Một số vấn đề pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

TRỊNH THỊ HƯƠNG
LKT 12 - 04

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 52380107

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: ThS. KHUẤT THỊ THU HIỀN

Hà Nội, 5/2016


LỜI CẢM ƠN
Với niềm yêu thích lĩnh vực bảo hiểm xã hội, em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Một số vấn đề pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật
Việt Nam” để làm khóa luận tốt nghiệp cho mình. Theo sự phân công của Khoa
Luật – Viện Đại học Mở Hà Nội, em được cô giáo Khuất Thị Thu Hiền hướng dẫn,
giúp đỡ hoàn thành khóa luận.
Em xin trân trọng cảm ơn cô Khuất Thị Thu Hiền, người đã luôn khuyến khích,
tạo điều kiện về tài liệu cập nhật, nhiệt tình và tận tâm giúp đỡ em hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp. Cô đã dành nhiều thời gian của mình để hướng dẫn và góp ý cho em
trong suốt thời gian qua. Em xin gửi tới cô lời cảm ơn chân thành nhất.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô
trong khoa Luật củaViện Đại học Mở Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và rèn luyện


Sinh viên thực hiện

Trịnh Thị Hương


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ............................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................2
3. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................2
5. Điểm mới của đề tài nghiên cứu ..........................................................................2
6. Kết cấu đề tài .......................................................................................................3
Với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề xung quanh những quy định của pháp
luật bảo hiểm xã hội, luận văn của em được kết cấu bao gồm các phần sau: .........3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC .. 4
1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................................................4
1.2. Bản chất của bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................................................5
1.3. Sự điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc...............................6
1.3.1. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc nói
riêng và bảo hiểm xã hội nói chung .....................................................................6
1.3.2. Những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội bắt buộc được điều
chỉnh bởi pháp luật ...............................................................................................8
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN.............................. 12
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội bắt buộc ....................12
2.1.1. Đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc ..........................................12
2.1.2. Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc .....................................14
2.1.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ......................................................15

chống lại các rủi ro xã hội. Do vậy, các chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc – sự cụ
thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong cuộc sống hiện nay - đang là mối
quan tâm hàng đầu của người lao động nước ta.
Hiện nay, các chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đang ngày càng được hoàn
thiện và được đầu tư nghiên cứu theo hướng triển khai áp dụng nhiều loại hình bảo
hiểm, bổ sung thêm các nội dung phù hợp hơn, đồng thời mở rộng thêm đối tượng
thụ hưởng trợ cấp và điều chỉnh lại các mức trợ cấp… Các cải cách này nhằm góp
phần tăng chất lượng của các chế độ trợ cấp, phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ, vừa bảo đảm giữ gìn truyền thống đạo lý, tiếp thu được tinh
hoa của nhân loại, vừa mang tính hiện đại thể hiện được tính ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúng ta đang hướng
tới.
Mới đây, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đã bắt đầu có hiệu lực, thay thế cho
Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 với những chủ trương, chính sách mới, bổ sung và
hoàn thiện hơn, đồng thời cũng khắc phục được những điểm còn bất cập và hạn chế
của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006. Luật bảo hiểm xã hội mới có rất nhiều điểm ưu
việt, tạo hành lang pháp lý bảo đảm được sự công bằng trong quyền lợi của người
lao động. Đáng chú ý, Luật bảo hiểm xã hội mới đã hướng tới sự công bằng trong
đóng – hưởng để cải thiện tình hình tài chính quỹ hưu trí, tử tuất, các chính sách
mới đã khắc phục được tình trạng nghỉ hưu trước tuổi… Nhìn chung, trong thời
gian qua, các quy định về bảo hiểm xã hội đã phát huy tích cực trong việc bảo đảm
đời sống cho người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đó cũng còn
1


tồn tại không ít hạn chế và bất cập như tình trạng chậm đóng bảo hiểm xã hội vẫn
xảy ra khá phổ biến, người lao động chưa tiếp cận được với các chính sách mới, số
người không đóng bảo hiểm trong diện đối tượng cần phải đóng đang còn
nhiều…Do đó, các vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộccần tiếp tục được
nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa. Với những lý do đó, em đã chọn đề tài: “Một số
vấn đề pháp lý về bảo hiểm xã hội bắt buộctheo quy định của pháp luật Việt Nam”


sách bảo hiểm xã hội được thể hiện trong các văn bản pháp luật để luận giải các vấn
đề lý luận, thực tiễn, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp
luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Kết cấu đề tài
Với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề xung quanh những quy định của
pháp luật bảo hiểm xã hội, luận văn của em được kết cấu bao gồm các phần sau:
- Lời nói đầu.
- Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội bắt buộc
và thực trạng thực hiện.
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội
bắt buộc.
- Kết luận.

3


CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC
Có lẽ, ai cũng biết rằng con người tồn tại theo một guồng quay, một quy luật
tất yếu của cuộc sống, rằng chúng ta sinh ra, trưởng thành, già yếu và mất đi. Theo
quy luật đó, khi mới sinh ra cần phải dựa vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng của ba mẹ,
lớn lên phải tự lập, tự lao động để có thể tự nuôi sống mình và những người phụ
thuộc. Sự hình thành, tồn tại và phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với
quá trình lao động như một quy luật của cuộc sống. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời
không phải lúc nào con người cũng lao động và luôn tạo ra được thu nhập. Các rủi
ro tiềm ẩn trong các quá trình này luôn là một lực lượng không thể kiểm soát được
và dường như đã trở thành một sức mạnh đe dọa tới sức khỏe, tính mạng và của cải
vật chất trên phạm vi toàn xã hội. Và khi đã rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc

các chính sách xã hội để đảm bảo sự cân bằng về đời sống vật chất cho người lao
động và gia đình họ khi gặp biến cố làm mất hoặc giảm thu nhập từ lao động hướng
tới đảm bảo sự ổn định chung của toàn xã hội.
Sở dĩ khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận với những nội dung đa dạng
như trên bởi trước khi có Luật bảo hiểm xã hội thì không có một văn bản pháp lý
nào quy định một cách cụ thể và chính thức về vấn đề này, hơn nữa sự đa dạng đó
còn được giải thích bởi góc độ tiếp cận và nhu cầu nghiên cứu khác nhau. Là một
loại hình chính yếu của bảo hiểm xã hội, do đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc được định
nghĩa dựa trên định nghĩa của bảo hiểm xã hội, cụ thể theo quy định tại Khoản 1,
Điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay
thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu
nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động
hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Theo đó, bảo hiểm xã hội bắt
buộc được hiểu đúng như định nghĩa về bảo hiểm xã hội nói chung và là loại hình
bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động
phải tham gia.
1.2. Bản chất của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thực chất bảo hiểm xã hội bắt buộc là sự đền bù hậu quả của những “rủi ro xã
hội”. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền
tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội. Như
vậy, bảo hiểm xã hội cũng là quá trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn
xã hội, bảo hiểm xã hội là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho
những thành viên khi phát sinh nhu cầu bảo hiểm xã hội như: Ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết… Vì vậy, thực chất của bảo hiểm xã
hội là thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình
họ.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội.Tuy
nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của bảo hiểm xã hội không tách rời mà đan xen
vào nhau. Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức, phân phối lại thu nhập mà đời sống của
người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những khó khăn, bất trắc,

sản, tai nạn, thất nghiệp, hưu trí, chết… và những khoản trợ cấp khác nhằm ổn định
đời sống của người lao động và gia đình họ.
1.3. Sự điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.3.1. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc nói
riêng và bảo hiểm xã hội nói chung
Pháp luật là công cụ của Nhà nước mang tính cưỡng chế, bắt buộc đối với tất
cả mọi người.Khi bảo hiểm xã hội được pháp luật điều chỉnh thì dù muốn hay
không, người sử dụng lao động và người lao động đều phải thực hiện nghĩa vụ đóng
quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc theo mức mà pháp luật đã quy định. Họ không được
6


trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nếu chủ thể nào vi phạm thì họ
sẽ bị xử lý nghiêm minh tùy theo mức độ nặng nhẹ mà pháp luật quy định. Việc bảo
hiểm xã hội được pháp luật điều chỉnh sẽ tạo ra công bằng trong xã hội, tất cả mọi
người đều làm theo pháp luật, không ai được ưu tiên hơn ai và nếu có trường hợp
ngoại lệ thì cũng được pháp luật quy định công khai, cụ thể.
Hiện nay, các chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc ngày càng được cải thiện
và đổi mới để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước, các chế độ bảo
hiểm xã hội bắt buộc ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với người lao động. Mở
rộng được các đối tượng tham gia, đối với hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc ngày
càng đa dạng và phức tạp như vậy chỉ có pháp luật mới có thể kiểm soát và phát
triển nó theo một hướng nhất định có lợi và việc điều chỉnh của pháp luật với bảo
hiểm xã hội bắt buộc là hết sức cần thiết.
Song song với sự phát triển của nền kinh tế, các mối quan hệ của người sử
dụng lao động và người lao động cũng dần trở nên phức tạp. Có nhiều trường hợp,
ban đầu người chủ sử dụng lao động chỉ cam kết trả công cho người lao động,
nhưng về sau đã phải cam kết việc bảo đảm cho người lao động có một số thu nhập
nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống khi không may bị
ốm đau, tai nạn… Người sử dụng lao động và người lao động đều phải đóng góp

1.3.2. Những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội bắt buộc được điều
chỉnh bởi pháp luật
Thứ nhất: Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Hiện tại, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đã mở rộng đối tượng tham gia bảo
hiểm xã hội hơn nhiều so với trước kia nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa những người
lao động trong các thành phần kinh tế. Chính vì vậy, ta thấy hệ thống bảo hiểm xã
hội thường bắt buộc đối với những người làm công ăn lương thuộc mọi thành phần
kinh tế. Nói chung, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thường là người
lao động. Quyền được hưởng các chế độ trợ cấp và phúc lợi xã hội được xác định
bởi quá trình lao động nghề nghiệp của người được hưởng và khoản thu nhập của
người đóng bảo hiểm thông qua thời gian lao động của người đó. Việc pháp luật
phải quy định cụ thể và chặt chẽ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là để
xác định rõ những ai được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, những ai không
được, tránh nhầm lẫn, nhằm tạo sự công bằng giữa những người lao động; tránh bỏ
sót những đối tượng đáng lẽ được tham gia bảo hiểm nhưng lại không được tham
gia, do đó khi không may gặp khó khăn, rủi ro, bị mất hoặc giảm khả năng lao động
thì không được sự trợ giúp của bảo hiểm xã hội, không được san sẻ rủi ro.
Thứ hai: Phương thức đóng góp và mức đóng góp.
Phương thức đóng góp nói chung đều được trích thẳng từ lương. Nhưng hiện
nay trên thế giới vẫn còn hai quan điểm về phương thức đóng góp của người lao
động và người sử dụng lao động. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào
mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp; quan điểm thứ hai lại
nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối
chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp. Về mức đóng
góp bảo hiểm xã hội bắt buộc, một số nước quy định người sử dụng lao động phải
8


chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ
cấp gia đình, các chế độ còn lại người lao động và người sử dụng lao động cùng

bảo cho toàn bộ hệ thống bảo hiểm xã hội tồn tại và phát triển. Quỹ bảo hiểm xã hội
hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những
người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc giàn trải rủi ro được thực hiện
9


theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh
tế cho người người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả Ngân sách Nhà nước.
Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- Phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước,
đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ.
- Phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được tổ chức Bảo
hiểm xã hội chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời.
- Phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về bảo
hiểm xã hội.
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ bảo hiểm xã hội đều được hình thành từ
các nguồn nêu trên.Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên
tham gia có khác nhau.
Theo mục đích của bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội được sử dụng chủ
yếu để chi trả cho các mục đích sau đây: Chi trợ cấp cho các chế độ bảo hiểm xã hội
(khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất), chi phí cho sự nghiệp
quản lý bảo hiểm xã hội và chi đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội.
Nhà nước quản lý thống nhất chính sách bảo hiểm xã hội, tổ chức bộ máy thực
hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc.Để quản lý bảo hiểm xã hội, Nhà nước sử
dụng các công cụ chủ yếu luật pháp và bộ máy tổ chức.
Thứ tư: Các chế độ chi trả của Bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc là hệ thống các quy định về mức hưởng
của từng trường hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao
động khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm. Các chế độ chi trả
của bảo hiểm xã hội bắt buộc cụ thể như sau:

động đóng góp.

11


CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM
XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.1. Đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Với chức năng chính là để bảo đảm thay thế hoặc bù đắp sự thiếu hụt thu nhập
của người lao động và gia đình họ, bảo hiểm xã hội bắt buộc thực sự là một trong
những chính sách có ý nghĩa nhất đối với người lao động. Khi người lao động thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ thì họ có quyền được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội khi
phát sinh những rủi ro ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tủi già,
chết…. đã làm thu nhập của họ bị giảm sút hoặc mất hẳn. Qua nhiều thời kỳ, cùng
với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cũng với trình độ
chuyên môn và nhận biết về bảo hiểm xã hội của người lao động ngày càng được
nâng cao, cách chủ động khắc phục những khó khăn khi không may gặp phải rủi ro
ngày càng được hoàn thiện. Bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đó đã ra đời và phát triển
chủ yếu nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình
họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Thực hiện theo lộ trình thay đổi từ
năm 2016 tới năm 2018, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có những quy định mới về
quản lý thu bảo hiểm xã hội, quản lý sổ bảo hiểm xã hội, kèm theo đó, đối tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng có những đổi mới nhất định với việc mở
rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hơn nhiều so với trước kia nhằm
tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động trong các thành phần kinh tế.
Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016,
theo đó cơ quan bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Quyết định số 959/QĐBHXH ban hành ngày 09/09/2015 quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế và
sau thời gian thực hiện chính sách bảo hiểm, ta thấy được chính sách bảo hiểm xã

phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ 01/01/2018).
* Người sử dụng lao động
- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;
+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề
nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;
+ Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam;
+ Doanh nghiệp, họp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và
cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
Như vậy, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã được mở rộng đến
người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng, người lao
động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc
chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt
13


Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ và
người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
2.1.2. Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quỹ bảo hiểm xã hội là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói
nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động bảo hiểm xã hội. Việc quản lý sử dụng
quỹ bảo hiểm xã hội (thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội) đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự
tồn tại và phát triển của quỹ bảo hiểm xã hội, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính
sách bảo hiểm xã hội.
Thực chất, quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài
ngân sách Nhà nước và được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người lao động đóng góp;
- Người sử dụng đóng góp;

việc để điều trị ốm đau, tai nạn.
* Đối tượng hưởng trợ cấp ốm đau:
- Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải
nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy
định của Bộ Y tế.
- Người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có
xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Tuy nhiên, trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe,
do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính
phủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau.
* Thời gian hưởng chế độ ốm đau:
Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động
tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và
được quy định như sau:
- Đối với trường hợp người lao động ốm đau:
+ Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng
bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm;
60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.
+ Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên
thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã
đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.
+ Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị
dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau tối đa 180 ngày tính
cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần; Hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau

15



nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm;
 Bằng 50% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi
nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm.

16


+ Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người
làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân hưởng chế độ ốm đau thì
mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề
trước khi nghỉ việc.
+ Mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày được tính bằng mức trợ cấp ốm đau
theo tháng chia cho 24 ngày.
- Ngoài ra, nếu người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian
trong một năm mà trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe
chưa hồi phục thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau:
+ Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ
Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được
tính cho năm trước.
+ Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và
Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động
chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định như sau:
 Tối đa 10 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian
ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày;
 Tối đa 07 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian
ốm đau do phải phẫu thuật;
 Bằng 05 ngày đối với các trường hợp khác.
+ Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng

con hoặc nhận nuôi con nuôi.
- Trường hợp lao động nữ sinh con đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở
lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên
trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
- Người lao động đủ điều kiện được hưởng chế độ thai sản mà chấm dứt hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc
nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
* Thời gian hưởng chế độ thai sản:
-Thời gian hưởng chế độ khi khám thai:
+Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05
lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người
mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi
lần khám thai.
+Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy địnhnêu trên tính theo
ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

18


-Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai
bệnh lý:
Khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ
được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau:
+10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi;
+ 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi;
+40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi;
+ 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.
Lưu ý: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sẩy thai, nạo, hút thai,

thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho
đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
+Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội
mà không nghỉ việc theo quy định trên thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ
thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ.
+ Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh
con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo
xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
+Thời gian hưởng chế độ thai sản được tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày
nghỉ hằng tuần.
- Thời gian hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ
nhờ mang thai hộ:
Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút
thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm
giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy
định là 06 tháng. Trường hợplao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở
đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
+ Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian
hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế
độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng
tuần.
+ Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận
con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
- Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi:
Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ
cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy thì chỉ
cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ.
-Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai:

Điều 37 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì mức hưởng một ngày được tính
bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.
Lưu ý: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên
trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người lao động và người
sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.
- Ngoài ra, trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con lao động nữ có thể đi làm
trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định khi có đủ các điều kiện sau đây:
Sau khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 04 tháng và phải báo trước và được
người sử dụng lao động đồng ý. Ngoài tiền lương của những ngày làm việc, lao
động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản
cho đến khi hết thời hạn theo quy định.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status