BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HOÀNG XUÂN HÒA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI - TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
Chương 1: LÝ LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO
TRỢ XÃ HỘI................................................................................................... 7
1.1. Tổng quan về bảo trợ xã hội và pháp luật về bảo trợ xã hội ...................... 7
1.2. Khái quát về thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội ................................. 18
1.3. Nội dung thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội ....................................... 35
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH
ĐẮK LẮK ...................................................................................................... 56
2.1. Đặc điểm địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk tác động đến
thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội ................................................................... 56
2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk ................ 59
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI .................................................................... 97
3.1. Phương hướng pháp luật về bảo trợ xã hội .............................................. 97
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk ............ 101
KẾT LUẬN .................................................................................................. 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTXH: Bảo trợ xã hội
LĐTBXH: Lao động Thương binh và Xã hội
NCT: Người cao tuổi
NKT: Người khuyết tật
TEMC: Trẻ em mồ côi
NĐT: Người đơn thân
2.4
Tổng số trẻ em được trợ cấp hàng tháng qua các năm 2011-2015
64
2.5
Số người đơn thân được trợ cấp qua các năm 2011-2015
64
2.6
Tổng hợp số liệu cơ sở BTXH trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
69
2.7
Số liệu đối tượng tại các cơ sở BTXH ở tỉnh Đắk Lắk
70
2.8
Kinh phí trợ cấp thường xuyên tỉnh Đắk Lắk năm 2011-2015
83
cụ thể: người già neo đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa,
người nhiễm HIV/AIDS, người mắc bệnh tâm thần hoặc người gặp rủi ro do
thiên tai,…nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập
cộng đồng. Thời gian qua, chính sách BTXH đã và đang phát huy tác dụng là
tấm lưới an toàn cho các đối tượng bảo trợ xã hội, góp phần thực hiện mục
tiêu “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội và công bằng
ở mỗi giai đoạn và trong suốt quá trình phát triển” [23].
Đắk Lắk là một tỉnh của khu vực Tây Nguyên, với khoảng trên 47 dân tộc
từ các địa phương cùng đến sinh sống trên địa bàn, đời sống người dân còn
1
gặp nhiều khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai và một số yếu
tố khác đã làm cho nhiều đối tượng bảo trợ xã hội cần được trợ giúp rất lớn.
Với sự nỗ lực thực hiện chăm lo các đối tượng yếu thế, đẩy mạnh hoạt động
thực hiện pháp luật về BTXH trên địa bàn, nên hoạt động bảo trợ xã hội đã
đạt được những kết quả đáng khích lệ, việc chăm lo cho các đối tượng được
quan tâm thực hiện. Hiện nay, tỉnh đã chăm lo cho 34.972 đối tượng yếu thế
về tài chính, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe miễn phí, dạy nghề và giới
thiệu việc làm… nhờ vậy các đối tượng yếu thế trên địa bàn phần nào giảm
bớt những khó khăn trong cuộc sống, có điều kiện hòa nhập vào xã hội. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được công tác thực hiện pháp luật về
BTXH vẫn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục như: lực lượng thực hiện hoạt
động BTXH còn thiếu và yếu; công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực
hiện các văn bản pháp quy về BTXH chưa thật sự chủ động, còn trông chờ
vào hướng dẫn của cấp trên; công tác tuyên truyền phổ biến còn hình thức,
các chính sách chưa thật sự đến với người dân cũng như các đối tượng BTXH
quản lý đối tượng không thống nhất, kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý chưa cao nên
thường xảy ra trùng lắp, thực hiện sai đối tượng; hoạt động thanh tra, kiểm tra
Ngãi” của tác giả Trịnh Quang Nghĩa, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế năm 2011.
Các công trình nghiên cứu nói trên đều có những đóng góp nhất định về
mặt lý luận và thực tiễn hoạt động nhân đạo, hoạt động bảo trợ xã hội. Tuy
nhiên BTXH còn khá mới mẽ ở Việt Nam, ít được quan tâm nghiên cứu, cơ
sở lý luận thực sự chưa nhiều, cần phải kế thừa, vận dụng những kết quả
nghiên cứu của các công trình nêu trên. Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài này tác
giả chỉ tập trung các vấn đề pháp luật về BTXH và thực tiễn thực hiện pháp
luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk, mong tìm ra những nguyên nhân để từ đó đề ra
các phương hướng, giải pháp nhằm góp một phần nhỏ bé để hoàn thiện công
tác này ở địa phương.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về nhà nước và pháp
luật, nghiên cứu và đánh giá chính xác thực trạng pháp luật về BTXH và thực
tiễn thực hiện pháp luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk, trên cơ sở đó đưa ra những
phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BTXH, góp phần bảo đảm
thực hiện các quyền của đối tượng BTXH, tạo cơ hội cho đối tượng BTXH bình
đẳng và hòa nhập cộng đồng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu đặt ra, luận văn tập trung hoàn thành những
nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Một là, hệ thống hóa và khái lược hóa một số nội dung cả về lý luận và
thực tiễn liên quan đến BTXH. Trên cơ sở đó, hình thành lý luận những vấn
đề của pháp luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk, phân tích các hình thức và vai trò
pháp luật về BTXH.
Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về BTXH và thực tiễn
thực hiện pháp luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk, những kết quả đạt được và hạn
các tổ chức khác để làm tài liệu tham khảo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống pháp luật về bảo trợ
xã hội - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk và có những đóng góp mới sau đây:
- Làm sáng tỏ lý luận những vấn đề của pháp luật về BTXH.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng pháp luật về BTXH và thực
tiễn thực hiện pháp luật về BTXH tỉnh Đắk Lắk. Trong đó, có những đánh giá
mang tính chất chuyên sâu thực hiện pháp luật về BTXH.
- Đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BTXH và
5
từ đó nâng cao nhận thức cả xã hội, đề xuất việc giải quyết các chế độ chính
sách trợ giúp cho đối tượng BTXH có hiệu quả hơn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các khuyến nghị khoa học của luận văn có thể được vận dụng vào thực tế
hoạt động thực hiện pháp luật về BTXH ở tỉnh Đắk Lắk. Ngoài ra, luận văn
còn là tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công
chức, cơ sở đào tạo cán bộ làm công tác xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận những vấn đề của pháp luật về bảo trợ xã hội.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp
luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội.
6
Đối với Ngân hàng thế giới (WB) “BTXH là một tập hợp các biện pháp
nhằm cải thiện và bảo vệ vốn con người, bao gồm sự can thiệp vào thị trường
lao động, chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc. Sự
can thiệp của bảo vệ xã hội giúp các cá nhân, hộ gia đình, hay cộng đồng
quản lý một cách tốt hơn những rủi ro thu nhập khiến những đối tượng này bị
tổn thương” [32]. Định nghĩa này nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ là cơ sở
của BTXH; BTXH vừa là mạng lưới an toàn, vừa là bàn đạp thông qua sự
phát triển nguồn vốn con người. Tính dễ bị tổn thương được nhìn nhận theo
những nguy cơ liên quan đến sự mất ổn định thu nhập và tiêu dùng.
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) “BTXH là tập hợp các chính sách và
các chương trình được thiết kế để giảm nghèo và sự tổn thương bằng cách
thúc đẩy thị trường lao động hiệu quả, giảm sự phơi nhiễm của người dân
trước các rủi ro, và nâng cao năng lực để họ có thể chống lại các mối nguy
hiểm và sự gián đoạn/mất thu nhập [22]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ
tổn thương nếu người dân không có BTXH và tác hại của thiếu BTXH đối với
người khác, tập trung vào khía cạch cải thiện thu nhập; hoàn thiện thể chế thị
trường lao động và nâng cao năng lực của người dân.
Viện nghiên cứu phát triển hải ngoại (ODI) “BTXH là những hành động
công ích, nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần
cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội [22]. Định
nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thương và bần cùng hóa, do vậy BTXH
hướng vào người nghèo hoặc những người khó khăn nhất thuộc tầng lớp
không ai mong muốn nhất trong xã hội.
Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng mới chỉ được dùng trong những năm gần
đây, đất nước ta vừa thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp sang một nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới.
Viện nghiên cứu phát triển xã hội định nghĩa BTXH là (i) sự hỗ trợ trực tiếp
8
và trợ giúp xã hội. Song, do đề tài chỉ giới hạn ở những người yếu thế thuộc
đối tượng trong Nghị định 67/2007/NĐ-CP; Nghị định 13/2010/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 27/02/2010 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối
tượng BTXH và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính
phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và
các văn bản pháp luật có liên quan nên luận văn chỉ đề cập đến vấn đề trợ
giúp mà không có bảo hiểm xã hội. Đề tài nghiên cứu này sẽ nhìn ở một góc
độ tương đối hẹp là BTXH đồng nghĩa với cứu trợ xã hội, hay trợ giúp xã hội.
Qua nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm về BTXH như sau: BTXH là hệ
thống các chính sách, chế độ, những hành động chủ yếu của Nhà nước và
cộng đồng xã hội bằng các hình thức khác nhau nhằm giúp các đối tượng yếu
thế giảm nhẹ và kiềm chế nguy cơ dễ bị tổn thương, bần cùng hóa, hòa nhập
với cộng đồng, có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, thúc đẩy công bằng
và góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
1.1.1.2. Đặc điểm bảo trợ xã hội
Từ những quan niệm về BTXH có thể rút ra một số đặc điểm sau:
- Về đối tượng: Tham gia vào quan hệ BTXH bao gồm nhà nước, các đối
tượng bảo trợ và các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động
chung mang tính nhân đạo này. Trong đó:
+ Thứ nhất, đối tượng bảo trợ là mọi người dân trong xã hội không phân
biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp phải khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn,
cơ nhỡ,…hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường
ngày hoặc lâu dài của họ bị đe dọa. Dưới góc độ kinh tế thì đó là những thành
viên có mức sống thấp hơn mức tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro
cần có sự nâng đỡ về vật chất. Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người
“yếu thế” trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà rơi vào vị thế
10
có thể vượt qua được hoàn cảnh hiện tại. Do đó, mức hưởng thường là thấp và
linh hoạt, phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính của Nhà nước, khả năng
huy động nguồn lực và tình trạng thực tế của đối tượng…Ngoài hai chế độ
bảo trợ thường xuyên và đột xuất, ở phạm vi rộng, hoạt động BTXH còn được
thực hiện với các chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe toàn
dân, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những người lầm lỡ
mắc tệ nạn xã hội,…
1.1.1.3. Vai trò bảo trợ xã hội
Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là đạt được sự tiến
bộ xã hội. Nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm phát
triển xã hội. Thước đo của sự phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn đề xã
hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Trong đó, có chăm sóc cho dân
cư khó khăn, giải quyết các vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. BTXH là một
trong những công cụ quản lý của Nhà nước và có vai trò chính sau [24]:
Thứ nhất, BTXH thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) của
Nhà nước: Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình BTXH, Nhà
nước can thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, phân hóa
giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm
xã hội trong quá trình phát triển. Kinh tế thị trường càng phát triển thì xu
hướng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội và bất bình đẳng càng gia tăng.
Để tạo ra sự phát triển bền vững, đòi hỏi Nhà nước càng phải phát triển mạnh
mẽ BTXH để điều hòa các mâu thuẫn xã hội phát sinh trong quá trình phát
triển. BTXH sẽ giúp cho việc điều tiết, hạn chế nguyên nhân nẩy sinh mâu
thuẫn xã hội, bất ổn của xã hội.
Thứ hai, BTXH thực hiện chức năng tái phân phối lại của cải xã hội, với
chức năng này BTXH sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh
nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên
12
chú ý đến các yếu tố kinh tế mà còn chú ý đến các yếu tố của an toàn, ổn định
xã hội. Một xã hội ổn định giúp các nhà đầu tư phát triển lâu dài, tạo cho kinh
tế tăng trưởng nhanh và ổn định, ngược lại một xã hội không ổn định sẽ dẫn
đến đầu tư ngắn hạn, làm ăn theo kiểu “chộp giật” làm cho kinh tế tăng
trưởng không bền vững. Mặt khác bản thân sự phát triển BTXH cũng là một
lĩnh vực dịch vụ tạo ra nguồn tài chính cho phát triển kinh tế. Đồng thời tăng
trưởng tạo ra nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần ổn định xã
hội và tạo ra sự phát triển bền vững về kinh tế.
1.1.2. Pháp luật về bảo trợ xã hội
1.1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo trợ xã hội
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về bảo trợ xã hội được thể
chế hóa trong một số luật như: Luật người cao tuổi năm 2009; Luật người
khuyết tật năm 2010; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật phòng,
chống HIV/AIDS, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật phòng, chống
buôn bán người v.v... và được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật, đặc biệt
là Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách
trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày
27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
67/2007/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLDTBXH-BTC ngày
18/8/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 67 và Nghị định 13;
Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều
kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội;
Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi; Nghị định số 28/2012/NĐCP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật người khuyết tật; Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của
14
được thụ hưởng. Có thể nói, BTXH là hoạt động mang tính chất từ thiện giúp
cho các đối tượng yếu thế trong xã hội lâm vào hoàn cảnh khó khăn hay gặp
rủi ro, bất hạnh. Do đó, người được hưởng chế độ BTXH trên cơ sở trách
nhiệm của cộng đồng mà không có bất cứ sự đóng góp nào miễm là thỏa mãn
các điều kiện để thụ hưởng.
Thứ tư, tính chất của chế độ BTXH mang tính linh hoạt, đa dạng phụ thuộc
vào ngân sách nhà nước, phụ thuộc vào sự ủng hộ, quyên góp của cá nhân, tổ
chức và cộng đồng tại thời điểm trợ cấp. Do đó, tùy từng đối tượng khác nhau
mà có chế độ trợ cấp khác nhau.
1.1.2.3. Các quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội
- Chế độ bảo trợ xã hội thường xuyên
Chế độ BTXH thường xuyên là sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh
thần mang tính lâu dài cho những người thuộc diện BTXH nhằm giúp đỡ họ
ổn định cuộc sống, hòa nhập vào cộng đồng. Tùy từng đối tượng BTXH khác
nhau mà pháp luật quy định chế độ trợ cấp cụ thể.
+/ Đối tượng hưởng chế độ bảo trợ xã hội thường xuyên
Không phải tất cả các đối tượng bất hạnh, rủi ro không thể tự lo liệu cuộc
sống đều là đối tượng hưởng chế độ BTXH thường xuyên, chỉ những đối
tượng thỏa mãn các điều kiện thuộc diện BTXH mới được hưởng chế độ trợ
cấp này, đối tượng BTXH thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã phường, thị
trấn quản lý.
+/ Mức trợ cấp bảo trợ xã hội thường xuyên
Quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 270.000
đồng (hệ số 1); khi mức sống tối thiểu của người dân thay đổi thì mức chuẩn
trợ cấp xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp.
Nguồn kinh phí trợ giúp thường xuyên tại cộng đồng, kinh phí nuôi dưỡng,
kinh phí hoạt động bộ máy, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản của các cơ sở
16
LĐTBXH và Bộ Tài chính để tổng hợp đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ
xem xét, quyết định hỗ trợ từ ngân sách trung ương.
1.2. Khái quát về thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội
Để tìm hiểu khái niệm thực hiện pháp luật về BTXH, trước hết cần làm
rõ khái niệm thực hiện pháp luật.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội. Hệ thống các quy phạm này tạo khuôn khổ cho hoạt động xã hội,
chứa đựng các quy tắc cấm đoán hoặc bắt buộc chung và tác động, điều
chỉnh tới các quan hệ xã hội. Vì vậy, hoạt động thực hiện pháp luật không
chỉ là sự quan tâm của nhà nước mà còn là của mỗi cá nhân bởi kết quả
của quá trình đó tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội. Việc
tự giác thực hiện các quy phạm pháp luật gắn chặt với yêu cầu của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước, là mục tiêu và là đòi hỏi các tổ chức, cá
nhân trong xã hội tôn trọng, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật. Như
vậy, hoạt động thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không
hành động) của con người phù hợp với quy định của luật pháp [20].
Thực hiện pháp luật là bước tiếp theo sau khi văn bản pháp luật được ban
hành để đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ
thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật trở thành
hiện thực. Về pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó
không trái, không vượt ra ngoài các quy định của pháp luật. Thực hiện pháp
luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội [21].
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy hiện nay có một số quan niệm
về thực hiện pháp luật sau:
18