Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức từ thực tiễn tỉnh Thái Bình (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒ KHÁNH LY

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG
VIÊN CHỨC TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số

: 60. 38. 01. 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƢƠNG

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức từ
thực tiễn tỉnh Thái Bình” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

NGUYỄN HỒ KHÁNH LY



từ thực tiễn tỉnh Thái Bình .............................................................................. 62
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 72


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã trải qua hơn 30 năm kể từ Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 của Đảng đã được nhiều thành
công quan trọng. Bên cạnh những mục tiêu, nhiệm vụ đã được đặt ra, một trong
những trọng tâm được nêu trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XII là: “Phát huy nhân tố con người trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân
cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc...”,“xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng,
có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong,
gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá
nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân”, “Đẩy mạnh xã hội hóa,
tách cung ứng dịch vụ công về quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng
quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ
quan quản lý nhà nước;...” [7]. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường xã hội
chủ nghĩa, sự hội nhập quốc tế cùng với quá trình xã hội hóa các dịch vụ công
của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng được khẳng định
và đòi hỏi nâng cao. Năng lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ viên chức ngày
càng được Đảng, Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm.
Viên chức là một đội ngũ hoạt động nghề nghiệp lớn ở nước ta hiện
nay. Việc lựa chọn đội ngũ viên chức có năng lực tốt, phẩm chất đạo đức tốt,
đáp ứng được các yêu cầu của vị trí việc làm và nhu cầu của xã hội là một tiền
đề quan trọng để phát triển kinh tế và xã hội. Luật Viên chức được ban hành
vào ngày 15 tháng 11 năm 2010 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, việc nghiên cứu về pháp luật
viên chức nói chung và việc tuyển dụng viên chức nói riêng đã được nhiều tác
giả quan tâm và đã có nhiều công trình khoa học được công bố. Có thể kể đến
một số công trình như:
-Bộ Nội vụ (2016), “Điều tra, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp
xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta”;
- PGS.TS Nguyễn Minh Đoan (2010), Thực hiện và áp dụng pháp luật
ở Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội;
2


- Lê Minh Hương (2012), “Một số vấn đề về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý viên chức theo Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ”, Tạp
chí Tổ chức Nhà nước số 5;
- Hoàng Minh Tuấn (2016), “Đổi mới chính sách tuyển dụng viên chức
trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn”, Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật số 5;
- Nguyễn Huy Hoàng (2011), “Tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự
nghiệp công lập ở nước ta hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ;
- Nguyễn Ngọc Bích (2016), “Pháp luật về tuyển dụng viên chức ở
nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ; .v.v..
Các công trình nghiên cứu khoa học trên chủ yếu đề cập đến nội dung
viên chức và pháp luật về tuyển dụng viên chức nói chung. Các công trình
nghiên cứu khoa học nêu trên là một nguồn tài liệu quý báu để tác giả học hỏi,
tham khảo để hoàn thiện đề tài tác giả đã lựa chọn. Tuy nhiên, cho đến nay
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thực hiện pháp luật
tuyển dụng viên chức một cách hệ thống, đầy đủ. Với mong muốn nghiên cứu
một cách tổng quát về thực hiện pháp luật tuyển dụng viên chức và thực tiễn

- Phạm vi không gian: Viên chức trong các cơ quan chuyên môn và các
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện trong
phạm vi tỉnh Thái Bình;
- Phạm vi thời gian: từ khi Luật Viên chức có hiệu lực thi hành vào
ngày 01 tháng 01 năm 2012 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn thực hiện trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của học thuyết Mac-Lênin; tư tưởng Hồ Chí
Minh; những quan điểm, đường lối, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng về viên
chức.
Luận văn cũng vận dụng một số học thuyết phổ biến trong quá trình
nghiên cứu về tổ chức quyền lực nhà nước như: học thuyết nhà nước pháp
quyền, học thuyết về phân chia quyền lực.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: được áp dụng chủ yếu trong Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên
4


chức, chương 3 - Quan điểm và giải pháp bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp
luật về tuyển dụng viên chức từ thực tiễn tỉnh Thái Bình.
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh: được áp dụng chủ yếu
trong chương 2- Thực trạng thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức tại
tỉnh Thái Bình, ...
Ngoài ra, luận văn còn áp dụng phương pháp tiếp cận đa ngành, liên
ngành và một số phương pháp thông dụng trong nghiên cứu lĩnh vực khoa học
xã hội như: phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp xã hội
học…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về thực hiện pháp luật

Pháp luật là một công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều chỉnh các
quan hệ xã hội, củng cố và phát triển các quan hệ xã hội, đảm bảo lợi ích của
các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Việc ban hành pháp luật không phải chỉ
chú trọng về số lượng, mà cần tập trung vào chất lượng, tức là pháp luật được
ban hành phải được thực hiện một cách nghiêm túc trong xã hội, mang lại
hiệu quả như mục đích đã đặt ra khi xây dựng pháp luật điều chỉnh các mối
quan hệ đó. Do vậy, việc xây dựng và thực hiện pháp luật là hai hoạt động
luôn song hành cùng nhau.
Hiện nay, ở nước ta có nhiều quan điểm khác nhau về thực hiện pháp luật:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá
trình có mục đích làm cho những những quy định của pháp luật trở thành
hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”[14,tr.349]. Theo quan điểm này
thì tất cả những xử sự phù hợp với các yêu cầu của các quy phạm pháp luật
đều được coi là sự thực hiện pháp luật. Đó là các xử sự (hành động hay không
hành động) của các cá nhân, tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật,
phù hợp với lợi ích của xã hội, nhà nước và công dân.
Từ một góc nhìn khác, PGS.TS Nguyễn Minh Đoan quan niệm: “Thực
hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định
của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế hợp
pháp của các chủ thể pháp luật”[9,tr.15]. Như vậy, thực hiện pháp luật là việc
xác lập các hành vi hợp pháp, những hành vi không trái với pháp luật, nằm
trong giới hạn quy định của pháp luật của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.

6


Theo tư tưởng về thực hiện pháp luật của môn học Lý luận chung về
nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động
có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong

nước” để chỉ tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp[24,tr.23].
Tại Hiến pháp năm 1980, 1992 thuật ngữ “cán bộ, viên chức nhà nước” đã
được sử dụng.
Pháp lệnh cán bộ công chức 1998, Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa
đổi, bổ sung 2003 và các văn bản hướng dẫn có thể thấy khái niệm viên chức
dần được hình thành một cách rõ nét hơn và được khái quát như sau: “Viên
chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự
nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội hưởng lương
từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp
luật.” (Điều 2, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính
phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn
vị sự nghiệp Nhà nước). Đến Luật Viên chức năm 2010 được Quốc hội khóa
XII ban hành thì khái niệm viên chức đã được nghiên cứu, xây dựng một cách
riêng biệt, cụ thể và toàn diện. Theo đó, tại Điều 2 Luật Viên chức thì“Viên
chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại
các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, viên chức là công dân Việt Nam, làm việc theo vị trí việc làm
trong các đơn vị sự nghiệp công lập về các lĩnh vực (giáo dục và đào tạo, y
tế, khoa học, văn hóa, thông tin, thể thao,...) theo chế độ hợp đồng làm việc,
nhằm cung cấp dịch vụ công cơ bản, thiết yếu cho nhân dân và xã hội và
phục vụ cho công tác quản lý nhà nước.
1.1.1.3. Tuyển dụng viên chức
Hiểu một cách đơn giản và khái quát nhất thì “tuyển dụng” là việc lựa
chọn để sử dụng người làm việc phù hợp với vị trí việc làm. Với cách hiểu
như vậy, bất kỳ cơ quan, đơn vị, tổ chức nào có nhu cầu về nhân lực thì đều
phải tiến hành hoạt động tuyển dụng. Tại Điều 3, Luật Viên chức đã nêu rõ
8

thống pháp luật về viên chức, là sự thể chế hóa các quan điểm, đường lối của
Đảng, Nhà nước về tuyển chọn, quản lý con người nhằm nâng cao chất lượng
9


đội ngũ viên chức [24,tr.21]. Hiện nay, về cơ bản, pháp luật về tuyển dụng viên
chức đã được quy định chặt chẽ về thẩm quyền tuyển dụng, hình thức tuyển
dụng, các bước thực hiện tuyển dụng việc ký hợp đồng lần đầu, chế độ tập
sự,... Theo quy định của pháp luật hiện nay, việc tuyển dụng viên chức phải
căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề
nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Tóm lại, có thể hiểu pháp luật về tuyển dụng viên chức là tổng thể các
quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm
thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình lựa chọn người có
đủ các điều kiện, tiêu chuẩn vào làm viên chức trong các đơn vị sự nghiệp
công lập.
1.1.1.5.Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức
Như đã phân tích ở các nội dung trên, thực hiện pháp luật về tuyển
dụng viên chức là giai đoạn quan trọng thứ hai sau khi văn bản pháp luật được
ban hành, là quá trình mang tính ý chí chủ quan của các chủ thể pháp luật
trong tuyển dụng viên chức nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật về tuyển
dụng viên chức. Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là quyền và
nghĩa vụ của mọi tổ chức, các nhân khi tham gia quan hệ về tuyển dụng viên
chức. Có nhiều quy định pháp luật về tuyển dụng viên chức bắt buộc các chủ
thể pháp luật phải tuân thủ, thi hành. Bên cạnh đó có những quy định của
pháp luật về tuyển dụng viên chức, trong quyền hạn cho phép của pháp luật,
các chủ thể có thể tự do thực hiện các hành vi của mình nhằm đạt được mục
đích trong hoạt động tuyển dụng viên chức.
Từ những nhận định trên có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về tuyển
dụng viên chức là hoạt động thực tiễn, có mục đích của các cá nhân, tổ chức

xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể. Hành vi
thực hiện pháp luật là hành vi được xem xét dưới góc độ có ích cho tập thể và
xã hội. Thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là hành vi (hành động
hay không hành động) được tiến hành phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi và trong
phạm vi quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức, do vậy nó là hành vi
hợp pháp [9,tr.12]. Thực hiện pháp luật tuyển dụng viên chức là hành vi hợp
pháp mà trong đó pháp luật đã cho quy định quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể đối
11


với từng chủ thể khác nhau. Nếu vượt quá những quy định này thì hành vi đó
là vi phạm pháp luật.
Thứ ba, thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là nghĩa vụ của tất
cả các tổ chức và cá nhân. Hiện nay, chủ thể thực hiện pháp luật được coi là
mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Pháp luật mang tính bắt buộc chung, không
phân biệt một cá nhân hay tổ chức riêng biệt nào, mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật [9,tr.13]. Do vậy, tất cả các cá nhân, tổ chức đều có nghĩa vụ
tuân thủ, thực hiện pháp luật. Đây là một đặc điểm thể hiện về quyền bình
đẳng trước pháp luật đã được ghi nhận trong đạo luật cơ bản. Thực hiện pháp
luật về tuyển dụng viên chức là nghĩa vụ của tất cả các chủ thể khi tham gia,
không ai có một đặc quyền ưu tiên hay bị hạn chế thực hiện các hành vi mà
pháp luật về tuyển dụng viên chức không cho phép.
Thứ tư, thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức được tiến hành
thông qua nhiều hình thức và với những quy định khác nhau. Mỗi loại quy
phạm pháp luật khác nhau có cách thức và quy trình thực hiện khác nhau. Các
hình thức thực hiện pháp luật được sử dụng một cách phù hợp, đan xen, hỗ trợ
cho nhau để nâng cao hiệu quả tuyển dụng viên chức. Pháp luật về tuyển dụng
viên chức được thực hiện với nhiều quy trình, có thể được tiến hành thông
qua thủ tục đơn giản hoặc cũng có thể phải thực hiện thông qua các quy trình
phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức khác nhau theo

thiện pháp luật về viên chức. Bất kỳ quy phạm pháp luật được xây dựng và
ban hành thì phải được kiểm nghiệm thông qua việc thực hiện pháp luật.
Thông qua quá trình tổ chức thực hiện, mới có thể nhận định pháp luật về
tuyển dụng viên chức được đón nhận, phù hợp với yêu cầu của xã hội và đạt
được mục đích khi xây dựng và ban hành pháp luật hay không. Pháp luật về
tuyển dụng viên chức luôn cần được thực hiện một cách đầy đủ, linh hoạt và
phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh. Nhưng trong thực tế, pháp luật về
tuyển dụng viên chức không thể bao quát để điều chỉnh được tất cả các tình
huống cụ thể có thể xảy ra, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình thực hiện. Tuy nhiên những tồn tại, khó khăn trong thực hiện pháp luật
là một cơ sở, kinh nghiệm quý báu để góp phần vào việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về tuyển dụng viên chức trong tương lai cho phù hợp với yêu
cầu của xã hội và sự phát triển của đất nước.
13


Thứ hai, thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động của nhà nước. Pháp luật được xây dựng để nhà nước
tham gia điều chỉnh mối quan hệ xã hội một cách hiệu quả. Thực hiện pháp
luật về tuyển dụng viên chức có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của
nhà nước. Nhà nước tạo điều kiện để quyền và nghĩa vụ của các cá nhân dự
tuyển viên chức được đảm bảo, đồng thời các đơn vị sự nghiệp công lập được
tự do trong khuôn khổ pháp luật cho phép để lựa chọn những người có đủ
điều kiện, tiêu chuẩn vào làm việc. Việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về
tuyển dụng viên chức làm cho hoạt động này luôn được phát triển ổn định
dưới sự quản lý của nhà nước, thể hiện hiệu quả hoạt động của nhà nước trong
lĩnh vực tuyển dụng viên chức.
Thứ ba, thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức góp phần bảo đảm
các quyền cơ bản của con người, quyền công dân. Pháp luật nước ta nói
chung và pháp luật về người lao động nói riêng luôn là sự cụ thể hóa các quan

viên chức là việc tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, qua đó, mới
thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao, lựa chọn được nhiều người
đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ, của đơn vị. Đội ngũ viên chức có chất
lượng lao động tốt, hiệu quả hoạt động cao, là một sự phát triển đi lên của đơn
vị sự nghiệp công lập. Từ góc độ người dự tuyển, do xã hội phát triển, ngày
càng có nhiều tổ chức, đơn vị ngoài nhà nước cung cấp dịch vụ, việc cạnh
tranh giữa các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nhà nước ngày càng mãnh liệt,
nên người lao động có thể lựa chọn công việc phù hợp với năng lực của mình.
Những người có năng lực làm việc cao, kinh nghiệm tốt sẽ lựa chọn vào
những đơn vị sự nghiệp tuyển dụng công bằng, khách quan, bảo đảm các
quyền và sự phát triển của mình. Việc thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên
chức một cách nghiêm minh là một lợi thế quan trọng để các đơn vị sự nghiệp
công lập có thể thu hút, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng tốt, nâng cao
hoạt động của bộ máy nhà nước.
1.2. Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức
1.2.1. Nội dung thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức
Hiện nay, pháp luật về tuyển dụng viên chức được quy định chủ yếu tại
Luật Viên chức, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ
về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, Thông tư số 15/2012/TT-BNV
15


ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng
làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số
16/2012/TT-BNV ngày 28/12/2012 của Bộ Nội vụ Ban hành quy chế thi
tuyển, xét tuyển viên chức; quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối
với viên chức và nội quy kỳ thi tuyển và thi thăng hạng chức danh nghề
nghiệp đối với viên chức. Pháp luật về tuyển dụng viên chức ở nước ta đang
tập trung vào những nội dung, đó là: căn cứ tuyển dụng; nguyên tắc tuyển
dụng; điều kiện dự tuyển; thẩm quyền tuyển dụng; phương thức tuyển dụng;

Quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập là cơ sở để xem xét việc
thanh toán các chế độ tiền lương cho viên chức. Các chế độ tiền lương của
viên chức không được đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến đời sống của bản thân viên
chức cũng như ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập đó.
Như vậy, thực hiện pháp luật về tuyển dụng viên chức là đơn vị sự
nghiệp công lập phải thực hiện cả bốn yếu tố trên thì mới đủ căn cứ để tuyển
dụng viên chức. Để làm được điều này, cần có sự kết hợp sử dụng các hình
thức thực hiện pháp luật một cách phù hợp. Các đơn vị sự nghiệp công lập,
phải tiến hành xác định nhu cầu công việc dựa trên chức năng, nhiệm vụ của
đơn vị là một hình thức sử dụng pháp luật. Việc xây dựng vị trí việc làm, tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp đã được pháp luật quy định cụ thể, vì vậy các
đơn vị sự nghiệp phải tuân thủ, thi hành. Quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp
công lập được báo cáo hàng năm và được kiểm soát đối với hoạt động của
đơn vị theo quy định, đây cũng là một hình thức thi hành pháp luật. Việc sử
dụng quỹ tiền lương trong việc tuyển dụng viên chức là cách sử dụng pháp
luật tùy thuộc vào người đứng đầu đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
1.2.1.2. Nguyên tắc tuyển dụng viên chức
Hiện nay, pháp luật quy định có 05 nguyên tắc tuyển dụng viên chức,
đó là: Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp
luật; Bảo đảm tính cạnh tranh; Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của
vị trí việc làm; Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công
lập; Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc
thiểu số (Điều 21 Luật viên chức). Nhìn chung, các nguyên tắc tuyển dụng
viên chức đáp ứng được yêu cầu của người tuyển dụng cũng như nhu cầu của
xã hội. Các nguyên tắc tuyển dụng viên chức có nhiều tương đồng với các
17


nguyên tắc tuyển dụng công chức được quy định tại Điều 38 Luật Cán bộ,
công chức. Điểm mới, khác biệt rõ ràng trong tuyển dụng viên chức và tuyển


Thứ tư, có lý lịch rõ ràng. Căn cứ vào lý lịch đã được cấp có thẩm
quyền xác nhận, người tuyển dụng có thể xác định được những thông tin cơ
bản và chính xác về nhân thân, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm,... của
người dự tuyển.
Thứ năm, có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có
năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm. Các văn bằng, chứng chỉ thể
thiện cụ thể nhất về trình độ chuyên môn của người dự tuyển. Căn cứ vào điều
kiện này, đơn vị sự nghiệp công lập có thể xác định trình độ, năng lực của người
dự tuyển có đáp ứng được nhu cầu của vị trí việc làm cần tuyển hay không.
Thứ sáu, đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ. Sức khỏe
là điều kiện tất yếu và cơ bản nhất để thực hiện và hoàn thành mọi nhiệm vụ
được giao. Không phải chỉ cần lúc tuyển dụng viên chức mới có sức khỏe tốt,
mà trong quá trình làm việc lâu dài, sức khỏe cũng phải luôn cần được đảm
bảo ở tình trạng tốt.
Thứ bảy, đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do
đơn vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của
pháp luật. Do đặc thù mỗi ngành nghề khác nhau, yêu cầu của mỗi nhiệm vụ
khác nhau, nên không thể quy định cứng điều kiện dự tuyển của tất cả các vị
trí đều như nhau. Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy việc quy định này còn khá
chung chung, mà có nhiều ngành, lĩnh vực đòi hỏi, yêu cầu các điều kiện làm
việc khác nhau. Nếu như những điều kiện trên là những quy định phải thực
hiện, không được cắt lược, thì tại điều kiện cuối cùng có thể coi là quy định
mở để các đơn vị sự nghiệp công lập có thể vận dụng để lựa chọn người phù
hợp nhất đáp ứng mọi yêu cầu của vị trí việc làm. Tuy nhiên, vì quy định
chưa cụ thể nên trong quá trình thực hiện gặp phải nhiều ý kiến trái chiều,
thậm chí có người lợi dụng quy định này để đưa ra điều kiện tuyển dụng viên
chức mang tính chủ quan, gây khó khăn cho người đăng ký dự tuyển.
Bên cạnh đó, Luật Viên chức có quy định những người không được
đăng ký dự tuyển, đó là những người mất hành vi dân sự; bị hạn chế năng lực

viên chức sẽ khác nhau.
1.2.1.5. Phương thức tuyển dụng
Thi tuyển viên chức

20


Phương thức thi tuyển viên chức được quy định cụ thể tại Mục 2
Chương II Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ bao gồm các nội dung:
nội dung và hình thức thi; điều kiện miễn thi một số môn; cách tính điểm; xác
định người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức. Các bài thi đều được tính
theo thang điểm 100. Nội dung và hình thức thi được quy định khá cụ thể, theo
đó, người dự tuyển phải thực hiện bốn bài thi: môn kiến thức chung, môn
chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành, môn ngoại ngữ, môn tin học văn phòng.
Môn ngoại ngữ và môn tin học văn phòng là hai môn thi điều kiện, tức là
không tính điểm của hai môn thi này vào tổng điểm để xác định người trúng
tuyển. Bên cạnh đó pháp luật có quy định ưu tiên có lợi cho người dự tuyển, đó
là điều kiện để được miễn thi môn ngoại ngữ, môn tin học trong trường hợp
đặc biệt tại Điều 8 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Đây là những
môn thi mà pháp luật đã đề ra, yêu cầu những đơn vị tổ chức thi tuyển viên
chức thực hiện theo các quy định này. Căn cứ vào điều kiện, nhu cầu, người
đứng đầu đơn vị sự nghiệp có thể quyết định tổ chức thực hiện thi những môn
thi trắc nghiệm trên giấy hoặc thực hành qua máy tính.
Việc xác định người trúng tuyển được căn cứ vào kết quả thi: mỗi môn
thi đạt từ 50 điểm trở lên và tổng số điểm gồm bài thi kiến thức chung và các
bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành. Người trúng tuyển có kết quả
thi cao hơn, lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp cho đến hết chỉ tiêu tuyển dụng
của từng vị trí việc làm. Pháp luật đã đưa ra những dự kiến trong trường hợp
có từ 02 người trở lên có kết quả thi bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển
dụng để quy định thứ tự ưu tiên người trúng tuyển tại Điều 10 Nghị định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status