Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm xã hội - Pdf 24

Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội
và quỹ Bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội
và quỹ Bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các tác giả:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Phiên bản trực tuyến:
/>MỤC LỤC
1. Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động
2. Khái niệm, đối tượng và chức năng của Bảo hiểm xã hội
3. Tính chất của Bảo hiểm xã hội
4. Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
5. Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội
6. Khái niệm, đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
7. Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội
8. Tạo nguồn
9. Sử dụng nguồn
10. Cơ quan tổ chức thực hiện
Tham gia đóng góp
1/30
Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao
động
Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động.
Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế nhưng chính
quá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc, mặt khác lại là căn
nguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong quá trình lao động và sản
xuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro bất ngờ sảy ra ngoài mong đợi:

hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ xung
từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ
gặp phải những biến cố bất lợi.
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được
dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được bảo đảm ổn định.
Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường,
tránh được những xáo trộn không cần thiết.
Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ- thợ và kết
hợp hài hoà lợi ích giữa các bên:
• Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi
họ kông may bị mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất
và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ sử dụng lao động
và lợi ích của nhà nước.
• Đối với người sử dụng lao động: Giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh tránh
được những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không may
người lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thông
qua bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao động
được giải quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết.
• Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm an
toàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn góp
phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cả
các bên tham gia.
3/30
Khái niệm, đối tượng và chức năng của Bảo
hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động
Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế nhưng chính
quá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc, mặt khác lại là căn
nguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong quá trình lao động và sản
xuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro bất ngờ sảy ra ngoài mong đợi:

hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ xung
từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ
gặp phải những biến cố bất lợi.
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được
dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được bảo đảm ổn định.
Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường,
tránh được những xáo trộn không cần thiết.
Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ- thợ và kết
hợp hài hoà lợi ích giữa các bên:
• Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi
họ kông may bị mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất
và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ sử dụng lao động
và lợi ích của nhà nước.
• Đối với người sử dụng lao động: Giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh tránh
được những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không may
người lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thông
qua bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao động
được giải quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết.
• Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm an
toàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn góp
phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cả
các bên tham gia.
5/30
Tính chất của Bảo hiểm xã hội
Tính chất của Bảo hiểm xã hội
• Tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội:
Chúng ta biết rằng bảo hiểm xã hội ra đời do xuất hiện những mâu thuẫn trong hệ chủ-
thợ. Người lao động trong quá trình lao động khó có thể tránh được những biến cố, rủi
ro, có những trường hợp rủi ro xảy ra như là một tất yếu. Khi đó người sử dụng lao động
cũng rơi vào tình trạng khó khăn bởi sự gián đoạn trong sản xuất kinh doanh. Khi nền

Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
Mục đích của bảo hiểm xã hội thường gắn liền với việc “đền bù” hậu quả của những sự
kiện khác nhau xảy ra trong và ngoài quá trình lao động của những người lao động. Tập
hợp những cố gắng tổ chức “ đền bù” cho những sự kiện đó là cơ sở chủ yếu của các
chính sách bảo hiểm xã hội. Vì thế, năm 1952 Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã ra
công ước 102 quy định tối thiểu về bảo hiểm xã hội và đã được 158 nước thành viên phê
chuẩn. Theo công ước này, hệ thống bảo hiểm xã hội gồm các nhánh sau:
1. Chăm sóc y tế.
2. Trợ cấp ốm đau.
3. Trợ cấp thất nghiệp.
4. Trợ cấp tuổi già.
5. Trợ cấp tai nạn lao động _ bệnh nghề nghiệp.
6. Trợ cấp gia đình.
7. Trợ cấp thai sản.
8. Trợ cấp tàn tật.
9. Trợ cấp mất người nuôi dưỡng.
Ở từng nước, tuỳ theo điều kiện có thể thực hiện có thể thực hiện một số chế độ cơ bản
hoặc mở rộng. Tuy nhiên, ILO quy định rằng các thành viên phê chuẩn công ước phải
thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ nêu trên, trong đó phải có ít nhất một trong các chế độ
3, 4, 5, 8 hoặc 9. Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay ở Việt nam bao gồm:
1.Trợ cấp ốm đau.
2.Trợ cấp thai sản.
1. Trợ cấp tai nạn lao động_ bệnh nghề nghiệp.
2. Trợ cấp hưu trí.
3. Trợ cấp tử tuất.
Ngoài ra ở Châu Âu, các thành viên của cộng đồng châu âu đã ký một đạo luật gọi là
Đạo luật Châu Âu về bảo hiểm xã hội. Đạo luật này về cơ bản tương tự như công ước
102 nhưng ở mức độ cao hơn và những điều kiện chặt chẽ hơn, phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế và xã hội của các nước thuộc cộng đồng châu Âu.
8/30

Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình thành
quỹ bảo hiểm xã hội độc lập, tập trung
Nhờ sự đóng góp của các bên tham gia mà phương thức riêng có của bảo hiểm xã hội
là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu nhập theo cả chiều
dọc và chiều ngang mới được thực hiện. Hơn nữa, nó còn tạo ra mối liên hệ ràng buộc
chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham gia, góp phần tránh những
hiện tượng tiêu cực như lợi dụng chế độ bảo hiểm xã hội.
Phải lấy số đông bù số ít
Bảo hiểm nói chung hoạt động trên cơ sở xác suất rủi ro theo quy luật số lớn, tức là lấy
sự đóng góp của số đông người tham gia san xẻ cho số ít người không may gặp rủi ro.
Trong số đông người tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội, chỉ những người lao động mới
là đối tượng hưởng trợ cấp và trong số những người lao động lại chỉ có những người bị
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay tuổi già có đủ các điều kiện cần thiết mới được
hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu
bảo hiểm xã hội
Việc xác định lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm xã hội thì đã được làm rõ và quyền
lợi luôn đi đôi với trách nhiệm, điều đó đòi hỏi phải có một sự cân đối giữa trách nhiệm
và quyền lợi của mỗi bên tham gia, nghĩa là xác định mức đóng góp của mỗi bên tham
gia phù hợp với lợi ích mà họ nhận được từ việc tham gia đó. Việc thực hiện bảo hiểm
xã hội cho người lao động sẽ không được thực hiện nếu như gánh nặng thuộc về bất cứ
bên nào làm triệt tiêu đi lợi ích mà họ đáng được hưởng.
Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm,
nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu
Trong điều kiện bình thường, người lao động làm việc và nhận được mức tiền công thoả
đáng. Khi gặp các biến cố rủi ro họ được hưởng trợ cấp và nếu như mức trợ cấp này lớn
hơn hoặc bằng mức tiền công của họ thì không lý gì mà họ phải cố gắng làm việc và
tích cực làm việc. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của bảo hiểm xã hội thì
mức trợ cấp bảo hiểm xã hội thấp nhất cũng phải đủ để trang trải các chi phí cần thiết
cho người lao động trong cuộc sống hàng ngày.

Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất của một quỹ, ngoài ra
do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc trưng riêng có sau:
• Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính.
Nghĩa là, phải có một sự cân đối giữa nguồn vào và nguồn ra của quỹ BHXH. Chức
năng của bảo hiểm xã hội là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao động và để thực
hiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn
về tài chính. Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng số tiền hình thành nên quỹ phải
bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ. Tuy nhiên, không phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là được
dùng để chi trả ngay ( nếu vậy đã không tồn tại cái gọi là quỹ BHXH ) mà phải sau một
khoảng thời gian nhất định, đôi khi tương đối dài ( như đối với chế độ hưu trí ) số tiền ấy
mới được chi ra, cùng thời gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do
lạm phát, điều này đặt ra yêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng
mà còn phải bảo toàn về mặt giá trị. Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ BHXH
nước ta quy định “ Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị
và tăng trưởng theo quy định của chính phủ ”.
• Tính tích luỹ.
Quỹ BHXH là “ của để dành ” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi già và đó
là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động. Trong quỹ BHXH
luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm hiện tại để chi trả trong
tương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết để được hưởng trợ cấp (
chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH ). Số lượng tiền trong quỹ có
thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên tham gia và bởi thực hiện các
biện pháp tăng trưởng quỹ.
12/30
• Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để chi trả trợ cấp
cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất hay giảm thhu nhập.
Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng nhận trợ cấp.
Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, điều đó phụ

• Quỹ BHXH lực lượng vũ trang.
• Quỹ BHXH cho nông đân.

Ở mỗi nước, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà có thể thành lập quỹ bảo hiểm xã hội phù
hợp với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ quản lý nhà nước Thông thường, khi mới
thực hiện BHXH các nước thành lập một quỹ chung nhất cho mọi người lao động do:
Trình độ tổ chức và quản lý còn hạn chế, đối tượng BHXH còn hạn hẹp và các chế độ
bảo hiểm xã hội còn ít ( một vài chế độ ). Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức
14/30
độ nhất định, trình độ quản lý được nâng cao, đối tượng tham gia ngày càng lớn thì
xuất hiện những bất cập mà đòi hỏi phải thành lập ra các quỹ BHXH thành phần.
Ở Việt nam, nên chăng chúng ta cũng thành lập ra các quỹ BHXH thành phần và thành
lập theo cách nào là tốt nhất. Việc thành lập theo cách tiếp cận thứ hai và thứ ba đối với
Việt nam trong điều kiện hiện nay dường như không thích hợp vì như thế sẽ đẫn tới tình
trạng quá phân tán nguồn đóng góp của các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ( theo
cách tiếp cận thứ hai chúng ta phải thành lập ra 5 quỹ BHXH tương ứng với 5 chế độ
BHXH hiện hành và theo cách tiếp cận thứ ba thì ít nhất cũng phải thành lập ra không
dưới 5 quỹ BHXH). Trong điều kiện hiện nay, chúng ta nên thành lập ra các quỹ BHXH
thành phần theo cách tiếp cận thứ nhất là hợp lý hơn cả và những lý do sẽ được trình
bày ở phần sau.
15/30
Tạo nguồn
Tạo nguồn
Đối tượng tham gia và đóng góp.
Những câu hỏi cơ bản nhất liên quan đến tài chính BHXH là: Ai đóng góp, đóng góp bao
nhiêu và dựa trên cơ sở nào. Nói chung, các nguồn kinh phí của một hệ thống BHXH có
thể liệt kê như sau: Sự tham gia của Nhà nước, sự tham gia của chính quyền các cấp (
chính quyền tỉnh và địa phương ); những khoản thuế đã được nhắm trước hoặc phân bổ
cho BHXH; Đóng góp của người tham gia bảo hiểm xã hội, của chủ sử dụng lao động;
Thu nhập từ đầu tư và các khoản thu nhập khác. Trong đó nguồn thu nhập chủ yếu của

cấp thì mức trợ cấp cũng được căn cứ vào mức thu nhập khi còn làm việc của người lao
động. Phương thức này được áp dụng phổ biến nhất trên thế giới.
• Đóng góp theo nhóm tiền công:
Trong từng nhóm tiền công có các mức tiền công và đối với mỗi mức tiền công sẽ có
một mức đóng góp tương ứng theo mức độ luỹ tiến. Nhóm tiền công cũng có thể được
sử dụng như là một công cụ thúc đẩy việc phân phối lại nguồn quỹ giữa các thành viên.
• Đóng góp theo tỷ lệ đặc biệt:
Một số nước dựa vào mức đóng góp theo một tỷ lệ đặc biệt dựa vào sự khác biệt giữa
các công việc của người lao động. Chẳng hạn trong chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, tỷ
lệ đóng góp thay đổi tuỳ theo ngành công nghiệp và mức độ rủi ro của mỗi ngành nghề.
Xác định mức đóng góp.
Nói chung, xác định mức đóng góp BHXH dựa trên một cơ chế tài chính là cân đối giữa
thu và chi. Có thể xác định mức đóng góp và, trên cơ sở đó xác định mức hưởng hoặc
cũng có thể xác định mức hưởng trước rồi xác định mức đóng góp. Cho dù thực hiện
theo cách nào thì vẫn phải đảm bảo sự cân đối giữa tổng số tiền hình thành quỹvà tổng
số tiền được chi ra từ quỹ.
Hệ thống “ trợ cấp xác định ” và hệ thống “ đóng góp xác định ”:
-Hệ thống “ đóng góp xác định ”: Hệ thống này xác định người lao động nên giành bao
nhiêu tiền cho tuổi già của mình chứ không phải là họ sẽ xứng đáng được nhận trợ cấp
là bao nhiêu. Ưu điểm của hệ thống này là nó không phải chịu bất cứ sự mất cân bằng
nào về tài chính và không bao giờ phải tăng mức đóng góp lên cả. Nhưng nhược điểm
của nó là do có rất nhiều rủi ro nên một số hoặc tất cả mọi người lao động có thể bị
chấm dứt được nhận trợ cấp tuổi già, mức trợ cấp này thấp hơn rất nhiều so với mục
tiêu đã đặt ra.
- Hệ thống “ trợ cấp xác định ”: Ưu điểm chính của hệ thống này là nó cho phép người
lao động được bảo đảm về tài chínhởmức độ cao hơn ở tuổi già, tuy nhiên nhược điểm
của hệ thống này là đôi lúc gặp phải rắc rối về tài chính mà vấn đề này cần thiết phải
tăng mức đóng góp và hoặc giảm mức trợ cấp.
17/30
Quốc gia nào áp dụng ? . Hệ thống bảo hiểm xã hội mà có chế độ tuổi già ở hầu hết

• Chi phí hành chính được dùng để trang trải cho các hoạt động sự nghiệp.
Những người thực hiện BHXH suy cho cùng họ không thể uống nước lã mà
sống ( thậm chí nước lã cũng mất tiền ) và thêm vào đó là các khoản chi phí để
18/30
xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng Nguồn tài chính tài trợ cho các chi phí này là
từ quỹ BHXH. Chi phí hành chính bị ảnh hưởng bởi cả thời gian thành lập và
độ lớn của tổ chức BHXH. Các tổ chức BHXH mới thành lập thường có chi phí
hành chính cao hơn bởi những hệ thống này còn đang trong giai đoạn học hỏi
để hoạt động có hiệu quả. Những hệ thống BHXH nhỏ có chi phí hành chính
cao hơn gắn với mức đóng góp bởi vì những hệ thống này không thể thực hiện
lợi thế của tiết kiệm do mở rộng quy mô do những chức năng hành chính được
chuyên môn hoá cao hơn và khả năng dàn trải chi phí cố định đối với chi phí
hành chính ra cho nhiều người tham gia.
• Phần an toàn được thiết lập để đối phó với những biến cố xảy ra trong tương lai
và được dùng tới khi mức trợ cấp vượt quá so với dự tính.
19/30
Sử dụng nguồn
Sử dụng nguồn
Điều kiện hưởng trợ cấp
Như đã nêu, không phải tất cả những người tham gia đều được nhận trợ cấp và không
phải ai cũng nhận được một khoản trợ cấp như nhau mà chỉ khi họ thực sự bị mất hay
giảm thu nhập. Nghĩa là họ gặp phải các rủi ro trong quá trình lao động và trong cuộc
sống. Các rủi ro này có thể là:
• Theo nguyên nhân:
+ Những rủi ro thể chất: Làm giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do những nguyên
nhân nghề ngiệp như bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc không do nguyên
nhân nghề nghiệp như ốm đau, sinh đẻ, tuổi già làm cho sức lao động của đối tượng bị
giảm sút hoặc mất hẳn.
+ Rủi ro kinh tế: Loại rủi ro này cũng làm giảm hoặc mất thu nhập do sức lao động
không được sử dụng. Đó là trường hợp thất nghiệp.

Xác định mức trợ cấp
Theo quan điểm của BHXH, mức trợ cấp phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm,
nhưng phải đảm bảo mức sống tối thiểu. Nhưng mức trợ cấp là bao nhiêu ?. chúng ta
biết rằng mục đích của BHXH là bù đắp lại một phần thu nhập đã bị mất và góp phần ổn
định cuộc sống cho người lao động. Do đó, để xác định mức trợ cấp người ta dựa vào:
• Mức giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động. Khi những
rủi ro xảy ra, mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau dẫn tới việc giảm
thu nhập khác nhau. Do đó, mức trợ cấp BHXH phải căn cứ vào mức suy giảm
thu nhập để có thể bù đắp một cách hợp lý. Tuy nhiên đối với cả một tập hợp
người lao động với những mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau và do
đó mức suy giảm thu nhập khác nhau thì cần phải tính toán những “ thiếu hụt
có tính xã hội ” chung, có khả năng đại diện cho mọi người lao động trong các
trường hợp cụ thể.
• Những chi phí cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người lao động: Đó
là các khoản chi phí để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu như: nhu cầu ăn, ở,
mặc, đi lại, nhu cầu chữa bệnh, nhu cầu học tập Đây là những khoản chi phí
cần thiết khách quan và phải tuỳ thuộc vào khả năng của nền kinh tế quốc dân
cũng như khả năng tài chính của cơ quan BHXH mà có thể xác định những chi
phí cần thiết đó, đáp ứng mức độ nhất định nhu cầu đòi hỏi.
• Mức và thời gian đóng BHXH: Mối liên hệ giữa mức đóng và mức hưởng liên
quan chặt chẽ với nhau, và mặc dù những chi phí như đã nêu trên là khách quan
và chính đáng nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu đó lại phụ thuộc rất nhiều vào
lượng vất chất (tiền) của quỹ BHXH. Quỹ này lại được tạo ra từ sự đóng góp
của các đối tượng tham gia. Để thực hiện sự tương đương giữa đóng và hưởng
21/30
BHXH, các mức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp phải căn cứ vào mức và thời
gian đóng phí BHXH của người lao động và, về nguyên tắc, ai đóng cao hơn và
lâu hơn sẽ được hưởng mức trợ cấp cao hơn và dài hơn.
Theo công ước 102 của ILO: khoản trợ cấp BHXH cho thai sản không thể thấp hơn 2/
3 thu nhập trước khi sinh và khuyến cáo các nước nên tăng mức trợ cấp thai sản bằng

Bảng : Quản lý Nhà nước và tư nhân các hình thức quỹ BHXH.
23/30

Trích đoạn Chương trình Thư viện Học liệu Mở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status