Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện tại tỉnh lạng sơn - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU LINH TRANG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU LINH TRANG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Thị Hằng

Bảo hiểm xã hội

2

NLĐ

Người lao động

3

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

4

TNLĐ, BNN

Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

5

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

6

BHYT


Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ
NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT
BUỘC ................................................................................................................ 5
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội bắt buộc ....................................... 5
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc .............................................. 5
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc ............................................. 8
1.2. Nội dung pháp luật hiện hành về bảo hiểm xã hội bắt buộc ................ 10
1.2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc .............................. 10
1.2.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ........................................... 14
1.2.3. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc ...................................................... 33
1.2.4. Trình tự, thủ tục giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 35
1.2.5. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt
buộc ......................................................................................................... 39
Chương 2.THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC TẠI TỈNH LẠNG SƠN ............................................................. 45
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn .................. 45
2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tỉnh
Lạng Sơn ..................................................................................................... 47
2.2.1. Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ......................... 48
2.2.2. Về các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ....................................... 52
2.2.3. Về quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................. 55
2.2.4. Về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt
buộc ......................................................................................................... 57


Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ
HỘI BẮT BUỘC TẠI TỈNH LẠNG SƠN ..................................................... 61
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc................. 61
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc .. 64

hội nói chung. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 được ban hành và có hiệu lực
ngày càng đảm bảo ổn định đời sống xã hội, đặt quyền lợi của người lao động
lên hàng đầu nhưng việc triển khai thực hiện có hiệu quả lại là một thách thức
lớn.
Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, có cơ
cấu dân số trẻ với nguồn lao động khá dồi dào. Trong sự nghiệp đổi mới,


2

Đảng bộ và chính quyền nhân dân trong tỉnh đang cố gắng vượt qua khó
khăn, từng bước đưa Lạng Sơn thành tỉnh có kinh tế, văn hóa phát triển, quốc
phòng an ninh được giữ vững. Là tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số chiếm số
đông nên trình độ hiểu biết của người dân về pháp luật nói chung và pháp luật
về bảo hiểm xã hội nói riêng còn hạn chế. Để tìm hiểu, nghiên cứu rõ hơn về
những khía cạnh của bảo hiểm xã hội bắt buộc, đặc biệt là quá trình thực hiện
những quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc trên thực tế, tác giả
lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực
hiện tại tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đặc biệt khi Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 được
ban hành đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài tạp chí viết về vấn
đề bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ở phạm vi và mức độ khác nhau, các công trình
nghiên cứu, bài viết đã đề cập đến các quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc
nói chung và các chế độ của BHXH bắt buộc nói riêng, điển hình như:
- Vụ bảo hiểm xã hội (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế
độ bảo hiểm xã hội bắt buộc giai đoạn đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ.
- TS. Nguyễn Hiền Phương (Chủ biên, 2015), Bình luận khoa học một số
quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Đề tài nghiên cứu khoa học

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là tìm hiểu để làm rõ những vấn đề lý luận về
BHXH bắt buộc, thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về BHXH bắt buộc
và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn. Từ đó, đề xuất một số giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về BHXH bắt buộc trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Với mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định
trên những khía cạnh sau:
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về BHXH bắt buộc.
- Phân tích thực trạng các quy định pháp luật về BHXH bắt buộc.
- Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn.


4

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về BHXH bắt
buộc và nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở
phương pháp luận của triết học Mác – Lenin, quan điểm duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với
từng lĩnh vực của đề tài như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống
kê...cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về BHXH bắt buộc.
- Đánh giá đầy đủ và toàn diện thực tiễn thực hiện các quy định của pháp
luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định
của pháp luật về BHXH bắt buộc.

ra đời xuất phát từ nhu cầu đó. Bảo hiểm xã hội thể hiện sự chuyển giao, san
sẻ rủi ro giữa những người cùng tham gia bảo hiểm trên cơ sở những nguyên
tắc, chuẩn mực đã được thống nhất và quy định trước, nhằm đảm bảo an toàn,
ổn định sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội của những người tham gia bảo
hiểm và cộng đồng xã hội. Bảo hiểm xã hội là công cụ quan trọng và có hiệu
quả nhất để khắc phục hậu quả tổn thất khi xảy ra rủi ro.
BHXH có mầm mống từ hàng trăm năm trước đây khi nền kinh tế hàng
hóa hình thành và phát triển. Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XIX, dưới
thời Thủ tướng Bismarck của nước Đức cổ, tính xã hội của BHXH đã được
chú ý đến. Vào năm 1850, chế độ bảo hiểm đầu tiên được thực hiện là chế độ
ốm đau, nhằm san sẻ rủi ro giữa những người lao động khi một số người trong
số họ không may bị ốm đau phải tạm thời nghỉ việc. Kể từ đó các xu hướng
phát triển của BHXH được mở rộng dần và ý tưởng bảo vệ người lao động
nghèo, thu nhập thấp cũng được hình thành. Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX,
BHXH đã phát triển mạnh mẽ ở các nước công nghiệp của châu Âu và sau
chiến tranh thế giới lần thứ II đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới với


6

hình thức và mô hình phong phú1. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã
thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và coi đó là một trong những chính sách
xã hội quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội.
BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau nên
hiện nay tồn tại nhiều quan điểm về BHXH.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì BHXH là: “sự bảo đảm những quyền lợi
vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì ốm đau, sinh đẻ, già
yếu, bị tai nạn lao động”2.
Theo Từ điển Luật học, BHXH là chế định pháp luật lao động, gồm các
quy phạm pháp luật quy định về chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai

BHXH theo Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là: “sự bảo
đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết
tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Như vậy, qua việc tìm hiểu các quan điểm trên, có thể hiểu BHXH là
một hình thức bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho NLĐ trong trường hợp bị
giảm hoặc mất khả năng lao động, nhằm bảo đảm thỏa mãn những nhu cầu
sinh sống thiết yếu của họ.
BHXH bao gồm 2 hình thức là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
BHXH bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật BHXH 2014 là “loại
hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia”.
NLĐ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH, NSDLĐ cũng phải có
trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ làm việc cho mình và tất cả các hoạt động
BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật quy định. Nhà nước thực
hiện trong khuôn khổ pháp luật với những quy định về đóng góp mang tính
bắt buộc nhằm đảm bảo chắc chắn, ổn định và bền vững cho quỹ BHXH bắt
buộc. Loại hình BHXH bắt buộc được thực hiện tại các nước trên thế giới đều
mang mục đích là bảo đảm quyền lợi cho NLĐ và hỗ trợ về vật chất cho NLĐ
khi họ gặp phải rủi ro, biến cố hoặc hết tuổi lao động...dẫn đến bị ngừng hoặc
giảm thu nhập.
Vậy, có thể hiểu BHXH bắt buộc là: “sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp
một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp rủi ro làm giảm hoặc
mất khả năng lao động do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở nghĩa vụ bắt buộc tham gia
của người lao động và người sử dụng lao động”. Đối tượng tham gia BHXH
bắt buộc là cả NLĐ và NSDLĐ và cùng có nghĩa vụ phải đóng góp vào quỹ
BHXH. Nói cách khác, các đối tượng không có quyền lựa chọn tham gia hay
không tham gia mà họ phải tham gia hình thức BHXH bắt buộc này khi thuộc





9

trong cuộc sống. BHXH bắt buộc là nguồn hỗ trợ vật chất và nguồn động viên
tinh thần to lớn đối với cuộc sống của NLĐ và gia đình của họ.
* Đối với người sử dụng lao động
BHXH bắt buộc thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của NSDLĐ đối với
NLĐ – đối tượng mà NSDLĐ khai thác lợi ích bằng sức lao động của họ.
Đóng góp vào quỹ BHXH trở thành trách nhiệm của NSDLĐ để bảo vệ NLĐ.
Từ việc tham gia BHXH, NSDLĐ cũng sẽ giảm bớt được gánh nặng tài chính
khi phải trực tiếp bù đắp cho NLĐ gặp biến cố, rủi ro trong lao động. Sự chia
sẻ này là cơ sở giúp cho NSDLĐ có thể ổn định, xây dựng chiến lược và phát
triển hoạt động sản xuất, kinh doanh.
BHXH bắt buộc giúp cho các tổ chức sử dụng lao động nói chung hay
các doanh nghiệp nói riêng ổn định hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh
thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý. Qua đó,
BHXH bắt buộc góp phần làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn
định, sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả, các bên trong quan hệ lao
động cũng gắn bó với nhau hơn. BHXH bắt buộc tạo điều kiện cho NSDLĐ
có trách nhiệm với NLĐ, không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong
suốt cuộc đời NLĐ, khiến cho BHXH bắt buộc có tính nhân văn sâu sắc hơn.
* Đối với Nhà nước và xã hội
BHXH là công cụ quan trọng giúp Nhà nước thực hiện chức năng xã hội
hiệu quả hơn nhằm đạt tới mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội. Thông qua
các quy định về BHXH đối với NLĐ và NSDLĐ, Nhà nước thực hiện việc
phân phối thu nhập, điều tiết quyền và lợi ích của các bên, đảm bảo sự công
bằng trong việc giải quyết hậu quả của rủi ro, bất trắc xảy ra. Việc chi trả
BHXH được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn

một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả
hợp đồng lao động được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện theo pháp
luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
dưới 03 tháng;
- Cán bộ, công chức, viên chức;


11

- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác
trong tổ chức cơ yếu;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân;
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an
nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo
học được hưởng sinh hoạt phí;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có
hưởng tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn;
- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có
giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt
buộc theo quy định của Chính phủ.
Như vậy, so với Luật BHXH năm 2006, Luật BHXH 2014 đã bổ sung
thêm một số nhóm đối tượng nhằm bảo đảm tốt nhất quyền lợi của NLĐ, cụ
thể như sau:

* Người sử dụng lao động
Đối tượng là NSDLĐ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
- Cơ quan nhà nước;
- Đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội –
nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;
- Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam;
- Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức
khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
5

Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội (2012), Báo cáo tổng kết đánh giá thi hành Luật bảo hiểm xã hội, Hà
Nội.


13

Đối tượng là NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc được quy định cụ thể, rõ
ràng nhằm khẳng định vai trò quan trọng của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức
trong việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ, đảm bảo quyền
tham gia và thụ hưởng BHXH.
Tại cuộc Hội thảo quốc tế do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tổ chức ngày 29/03/2017 mới đây tại Hà
Nội, Việt Nam đặt mục tiêu vào năm 2020 sẽ có một nửa lực lượng lao động
tham gia BHXH. Trong thời gian qua, nhận được sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước, chính sách BHXH đã từng bước được hoàn thiện, đối tượng tham
gia và thụ hưởng các chế độ BHXH ngày càng gia tăng. Năm 2016, có trên 13
triệu người tham gia BHXH, chiếm khoảng 28% lực lượng lao động trong độ
tuổi. Hàng năm, có khoảng 4-5 triệu người được hưởng các chế độ BHXH

gia đình của họ. Luật BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành
quy định cụ thể, chi tiết về đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng và
thời gian hưởng của chế độ ốm đau.
* Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ ốm đau
Đối tượng áp dụng chế độ ốm đau được quy định cụ thể tại Điều 24 Luật
BHXH năm 2014, chủ yếu là các đối tượng thuộc đối tượng tham gia BHXH
bắt buộc trừ đối tượng là người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và NLĐ là công
dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.
Luật BHXH năm 2014 và Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày
29/12/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đã có
quy định cụ thể về điều kiện hưởng chế độ ốm đau. NLĐ được hưởng chế độ
ốm đau khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động hoặc điều trị
thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ
việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy
định của Bộ Y Tế.
- Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
- Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con mà thuộc một
trong hai trường hợp nêu trên.


15

Như vậy, pháp luật quy định rõ ràng các trường hợp là cơ sở để NLĐ
được hưởng chế độ ốm đau. Theo đó, những trường hợp NLĐ bị tai nạn, ốm
đau mang tính khách quan (không phải do lỗi của NLĐ) mới trở thành điều
kiện hưởng chế độ ốm đau. Chính vì vậy, luật quy định loại trừ các trường

- Đối với NLĐ nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị
dài ngày do Bộ Y tế ban hành: được nghỉ tối đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ,
nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần; hết thời hạn 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị
thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng
tối đa bằng thời gian đã đóng BHXH. So với Luật BHXH năm 2006, Luật
BHXH năm 2014 đã quy định giới hạn thời gian hưởng trợ cấp sau thời hạn
180 ngày. Cụ thể, thời gian hưởng chế độ ốm đau tối đa đối với người mắc
bệnh cần điều trị dài ngày, cao nhất là bằng thời gian đã đóng BHXH. Sự giới
hạn này là hợp lý, đảm bảo được nguyên tắc đóng - hưởng trong lĩnh vực bảo
hiểm, cân đối được quỹ BHXH và tạo thuận lợi cho công tác tổ chức thực
hiện giải quyết chế độ ốm đau cho NLĐ.
- Đối với trường hợp NLĐ nghỉ chăm con ốm đau: Thời gian hưởng chế
độ khi con ốm đau được xác định theo tuổi của con và cũng tính trong phạm
vi 1 năm. Nếu con dưới 3 tuổi ốm đau thì thời gian nghỉ chăm sóc con được
hưởng bảo hiểm tối đa 20 ngày làm việc, nếu con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi
là 15 ngày làm việc (không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hàng tuần).
Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH thì cả hai đều được hưởng
chế độ khi chăm sóc con ốm đau, thời gian nghỉ của mỗi người theo các quy
định nêu trên.
Việc quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau phụ thuộc vào các yếu tố
về điều kiện lao động, tình trạng bệnh tật, thời gian đóng BHXH và độ tuổi
của con bị ốm đau là hợp lý, đã thể hiện được sự công bằng và phù hợp với
thực tế hiện nay. Tuy nhiên, luật BHXH chưa có sự phân biệt về thời gian
hưởng chế độ BHXH ốm đau để chăm sóc con ốm tùy theo tình trạng và mức
độ bệnh tật của con. Chính vì vậy, trong trường hợp con mắc các bệnh cần
điều trị dài ngày thì thời gian nghỉ vẫn chỉ như các trường hợp ốm đau thông
thường là chưa hợp lý.


17



18

hợp lý, đảm bảo công bằng đối với những NLĐ làm việc 22 ngày/ tháng hoặc
24 ngày/tháng.
Về chế độ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe, Luật BHXH năm 2014 cũng
đã quy định cụ thể và chi tiết hơn. NLĐ đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ
thời gian trong một năm, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc
mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05
ngày đến 10 ngày trong một năm. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần. Trường hợp có
thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp
sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước. Số ngày nghỉ
dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do NSDLĐ và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở
quyết định.
Ngoài ra, Luật BHXH năm 2014 cũng bỏ quy định chế độ nghỉ tại nhà và
ở các cơ sở tập trung mà thay vào đó thống nhất điều kiện và mức hưởng là
30% mức lương cơ sở với 3 mức thời gian hưởng tối đa là 5, 7 và 10 ngày với
tùy từng trường hợp ốm đau. Mức hưởng và thời gian hưởng quy định như
vậy là hợp lý, thể hiển rõ tính chất hỗ trợ NLĐ phục hồi sức khỏe sau ốm đau.
1.2.2.2. Chế độ thai sản
* Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản
Theo quy định tại Điều 30 Luật BHXH năm 2014 thì đối tượng áp dụng
chế độ thai sản phải thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. NLĐ được hưởng
chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Lao động nữ
mang thai; Lao động nữ sinh con; Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ
mang thai hộ; NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; Lao động nữ đặt
vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản; Lao động nam đang đóng
bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status