VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN ĐẠO
ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN ĐẠO
ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật Hình Sự và Tố Tụng Hình Sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ
trung ương) đã mất nhiều thời gian, công sức hướng dẫn trong quá trình
nghiên cứu và sửa chữa Luận văn, giúp em hoàn thành toàn bộ đề tài nghiên
cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam –
Học viện khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, các thầy cô và thầy
PGS.TS Trần Văn Độ đã tạo điều kiện, giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ em
hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập theo kế hoạch đề ra. Một lần nữa, em xin
cảm ơn và kính chúc các thầy, cô và đặc biệt thầy PGS.TS Trần Văn Độ dồi
dào sức khỏe, hạnh phúc, tiếp tục cống hiến hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam–pháp luật của Nhà nước pháp quyền.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP
DỤNG CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ ........................... 5
1.1. Lý luận về áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ............................... 5
1.2. Cơ sở pháp lý của áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù .................. 14
1.3. Ý nghĩa, vài trò của áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ........29
Chƣơng 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN
HÌNH PHẠT TÙ Ở TỈNH CÀ MAU, NHỮNG SAI SÓT, HẠN CHẾ VÀ
NGUYÊN NHÂN ........................................................................................... 31
2.1. Thực tiễn áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ở Cà Mau .............. 31
2.2. Nguyên nhân của những sai sót, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ở tỉnh Cà Mau ............................................ 39
Chƣơng 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA
ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ ................... 46
3.1. Các yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình
nhất định để từ đó rút ra những hạn chế, thiếu sót và bài học kinh nghiệm
trong việc áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng hình phạt nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về áp dụng các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo
không giam giữ và trục xuất thời gian qua còn rời rạc, chỉ nghiên cứu từng
hình phạt riêng lẻ, chưa đặt chúng vào mối quan hệ tổng thể để so sánh, đối
1
chiếu với nhau và với hình phạt khác. Điển hình như bài viết “Hình phạt tiền
và một số kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Th.s Mai Thị Thủy trên tạp chí
Tòa án nhân dân số 18 năm 2005; nội dung bài viết chỉ nghiên cứu về mặt lý
luận, phân tích những bất cập, mâu thuẫn của Bộ luật hình sự (1999) về hình
phạt tiền và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện, chứ chưa liên hệ với thực
tiễn áp dụng. Bài viết “Tăng cường hình phạt tiền đối với các tội chiếm đoạt
tài sản trong luật hình sự Việt Nam” của Th.s Lê Tường Vy trên Tạp chí Tòa
án nhân dân số 7 năm 2015; nội dung có phân tích và so sánh với quy định về
hình phạt tiền của pháp luật hình sự một số nước, có đề cập đến thực tiễn áp
dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung nhưng chỉ dừng lại ở
nhóm tội chiếm đoạt tài sản. Bài viết “Thi hành án phạt cảnh cáo theo luật thi
hành án hình sự” của Mai Thị Thanh Trúc trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 7
năm 2015; nội dung nói về những bất cập, mâu thuẫn giữa Luật Thi hành án
hình sự với Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án của hình phạt cảnh cáo, …
Hầu hết, các bài viết nêu trên đã phân tích những bất cập, mâu thuẫn và đề
xuất một số kiến nghị,góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và
pháp luật hình sự nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu Đề tài là trên cơ sở làm rõ bản chất, mục đích, ý
nghĩa và điều kiện áp dụng đối với từng loại hình phạt nhẹ hơn phạt tù, chỉ ra
những sai sót, hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng, đề xuất một số giải
đánh giá thực tiễn để tìm hiểu thêm quan điểm của một số người làm công tác
thực tiễn pháp lý, qua đó góp phần làm rõ thêm thực trạng áp dụng các hình
phạt này trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Qua việc nghiên cứu này, trước hết là giúp cho tác giả có cái nhìn bao
quát về các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, tầm quan trọng của từng loại hình
3
phạt này trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam; xác định
hiệu quả tác động của từng hình phạt mang lại có thỏa mãn như mục đích
hình phạt đã quy định? Qua phân tích về lý luận của pháp luật thực định, kết
hợp với thực tiễn áp dụng tại Cà Mau sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm
góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng trong thời gian tới. Kết quả nghiên cứu
này còn làm phong phú thêm kho tàng tư liệu về áp dụng hình phạt và có giá
trị tham khảo cho những ai quan tâm đến việc luận bàn về chính sách hình sự
hướng thiện trong pháp luật hìn sự nước ta.
7. Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Luận văn Gồm 3 chương như sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng hình phạt
nhẹ hơn hình phạt tù;
Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ở tỉnh
Cà Mau;
Chƣơng 3: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù.
4
ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Để kết án một con người thực hiện hành vi phạm tội phải trải qua nhiều
giai đoạn tố tụng và do nhiều cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Tuy nhiên,
giai đoạn quan trọng nhất, mang yếu tố quyết định đó là giai đoạn xét xử mà
Tòa án mới là cơ quan có thẩm quyền quyết định. Chính vì thế, trong phương
hướng và nhiệm vụ cải cách tư pháp, Nghị quyết 49-NQ/TW đã chỉ rõ “... xác
đinh Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm ...” [1, tr 03].
Trong quá trình xét xử, Tòa án (Hội đồng xét xử) phải xem xét thận
trọng tất cả các tình tiết của vụ án (tính nguy hiểm của hành vi, lỗi, hậu quả,
tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân người phạm tội, ... để chọn
một loại hình phạt áp dụng (hình phạt chính) và ấn định một mức hình phạt
tương xứng với hành vi phạm tội gây ra (trừ trường hợp miễn hình phạt). Đó
gọi là quyết định hình phạt. Theo Giáo sư, Tiến sĩ (GS.TS) Võ Khánh Vinh:
Nội dung của quyết định hình phạt thể hiện ở hai điểm sau: 1) Tòa án lựa
chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản
điều luật) được áp dụng để quyết định đối với bị cáo; 2) và tiếp đến xác định
một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo. [18, tr. 385]
Như vậy, có cơ sở để khẳng định trong quyết định hình phạt chứa đựng
hai yếu tố, đó là áp dụng hình phạt và ấn định mức xử phạt.
Tuy nhiên, BLHS không quy định rạch ròi và tách bạch giữa áp dụng
hình phạt với ấn định mức xử phạt mà gộp chung lại gọi là “Quyết định hình
phạt”. Mặc dù vậy, BLHS cũng không đưa ra khái niệm quyết định hình phạt,
mà chỉ quy định các căn cứ quyết định hình phạt, Điều 45 BLHS quy định:
“Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự,
cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
6
được quy định tại Điều 28 BLHS. Tuy nhiên, Tòa án có thể chọn một hình
phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nếu thuộc trường hợp áp dụng Điều 47 (quyết
định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật) của BLHS.
Trong các loại hình phạt thì hình phạt tù được áp dụng phổ biến nhất,
hình phạt tù là loại hình phạt tước của người bị kết án quyền tự do về cư trú,
đi lại, học tập, ... và bị giam giữ tại các trại trong một thời gian nhất định (có
thời hạn) hoặc cả đời (chung thân). Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: Tù có thời
hạn về thực chất là giam người bị kết án ở các trại giam, tức là cách ly người
đó ra khỏi môi trường xã hội bình thường trong một thời gian nhất định để
giáo dục và cải tạo họ. [18, tr. 359]
Hình phạt được gọi là nhẹ hơn hình phạt tù xuất phát từ tính nghiêm
khắc của hình phạt, các hình phạt đó tước của người bị kết án một số quyền,
lợi ích có tính nghiêm khắc nhẹ hơn hình phạt tù. Do đó, các hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù bao gồm 04 (bốn) loại hình phạt và thể hiện theo thứ tự như
sau: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất (Điều 28
BLHS).
Việc lựa chọn hình phạt nào để áp dụng trong hệ thống hình phạt là đã
khó nhưng để lựa chọn một hình phạt đối với các hình phạt nhẹ hơn hình phạt
tù lại càng khó khăn, phức tạp hơn. Bởi vì, điều kiện áp dụng của chúng có
nhiều điểm giống nhau, khoảng cách phân biệt không lớn.
Các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là những hình phạt không tước bỏ
quyền tự do cư trú, đi lại, học tập, ... của người bị kết án và không cách ly họ
ra khỏi đời sống xã hội bình thường mà chỉ mang tính răn đe, giáo dục là
chính; như: Khiển trách công khai của Tòa án đối với người bị kết án [18, tr.
354] (hình phạt cảnh cáo), tước ở người bị kết án một khoản tiền nhất định
trong những trường hợp do pháp luật quy định và sung vào công quỹ nhà
nước [18, tr. 355] (hình phạt tiền), được cải tạo ngay tại nơi thường trú hoặc
8
dụng hình phạt đối với “người bị kết án” chuẩn xác đối với “người phạm tội”.
Tuy nhiên, cụm từ “người phạm tội” được sử dụng trong khái niệm hình phạt
(Điều 26), hình phạt cảnh cáo (Điều 29), phạt tiền (Điều 30), cải tạo không
giam giữ (Điều 31) ... của BLHS nhưng đến nay BLHS 2015 sửa đổi 2017
vẫn sử dụng cụm từ “người phạm tội” trong các quy định này (các điều 30,
34, 35, 36). Vấn đề này cũng cần được khắc phục để pháp luật hình sự ngày
càng hoàn thiện hơn.
1.1.2.Nội dung áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
Trước khi áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù Tòa án phải xem
xét người bị kết án có thỏa mãn điều kiện và xứng đáng được miễn hình phạt
hay không, khi xác định không thể miễn hình phạt thì mới xem xét áp dụng
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù.
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là
cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện
quyền tư pháp”. Tại đoạn 2 Điều 26 của BLHS về khái niệm hình phạt có quy
định:“Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết
định. Vì vậy, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền lựa chọn hình phạt để
áp dụng là quá rõ ràng, không có gì phải bàn cải. Tuy nhiên, lựa chọn hình
phạt nào trong các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù để áp dụng là vấn đề phức
tạp và khó khăn. Nội dung của áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là
những việc mà Tòa án phải thực hiện, dựa trên những căn cứ nhất định, tuân
theo một nguyên tắc nhất định và phụ vào đối tượng áp dụng; bao gồm những
vấn đề sau đây:
Thứ nhất: Căn cứ áp dụng hình phạt. Do quyết định hình phạt là một
nội dung của áp dụng hình phạt, nên căn cứ quyết định hình phạt cũng là cơ
sở làm căn cứ cho áp dụng hình phạt. Điều 45 BLHS quy định:“Khi quyết
định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và
10
Trong áp dụng hình phạt, Toà án không đơn giản quyết định áp dụng
các căn cứ nêu trên. Trước khi quyết định áp dụng, Toà án phải xác định các
tình tiết của vụ án liên qun đến các căn cứ đó. Hay nói cách khác, Toà án phải
chứng minh được tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm; các yếu tố nhân
thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
có trong vụ án.
Thứ hai: Trình tự lựa chọn hình phạt. Việc lựa chọn hình phạt phải theo
thứ tự từ nhẹ đến nặng. Sau khi xem xét các căn cứ của áp dụng hình phạt,
Tòa án lựa chọn một hình phạt để áp dụng thì phải xem xét hình phạt nhẹ áp
dụng trước, nếu xét thấy hình phạt đó còn nhẹ so với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì chọn loại hình phạt kế tiếp
nặng hơn. Việc lựa chọn hình phạt phải đảm bảo đủ căn cứ đạt được mục đích
của hình phạt. Theo Điều 27 BLHS quy định:“Hình phạt không chỉ nhằm
trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã
hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ
nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác
tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Như vậy, khi
lựa chọn hình phạt để áp dụng đối với người bị kết án mà có nhiều loại hình
phạt (từ hai hình phạt trở lên) đều có thể áp dụng được, và cũng đều đảm bảo
đủ căn cứ tin rằng sẽ đạt được mục đích của hình phạt thì Tòa án phải chọn
loại hình phạt nhẹ hơn (nhẹ nhất) trong các hình phạt có thể áp dụng được.
Thứ ba: Đối tượng áp dụng hình phạt. Khi áp dụng các hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù thì phải phân biệt người bị kết án là người Việt Nam hay
người nước ngoài. Nếu là người nước ngoài thì ưu tiên áp dụng loại hình phạt
“trục xuất”, hạn chế áp dụng những hình phạt cảnh cáo, phạt tiền và không
thể áp dụng cải tạo không giam giữ. Ngược lại, nếu là người Việt Nam thì
12
Đối với các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù cũng thế, tùy từng hình phạt cụ thể
mà khi áp dụng sẽ tước một hoặc một số quyền, tài sản, lợi ích của người bị
kết án. Riêng hình phạt cảnh cáo không trực tiếp, mà gián tiếp (qua hình phạt)
tước tài sản của người bị kết án, đó là án phí phải nộp. [6, điều 99]
Thứ tư: Để lại án tích cho người bị kết án
Người bị kết án sẽ bị án tích cho bản thân người đó trong một thời gian
nhất định, trong thời gian bị coi có án tích mà phạm tội mới thì xác định
người này đã có một tiền án. Tùy từng hợp cụ thể mà tiền án có thể là yếu tố
định tội, định khung hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Việc xóa án
tích có thể đương nhiên theo quy định tại Điều 64 BLHS hoặc do Tòa án
quyết định theo quy định tại Điều 65 và 66 BLHS. Tuy nhiên, trong các hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù thì riêng hình phạt trục xuất áp dụng cho người
nước ngoài không để lại án tích (theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 64
BLHS).
1.2. Cơ sở pháp lý của áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
1.2.1. Quy định của BLHS về các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
1.2.1.1. Hình phạt “Cảnh cáo”
Điều 29 BLHS quy định:“Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm
tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn
hình phạt”. Từ quy định này, cho ta thấy người bị kết án có thể bị áp dụng
hình phạt cảnh cáo khi có đủ các điều kiện sau:
Một là: Phạm vào tội ít nghiêm trọng, tức tội phạm gây nguy hại không
lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba
năm tù (Khoản 3 Điều 8 BLHS). Như vậy, trong phần các tội phạm của
BLHS, những điều luật nào có chứa khung hình phạt quy định mức cao nhất
đến ba năm tù thì khung hình phạt đó thuộc tội ít nghiêm trọng, người phạm
vào khung đó là phạm tội ít nghiêm trọng.
14
quy định nên không thể áp dụng hình phạt này. Trong những trường hợp
BLHS không quy định, cảnh cáo chỉ có thể được áp dụng theo khoản 2 Điều
47 BLHS để chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn khi đủ điều
kiện quy định.
Trong LBHS 2015, có tổng cộng 200 điều luật quy định là tội phạm ít
nghiêm trọng, nhiều hơn BLHS 1999 là 60 điều. Trong số 200 điều chỉ có 26
điều quy định hình có áp dụng hình phạt cảnh cáo, chiếm tỷ lệ 13%, còn lại
176 điều không quy định. So sánh Điều 29 BLHS 1999 với Điều 34 BLHS
2015, các điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo không có gì thay đổi, bởi
Điều 34 BLHS 2015 kế thừa nguyên vẹn Điều 29 BLHS 1999. Do đó, những
thiếu sót về áp dụng hình phạt cảnh cáo trong BLHS 1999 cũng chưa được
BLHS 2015 khắc phục, thậm chí khả năng áp dụng hình phạt cảnh cáo thấp
hơn chỉ 13%, trong khi BLHS 1999 24%.
1.2.1.2. Hình phạt “Tiền”.
Hình phạt tiền được BLHS quy định vừa là hình phạt chính vừa là hình
phạt bổ sung.Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài nên hình phạt tiền được nghiên
cứu ở đây với tư cách là hình phạt chính.
Hình phạt tiền được Điều 30 BLHS quy định như sau:
“1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít
nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản
lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định.
3. Mức phạt tiền được quyết định tùy theo tính chất và mức độ nghiêm
trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của
người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu
đồng.
4. Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do
Tòa án quyết định trong bản án”.
16
hình phạt tiền, còn lại 62 điều luật không quy định, đây cũng là vấn đề mâu
thuẫn. Còn việc áp dụng Điều 47 BLHS (khi đủ điều kiện có 02 tình tiết giảm
nhẹ ở Khoản 1 Điều 46 BLHS) để chuyển sang áp dụng hình phạt tiền là câu
chuyện khác.
Tại Điều 35 BLHS 2015 quy định hình phạt tiền như sau:
“1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp
sau đây:
a) Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật
này quy định;
b) Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,
môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do
Bộ luật này quy định.
3. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy
hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội,
sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.
So sánh hình phạt tiền theo Điều 30 BLHS 1999 với Điều 35 BLHS
2015 cho thấy, Điều 30 chỉ áp dụng hình phạt tiền đối với loại tội phạm ít
nghiêm trọng, Điều 35 mở rộng áp dụng thêm đối với cả loại tội phạm
nghiệm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,
môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác.
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, BLHS 2015 mở rộng ra nhiều khách thể bị
xâm phạm, chứ không giới hạn 03 nhóm khách thể chính (trật tự quản lý kinh
tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính) và một số tội phạm khác như
Điều 30 BLHS 1999 quy định. Ngoài ra, Điều 35 BLHS 2015 bỏ Khoản 4 của
Điều 30 BLHS 1999 (Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong
thời hạn do Tòa án quyết định trong bản án). Các điều kiện còn lại của áp
18
Từ quy định trên, ta có thể xác định điều kiện áp dụng của hình phạt
Cải tạo không giam giữ bao gồm:
Một là: Phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng. Mặc dù Điều
luật quy định là “...phạm tội ít nghiêm trọng hoặcphạm tội nghiêm trọng...”
nhưng hiểu là được áp dụng cả tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm
trọng, đây là lỗi kỷ thuật trong công tác lập pháp nên BLHS 2015 đã khắc
phục vấn đề này thay chữ “hoặc” bằng dấu phẩy (,). Tội phạm ít nghiêm trọng
là tội có mức cao nhất của khung hình phạt không quá 03 năm tù tương tự như
ở hình phạt cảnh cáo và hình phạt tiền. Đối với tội phạm nghiêm trọng, là tội
phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối
với tội ấy là đến 07 năm tù (Khoản 3 Điều 8 BLHS).
Hai là: Đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng.
Người bị kết án phải là người đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi
thường trú rõ ràng. Nhưng nơi làm việc ổn định thuộc cơ quan nhà nước hay
thành phần kinh tế khác luật không quy định và cũng không có văn bản hướng
dẫn. Thông thường, có nơi làm việc là cơ quan nhà nước thì mới áp dụng hình
phạt này. Nơi thường trú rõ ràng là địa chỉ cụ thể tại xã A, huyện B, tỉnh C
chẳng hạn; nhưng không chỉ là nơi thường trú mà cả nơi tạm trú và nơi đang
sinh sống (Điều 12 Luật Cư trú 2006 sửa đổi năm 2013).
Ba là: Xét thấy không cần thiết phải cách ly người bị kết án khỏi xã
hội. Đây là điều kiện không đưa ra tiêu chí cụ thể, có cần thiết cách ly người
bị kết án khỏi xã hội hay không là do Tòa án xem xét, quyết định.Tuy nhiên,
để đáp ứng yêu cầu về mục đích của hình phạt, Tòa án cũng căn cứ vào các
tiêu chí của áp dụng hình phạt và có cơ sở tin rằng không cách ly người bị kết
án khỏi xã hội cũng đủ cải tạo, giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã
hội.
20