Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ VĂN BÌNH

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ VĂN BÌNH

TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN VĂN LUYỆN

Long An.....................................................................................................................43
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY ..........................64
3.1. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma
tuý ..............................................................................................................................64
3.2. Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ....................................................65
3.3. Các giải pháp về tổ chức và tăng cường nguồn lực để bảo đảm áp dụng đúng
pháp luật hình sự đối với tội mua bán trái phép chất ma túy ....................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................78


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL

: Áp dụng pháp luật

BCA

: Bộ công an

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự


: Tòa án nhân dân Tối cao

VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Diễn biến tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy so với tình hình tội
phạm nói chung giai đoạn 2012-2016 trên địa bàn tỉnh Long An...………....…….36
Bảng 2.2: Thống kê số bị cáo bị xét xử theo các khoản khác nhau theo Điều 194
BLHS giai đoạn 2012-2016 trên địa bàn tỉnh Long An. ………………………......37
Bảng 2.3: Cơ cấu xét theo mức hình phạt áp dụng đối với tội mua bán trái phép chất
ma túy giai đoạn 2012-2016 trên địa bàn tình Long An…………………………...51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn ma túy là hiểm họa đối với mọi quốc gia trên thế giới, gây tác hại cho
sức khỏe, làm suy thoái giống nòi, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia
đình, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển lành mạnh đối với kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, đe dọa sự ổn định về an ninh và chủ quyền của quốc gia. Ma túy là
một trong những nguyên nhân chủ yếu làm bùng phát đại dịch HIV/AIDS và hàng
loạt các tội phạm như: giết người, cưới tài sản, trộm cắp, hiếp dâm…. Chính vì vậy,
trong BLHS của Nhà nước ta, từ nhiều năm nay đã phải giành một chương quy định
các tội phạm về ma túy, trong đó có tội mua bán trái phép chất ma túy. Loại tội này

tội phạm ma túy. Trên thực tế đã đạt được những kết quả nhất định, phát huy hiệu
quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bên cạnh đó còn tồn tại những
hạn chế, sai sót như một số vụ án chưa đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội,
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra, nhiều bản án tuyên
khác với điều khoản, khung hình phạt và Viện kiểm sát đã truy tố sau đó bị kháng
nghị và phải chờ hướng giải quyết…. dẫn đến chất lượng và hiệu quả chưa cao. Quy
định về tội mua bán trái phép chất ma túy trong BLHS Việt Nam còn nhiều hạn chế,
bất cập gây ra những khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong
hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này. Từ các lý
do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An” làm nội dung nghiên cứu cho
luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để có lý luận cho việc thực hiện đề tài Luận văn, các công trình khoa học
sau đây đã được nghiên cứu và tham khảo:
2.1. Tình hình nghiên cứu lý luận
- “Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần chung” (2014), Võ Khánh Vinh,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
- “Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm” (2014), Võ Khánh
Vinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;

2


- “Giáo trình luật hình sự Việt Nam” (2007), Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên),
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- “Hoàn thiện một số quy định về hình phạt của BLHS năm 1999 nhằm đảm
bảo hơn nữa nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự” (2008), Hồ Sỹ Sơn, Tập chí
Luật học, (số 04), tr. 30-45;
- “Tội phạm học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự Việt Nam” Nxb Chính

ma túy từ thực tiễn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình” của tác giả Phạm Văn
Khôi, Học viên Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm
2012;
- Các công trình nghiên cứu trên có giá trị liên quan đã được tác giả tham
khảo khi thực hiện đề tài: “Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là phân tích khoa học để làm sáng
tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh nói chung và định tội danh đối
với tội mua bán trái phép chất ma túy nói riêng, cũng như đánh giá thực tiễn áp
dụng trên địa bàn tỉnh Long An, từ đó đánh giá các điểm hợp lý và bất hợp lý trong
việc thực hiện những quy định của pháp luật hiện và rút ra được những kiến nghị
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự, bao gồm hoàn thiện quy định về tội
mua bán trái phép chất ma túy và các văn bản hướng dẫn áp dụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích như đã nêu trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề về lý luận và pháp luật về tội mua bán trái phép chất
ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển
của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Khái quát những vấn đề lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt,
đánh giá hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái
phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Long An từ năm 2012 đến năm 2016.
- Kiến nghị giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình
sự về tội mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Long An từ năm 2012 đến
năm 2016.

4





viên. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tội mua bán trái phép chất
ma túy nói chung và trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật đối với tội mua bán trái phép
chất ma túy.
Chương 2: Áp dụng các quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy trên
địa bàn tỉnh Long An.
Chương 3: Các biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật
hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN
TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
1.1. Những vấn đề lý luận về tội mua bán trái phép chất ma túy
1.1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất
ma túy
1.1.1.1. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy
Chất ma túy là loại chất phức tạp, có rất nhiều ứng dụng trong y học, trong
công nghiệp dược phẩm. Mặt khác, đây cũng là loại chất gây nguy hiểm nếu bị lạm
dụng nên được Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý với những quy định rất
nghiêm ngặt. Do tác hại lâu dài và nhiều mặt của các hành vi vi phạm chế độ quản
lý chất ma túy nên mọi hành vi vi phạm ở bất kỳ khâu nào của quá trình quản lý

phép ma tuý trái phép với các quy định của Công ước năm 1961 và Công ước năm
1971 sửa đổi;
iii) Tàng trữ hoặc mua bán bất kỳ chất ma tuý hoặc chất hướng thần nào với
mục đích thực hiện bất kỳ hoạt động nào quy định tại điểm (i) nói trên;
iv) Điều chế, vận chuyển hay cung cấp phương tiện, nguyên liệu hoặc các
chất trong các Danh mục I và Danh mục II mà biết rõ những chất đó được sử dụng
để trồng trọt, sản xuất, điều chế trái phép các chất ma tuý hoặc các chất hướng thần;
v) Tổ chức, chỉ đạo hoặc tài trợ cho bất kỳ hành động phạm tội nào quy định
tại các điểm (i), (ii), (iii) hoặc (iv) nói trên;
b) i) Chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó thu được từ
bất kỳ hành vi phạm tội nào được quy định tại điểm (a) của khoản này hoặc từ việc
tham gia vào hoạt động phạm tội đó với mục đích che giấu hoặc ngụy trang nguồn
gốc bất hợp pháp của tài sản hoặc giúp bất kỳ người nào có dính líu vào hành vi
phạm tội như vậy trốn tránh trách nhiệm hình sự của hành vi đó;
ii) Che giấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự nguồn gốc, địa điểm, chuyển
nhượng, chuyển quyển sở hữu tài sản mà biết rõ tài sản đó thu được từ hoạt động
phạm tội đã được quy định tại điểm (a) được quy định tại điểm này;
c) Dựa theo những quy định của Hiến pháp và những khái niệm cơ bản của
hệ thống pháp luật của từng nước;
8


i) Việc có được sở hữu, hoặc sử dụng tài sản mà vào thời điểm đó biết rõ đấy
là tài sản do phạm tội quy định tại điểm (a) khoản này hoặc do tham gia vào những
hoạt động phạm tội đó mà có;
ii) Tàng trữ những phương tiện, nguyên liệu hoặc các chất liệt kê trong Danh
mục I và Danh mục II mà biết rõ những thứ đó đang hoặc sẽ được sử dụng trái phép
cho các mục đích trồng, sản xuất hoặc điều chế các chất ma tuý và các chất hướng
thần;
iii) Bằng mọi cách kích động hoặc xúi giục người khác phạm tội quy định tại

- Về mặt pháp lý: Tội mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật
hình sự.
- Về mặt khách quan: Tội mua bán trái phép chất ma túy là hành vi nguy
hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước trong các khâu lưu giữ,
vận chuyển, mua bán các chất ma túy.
- Về mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm: Tội mua bán trái phép chất ma
túy do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
thực hiện bằng lỗi cố ý.
1.1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy theo
pháp luật hình sự Việt Nam
Để nhận thức sâu sắc hơn bản chất pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma
túy, cần đi sâu nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của CTTP tội mua bán trái phép
chất ma tuý được phân thành 04 yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt
chủ quan của tội phạm.
a) Khách thể của tội mua bán trái phép chất ma túy
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị
tội phạm xâm hại. Hệ thống pháp luật hình sự là công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước
bảo vệ các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích giai cấp, lợi ích công dân trong nhà
nước đó. Các chất ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, tuy nhiên ma túy cũng
là chất có rất nhiều những ứng dụng nhất định trong y học mà ta không thể phủ
nhận vai trò của chúng, do vậy theo quy định của Nhà nước, chỉ những cơ quan,
những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được phép quản lý,
sản xuất, mua bán chất ma túy nhằm phục vụ cho các mục đích y học, dược học
10


(sản xuất thuốc và chữa bệnh) và nghiên cứu khoa học. Nhà nước độc quyền và
thống nhất quản lý các chất ma túy nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng chất ma
túy, bảo vệ sức khỏe công dân và ngăn ngừa các tội phạm và các tệ nạn liên quan
đến ma túy. Như vậy, Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194

để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy. Thực tế hiện nay xảy ra một
số trường hợp là sau khi gửi mẫu đi giám định thì kết luận của cơ quan giám định
xác định không phải chất ma túy, hoặc không phải chất ma túy theo quy định của
danh mục các chất ma túy do Chính phủ Việt Nam ban hành, nhưng lại thuộc danh
mục kiểm soát ma túy của quốc tế. Như vậy những trường hợp này vận dụng quy
định của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP,
nếu chứng minh được ý thức của người thực hiện hành vi mua bán rằng họ tin
tưởng đó là chất ma túy, thì họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1
Điều 194 BLHS năm 1999.
b) Mặt khách quan của tội mua bán trái phép chất ma túy
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành tội
phạm. Mặt khách quan được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những
biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Việc nghiên
cứu mặt khách quan của tội phạm có vai trò rất quan trọng trong việc định tội và
định khung hình phạt, và thông qua mặt khách quan chúng ta cũng có thể xác định
được mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của tội phạm.
Mặt khách quan của tội phạm biểu hiện rõ nét nhất các yếu tố của tội phạm
mà con người có thể nhận biết trực tiếp được bao gồm các yếu tố:
- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội;
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;
- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ,
phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…).
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản,
những biểu hiện của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan,
không có hành vi khách quan thì không có tội phạm. Cụ thể đối với tội mua bán trái
phép chất ma túy thì hành vi khách quan của tội phạm này là:
12




người phạm tội thì tùy trường hợp chỉ có thể truy tố người phạm tội về Tội tàng trữ
hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy, mà trên thực tế thì đó là những tội có mức
độ nguy hiểm thấp hơn Tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Hành vi xin chất ma
túy nhằm bán trái phép cho người khác là bằng lời nói hoặc hành động để người
khác cho mình chất ma túy, rồi sau đó đem chất ma túy đó bán cho một người thứ
ba để lấy tiền hoặc tài sản. Nếu xin được chất ma túy và bán ngay thì hành vi của
người phạm tội là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Nếu xin được chất ma
túy, đem cất giữ qua một thời gian rồi mới đem bán, thì đó là hành vi tàng trữ, mua
bán trái phép chất ma túy.
- Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào
nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có.
- Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy
nhằm bán lại trái phép cho người khác.
- Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: là hành vi cất giữ
chất ma túy (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) sau đó đem
bán chất ma túy đó cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản.
- Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: là hành vi
chuyển dịch ma túy bằng bất kỳ hình thức nào từ địa điểm này đến địa điểm khác,
với mục đích để bán chất ma túy cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản. Nếu không
chứng minh được mục đích vận chuyển là để bán cho người khác thì chỉ có thể định
tội danh là vận chuyển trái phép chất ma túy. Việc chứng minh mục đích mua bán
chất ma túy của người phạm tội là trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành
tố tụng.
Với hành vi bán trái phép chất ma túy, dùng chất ma túy nhằm trao đổi,
thanh toán trái phép đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 BLHS năm
1999, không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy đó do đâu mà có. Còn lại các
hành vi khác như mua, xin, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy… thì cần
phải chứng minh được mục đích thực hiện hành vi này là bán trái phép chất ma túy

Theo quy định của luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là con
người cụ thể đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật
15


hình sự quy định là tội phạm và thỏa mãn điều kiện có năng lực TNHS và đủ tuổi
chịu TNHS. Ngoài ra ở một số tội phạm đặc biệt, để có thể thực hiện được hành vi
khách quan của tội phạm hay để phản ánh chính sách hình sự riêng của Nhà nước,
chỉ coi là chủ thể của tội phạm khi có thêm các dấu hiệu đặc biệt khác như đặc điểm
xấu về nhân thân của chủ thể vì đặc điểm này mà hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất
định bị coi là tội phạm. Đó là chủ thể đặc biệt của tội phạm.
Chủ thể của tội mua bán trái phép chất ma túy cũng phải đảm bảo đủ các yếu
tố (điều kiện) cần và đủ là độ tuổi và năng lực TNHS quy định tại Điều 12, 13
BLHS. Đối với chủ thể của tội này không yêu cầu phải là chủ thể đặc biệt, tuy nhiên
trong từng khoản của tội danh, cần xác định độ tuổi chịu TNHS cho đúng, cụ thể
như sau:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Khoản 1 Điều 194 BLHS, vì khoản 1
Điều 194 BLHS là tội phạm nghiêm trọng, và theo quy định tại Điều 12 BLHS thì
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng
do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Chỉ người đủ 16 tuổi trở lên mới bị truy
cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 194 BLHS, vì các
trường hợp phạm tội này là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng.
Tuy nhiên khi truy cứu TNHS đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên cần phải
lưu ý đến vấn đề người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi “phạm tội
nhiều lần” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 194 BLHS vì theo hướng dẫn tại
mục 10 Nghị quyết số 01/2006/ NQ – HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm

do kinh doanh, sở hữu tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt là quyền công dân, được
Nhà nước và pháp luật bảo hộ [31, Điều 32 và Điều 33]. Tuy nhiên, các chất ma túy
là loại “hàng hóa” đặc biệt, được nhà nước độc quyền thống nhất quản lý, nghiêm
cấm hành vi mua bán trái phép cho nên những người thực hiện hành vi kể trên đều
bị coi là tội phạm và đều bị coi là có lỗi đối với hành vi mà họ thực hiện.

17


Lỗi của người phạm tội mua bán trái phép chất chất ma túy là lỗi cố ý trực
tiếp:
- Về lý trí, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội
của hành vi mà mình thực hiện, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành
vi đó. Do ma túy là chất cấm, được Nhà nước bằng mọi biện pháp tuyên truyền đến
sâu rộng nhân dân về tính chất và mức độ nguy hiểm của ma túy, việc nghiêm khắc
cấm mọi hình thức mua bán, việc đe dọa áp dụng hình phạt nặng đối với các tội
phạm về ma túy… Hầu hết tất cả mọi người dân, không phân biệt giới tính, độ tuổi,
dân tộc đều được phổ biến, giáo dục nhận thức về các chất ma túy và các tội phạm
ma túy, vậy nên việc thực hiện các tội phạm về ma túy nói chung và tội phạm mua
bán chất ma túy đều là những tội phạm thể hiện thái độ chống đối chính sách, pháp
luật của Nhà nước, trái pháp luật hình sự, cố ý phạm tội, đòi hỏi phải bị xử lý bằng
các biện pháp hình sự. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận
thức được rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được hậu quả của hành
vi nhưng vẫn quyết tâm thực hiện.
- Về ý chí, người phạm tội mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra,
mong muốn hậu quả mà họ đã có thể thấy trước, đã hình dung ra khi thực hiện hành
vi nguy hiểm sẽ xuất hiện hậu quả nào đó trên thực tế. Nhận thức được hành vi mua
bán ma túy là hành vi trái pháp luật, họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để
lựa chọn và thực hiện xử sự khác nhưng họ vẫn thực hiện hành vi mua bán ma tuý.
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy chỉ có thể được thực hiện do cố ý

nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.
Ngày 09/12/2000, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa X đã thông qua Luật
Phòng, chống ma túy. Đây là đạo luật đầu tiên về phòng, chống ma túy và đã tạo cơ
sở pháp lý hiệu quả hơn trong việc đấu tranh, phòng ngừa tệ nạn ma túy.
Ngày 14/11/2015 Thông tư liên tịch số 08/2015/ TTLT – BCA – VKSNDTC
– BTP sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT –
BCA- VKSNDTC – TANDTC – BTP quy định hướng dẫn cụ thể việc áp dụng Điều
194 nói riêng và chương XVIII “các tội phạm về ma túy nói chung” của BLHS
1999. Thông tư này đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình giải
quyết các vụ án về ma túy.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status