
Mặt khác, quy định mức đóng tối đa không quá 20 lần mức lương tối thiểu
chung thì không hợp lý và gây thất thu cho quỹ BHXH bởi có nhiều đối tượng tham
gia BHXH bắt buộc có mức lương cao. Mà với quy định này thì mức cao nhất được
tham gia BHXH bắt buộc là hơn 20 triệu. Trên thực tế, có người lao động thu nhập
thực tế, thậm chí là lương trong hợp đồng lao động cao hơn mức này rất nhiều.
1.2.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo quy định tại Điều 4 Luật BHXH, BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ:
ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất.
dài ngày, quyết định cho hưởng BHXH của cơ quan BHXH có thẩm quyền… Trong
đó, giấy xác nhận của tổ chức y tế về sự kiện người lao động nghỉ việc để điều trị do
ốm đau, tai nạn rủi ro là điều kiện mang tính quyết định trong thủ tục để được
hưởng bảo hiểm.
Ngoài trường hợp chính người lao động bị ốm đau phải nghỉ việc được
hưởng chế độ ốm đau thì trêng hîp kh¸c còng ®îc hëng chÕ ®é nµy nÕu có con
dưới bảy tuổi (con đẻ hoặc con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật
công nhận) ốm đau mà người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc và có xác nhận
của cơ quan y tế có thẩm quyền. Nếu cả bố và mẹ đều tham gia BHXH thì chỉ một
người được hưởng chế độ này. Tuy nhiên, pháp luật có ưu tiên nữ giới hơn trong
trường hợp con ốm mà người mẹ nhờ được người chăm sóc để tiếp tục đi làm thì
vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm ốm đau.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì người lao động tham gia
BHXH bị ốm đau hoặc tai nạn rủi ro phải nghỉ việc để điều trị, có xác nhận của tổ
chức y tế có thẩm quyền thì được hưởng chế độ bảo hiểm ốm đau hoặc người lao
động tham gia bảo hiểm xã hội có con dưới bảy tuổi bị ốm đau phải nghỉ việc để
chăm sóc con và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền. Những người lao
động phải nghỉ việc do say rượu, tự hủy hoại sức khỏe hoặc dung các chất ma túy,
các chất kích thích khác thì không thuộc đối tượng được hưởng chế độ bảo hiểm ốm
đau.
Thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau
Thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau thường được tính theo số ngày làm việc
của người lao động. Việc quy định thời gian hưởng bảo hiểm ốm đau phụ thuộc vào
điều kiện lao động, thời gian tham gia BHXH, tình trạng bệnh tật của người lao
động và mục đích bảo hiểm của Nhà nước.
Việc khống chế thời gian hưởng là hợp lý trên cơ sở cân đối thu chi, điều
kiện lao động và tình trạng bệnh tật của người lao động. Theo Điều 23 Luật BHXH
thì người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường được nghỉ việc
thiểu chung do nhà nước quy định.
Riêng người lao động làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân thì mức
hưởng bảo hiểm ốm đau là 100% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.
16
Ngoài ra, theo Điều 26 Luật BHXH người lao động còn được hưởng chế độ
dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Theo Điều 12 Nghị định 152/2006/NĐ-CP, thời gian
nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, tết, nghỉ
hàng tuần, ngày đi và ngày về (nếu nghỉ tại cơ sở tập trung): 10 ngày đối với người
lao động sức khỏe còn yếu sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần điều trị dài ngày;
7 ngày đối với người lao động sức khỏe còn yếu sau thời gian ốm đau do phẫu
thuật; 5 ngày đối với các trường hợp khác. Mức nghỉ dưỡng sức cụ thể do người sử
dụng lao động và ban chấp hành công đoàn quyết định nhưng không vượt quá mức
tối đa do Nhà nước quy định.
Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe một ngày bằng 25% mức lương
tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức tại gia đình, bằng 40% mức lương tối thiểu
chung nếu nghỉ dưỡng sức tại cơ sở tập trung.
Đối với trường hợp con ốm đau, người lao động nghỉ việc thì được hưởng
bằng 75% mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm của người lao động
trước khi nghỉ.
1.2.1.2. Chế độ bảo hiểm thai sản
Điều kiện hưởng
Theo quy định tại Điều 27 Luật BHXH thì đối tượng được nghỉ việc hưởng
trợ cấp thai sản là lao động nữ là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và thuộc một
trong các trường hợp: lao động nữ mang thai, sinh con; người lao động nam hoặc nữ
nhận nuôi con sơ sinh dưới 4 tháng tuổi theo quy định của Luật hôn nhân và gia
đình có thời gian đóng bảo hiểm từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước
khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai đều
làm việc theo chế độ 3 ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ
0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân; 6 tháng đối với lao động nữ
là người tàn tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật (suy giảm từ 21% trở
lên).
Trong trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ đứa con thứ hai trở
đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày. Trong trường hợp sau khi sinh
con, nếu con dưới 60 ngày tuổi chết thì mẹ được nghỉ việc 90 ngày tính từ ngày sinh
con; nếu con từ 60 ngày tuổi trở lên bị chết thì được nghỉ việc 30 ngày tính từ ngày
con chết nhưng không vượt quá thời gian nghỉ sinh con theo quy định chung là
4,5,6 tháng và không tính vào thời gian nghỉ việc riêng hàng năm theo quy định của
pháp luật lao động.
Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều
tham gia BHXH mà mẹ thì chết sau khi sinh con, thì cha hoặc người trực tiếp nuôi
18
dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi. Thời gian
hưởng chế độ thai sản khi lao động nữ sinh con tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày
nghỉ hàng tuần.
Hết thời hạn nghỉ việc sinh con theo những quy định này, nếu như có nhu
cầu thì người mẹ có thể nghỉ thêm với điều kiện được người sử dụng lao động đồng
ý nhưng không được hưởng trợ cấp BHXH. Trường hợp lao động nữ muốn đi làm
trước khi hết hạn nghỉ sinh con theo quy định thì phải báo trước và được người sử
dụng lao động đồng ý nếu đã nghỉ được từ đủ 60 ngày trở lên tính từ khi sinh con và
phải có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe.
Trong trường hợp này, ngoài tiền lương, tiền công lao động nữ vẫn được hưởng trợ
cấp thai sản cho đến hết thời gian nghỉ theo quy định của pháp luật.
- Thời gian nghỉ khi nhận nuôi con nuôi
Người lao động khi nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi được nghỉ việc
hồi sức khỏe tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu nếu nghỉ dưỡng sức, phục
hồi sức khỏe tại cơ sở tập trung; mức hưởng này tính cả tiền đi lại, tiền ăn và ở.
1.2.1.3. Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng nào
của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn
liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện có hại của nghề nghiệp tác
động đối với người lao động.
Đối tượng và điều kiện hưởng bảo hiểm
Người lao động tham gia BHXH bắt buộc khi đáp ứng được một trong các
điều kiện sau đây thì được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp:
- Làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại hoặc trực tiếp tiếp xúc với môi
trường độc hại theo danh mục do Nhà nước quy định bị bệnh thuộc danh mục bệnh
nghề nghiệp được bảo hiểm do Bộ Y tế và Bộ lao động – Thương binh và xã hội
quy định và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên. Trong trường hợp người
lao động bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp trong thời gian làm việc trong
điều kiện lao động bình thường hoặc không tiếp xúc với các chất độc hại có liên
quan tới bệnh đó thì cần phải tìm hiểu nguyên nhân và nguồn gốc dẫn tới bệnh. Nếu
trước đó người lao động đã từng làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại và
bệnh của họ là hậu quả do thời gian làm việc đó thì cần lưu ý đến thời gian bảo đảm
của bệnh nghề nghiệp. Nếu thời gian bảo đảm còn thì người lao động được hưởng