VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HỒNG VÂN
PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số:
60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN HỒNG VÂN
MỤC LỤC
2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về ưu đãi đối với người có
công với cách mạng ở Việt Nam
20
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật đối với người có công với cách
mạng tại tỉnh Bắc Giang.
37
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG QUA THỰC
TIỄN TỈNH BẮC GIANG
56
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với người có công với cách
mạng qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang.
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có công
56
58
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có
công.
61
KẾT LUẬN
HĐKC
: Hoạt động kháng chiến
LLVT
: Lực lượng vũ trang
LTCM
: Lão thành cách mạng
NCC
: Người có công
TB&XH
: Thương binh và xã hội
TKN
: Tiền khởi nghĩa
UBND
: Uỷ ban nhân dân
UBTVQH
hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1994. Đây là hai văn
bản pháp luật nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, đánh dấu sự tiến bộ
trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với NCC, cùng với các nghị định,
thông tư hướng dẫn thi hành hai pháp lệnh này tạo thành hệ thống pháp luật
về ưu đãi NCC. Nhìn chung, chế độ ưu đãi NCC đã được xây dựng và thực
hiện tương đối toàn diện, số người hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng;
đời sống vật chất và tinh thần của NCC với CM từng bước được nâng lên, góp
phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội; phát huy truyền thống cao đẹp
“Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, pháp luật về ưu đãi NCC cũng bộc
lộ không ít những hạn chế, bất cập, gây ảnh hưởng không tốt đến quyền được
hưởng ưu đãi của những NCC, đến sự công bằng, tiến bộ xã hội. Nguyên
nhân chủ yếu của hạn chế, bất cập là do: Hệ thống các văn bản pháp luật về
NCC tuy nhiều nhưng còn dàn trải, thiếu tính đồng bộ, chưa theo kịp với thực
tiễn quá trình phát triển chung của đất nước; còn có văn bản ban hành thiếu
chặt chẽ; chính sách đối với NCC với CM là một nội dung lớn, diễn ra cách
đây nhiều thập kỷ, trong điều kiện chiến tranh, khó khăn cho việc thu thập
chứng cứ pháp lý trong giải quyết chế độ, chính sách... Những mặt tồn tại,
những điểm bất cập đó đã gây ảnh hưởng không tốt đến đời sống của NCC
cũng như việc thực hiện quyền được hưởng ưu đãi mà Nhà nước, xã hội dành
cho họ; qua đó cũng là một trong những nguyên nhân nảy sinh những vụ việc
tiêu cực, tham nhũng về lĩnh vực này mà báo chí đã nêu trong thời gian qua.
Những năm qua, việc thực hiện các văn bản pháp luật về ưu đãi NCC
với CM đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Giang quan tâm chỉ đạo, triển khai
thực hiện đạt nhiều kết quả tích cực; đã chỉ đạo cụ thể hoá và triển khai thực
hiện các văn bản của Đảng, Nhà nước về chính sách NCC với CM, bảo đảm
đối tượng theo chế độ, chính sách hiện hành và phù hợp với tình hình thực
2
niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sĩ của Ban Tuyên giáo Trung ương và
một số khóa luận của sinh viên và nhiều bài báo, tạp chí khác liên quan.
Các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết khẳng định vai trò của Pháp
luật về ưu đãi NCC với CM nói chung và đề cập, nghiên cứu về nội dung này
dưới những góc độ khác nhau, nhưng chưa có một cá nhân hay tổ chức nào
nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về đề tài: “Pháp luật về ưu đãi
người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang”.
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1- Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về ưu đãi NCC
với CM ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay; từ đó đề xuất giải pháp
góp phần hoàn thiện hơn pháp luật về ưu đãi NCC với CM.
3.2- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đưa ra khái niệm về NCC với CM, ưu đãi NCC với CM và pháp luật về
ưu đãi NCC với CM. Phân tích các nguyên tắc điều chỉnh xuyên suốt pháp
luật về ưu đãi NCC với CM.
Phân tích việc thực hiện pháp luật về ưu đãi NCC với CM từ thực tiễn
tỉnh Bắc Giang. Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi
NCC với CM.
4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là những vấn đề thực tiễn
cũng như lý luận về thực hiện pháp luật đối với NCC với CM; phân tích đánh
giá thực tiễn tìm ra những hạn chế của pháp luật ưu đãi NCC với CM từ đó
đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn các quy phạm pháp luật về ưu
đãi NCC với CM qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang. Luận văn chỉ giới hạn nghiên
cứu những quy phạm pháp luật về chính sách đối với NCC với CM từ sau
ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đến nay.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1- Khái niệm về người có công, ưu đãi đối với người có công,
pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng
1.1.1- Khái niệm người có công với cách mạng
“Người có công” là một khái niệm xuất hiện trong lịch sử đấu tranh lâu
dài, anh dũng, bất khuất giành độc lập và bảo vệ tổ quốc của dân tộc ta. Khái
niệm này xuất hiện rõ nét nhất cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên. Ngay từ những ngày đầu
năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào hằng năm chọn một
ngày để đền ơn đáp nghĩa, ghi nhớ tri ân những NCC với tổ quốc, với nhân
dân. Người nói: “Thương binh là những người hy sinh gia đình, hy sinh
xương máu để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của tổ quốc, của
đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, tổ quốc, đồng
bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy….” [25, tr175].
Có thể hiểu khái niệm NCC theo nghĩa rộng là những người tự nguyện
hiến dâng cuộc đời mình cho việc đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nước. Họ
có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của đất
nước, của dân tộc. NCC gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, miễn là họ có những hành động xuất sắc có
lợi cho dân tộc. Như vậy, tiêu chí cơ bản để xác định NCC đó là phải có đóng
góp, cống hiến xuất sắc vì lợi ích của dân tộc. Những đóng góp, cống hiến của
họ có thể là trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho tổ quốc và
cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
6
đãi phù hợp. Chính sách đối với NCC là đường lối, chủ trương của Đảng, nhà
nước căn cứ vào nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ CM, dựa trên sự phát triển
kinh tế xã hội nhằm ghi nhận công lao, sự đóng góp, hy sinh cao cả của NCC.
Chính sách ưu đãi NCC phản ánh sự quan tâm, trách nhiệm của đất nước, của
cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ cha anh.
Ưu đãi đối với NCC là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội mà
cụ thể là chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Trong hệ thống bảo đảm an sinh
xã hội ở nước ta hiện nay gồm có ưu đãi xã hội đối với NCC, BHXH đối với
người lao động, cứu trợ xã hội đối với những người gặp rủi ro, khó khăn hoặc
hiểm nghèo... Đây là sự bảo vệ của nhà nước, của xã hội đối với các thành
viên của mình thông qua các biện pháp công cộng, trong đó có NCC. Ưu đãi
xã hội đối với NCC không chỉ là sự bảo vệ, sự giúp đỡ mà còn là sự thể hiện
nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với NCC.
Như vậy ưu đãi đối với NCC là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước,
của cộng đồng thông qua các chế độ đãi ngộ đặc biệt để ghi nhận công lao
đóng góp, sự hy sinh cao cả của NCC và bù đắp phần nào đời sống vật chất,
tinh thần đối với NCC.
1.1.3- Khái niệm về pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng
Trong cuộc đấu tranh CM giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho
đất nước của nhân dân ta có biết bao nhiêu chiến sỹ cộng sản, quần chúng CM
yêu nước đã ngã xuống, hy sinh nơi chiến trường khốc liệt để xây dựng nên
giang sơn, gấm vóc hôm nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu
đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ CM thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng
của liệt sĩ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do” [26, tr3].
Chiến tranh kết thúc, trong số những người con trở về từ trận tuyến cũng có
không ít người đã để lại một phần máu thịt của mình, các anh đã trở về với
những thương tật trên cơ thể vì lý tưởng CM cao đẹp. Ngày nay, tuy chiến
8
Có thể nói pháp luật ưu đãi NCC là công cụ quan trọng và hữu hiệu
nhất để thể chế hóa, triển khai thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC ở
nước ta. Nhất là trong điều kiện Nhà nước ta đang xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân và vì dân thì tính đề cao vai trò của pháp luật
ưu đãi NCC trong quá trình thể chế hóa, ban hành tổ chức thực hiện các chính
sách đối với NCC với CM của Đảng và Nhà nước là rất cần thiết.
Pháp luật nói chung được quan niệm là hệ thống các quy tắc xử sự
mang tính khuôn mẫu chung thống nhất, do Nhà nước ban hành nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp
cưỡng chế của Nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người thực
hiện. Pháp luật là công cụ đắc lực và hữu hiệu nhất trong tay Nhà nước để
thực hiện sự thống trị giai cấp và đảm bảo sự ổn định xã hội.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Pháp luật ưu đãi
NCC là tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện
chế độ ưu đãi đối với NCC trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị,
văn hóa…. Pháp luật ưu đãi NCC quy định những hình thức, nguyên tắc,
phương pháp và thủ tục để thực hiện các chế độ ưu đãi NCC, xác định quy
chế pháp lý của các chủ thể trong hoạt động quản lý nhà nước đối với NCC.
Pháp luật về ưu đãi NCC là hình thức pháp lý của chính sách, là công
cụ quản lý hữu hiệu mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của NCC, đảm
bảo công bằng, tiến bộ xã hội và thể hiện sâu sắc truyền thống đạo lý “Ăn quả
nhớ người trồng cây” của dân tộc ta.
Giữa pháp luật ưu đãi NCC và chính sách ưu đãi NCC với CM có mối
liên hệ mật thiết với nhau. Trong đó, chính sách ưu đãi NCC là hệ thống quan
điểm của Đảng, Nhà nước nhằm ghi nhận công lao, sự đóng góp, bù đắp phần
nào sự mất mát, hy sinh của những NCC với CM. Còn pháp luật ưu đãi NCC
10
Nguyên tắc này đặt ra đảm bảo sự thống nhất trong thực hiện ưu đãi đối
với NCC. Dưới sự quản lý của Nhà nước, công tác thực hiện sẽ được tiến
hành đồng bộ tới các cấp, các ngành và từng địa phương cụ thể trong cả nước.
Hai là, xã hội hóa các hoạt động ưu đãi đối với NCC với CM
Ưu đãi NCC không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước mà còn là
trách nhiệm của toàn xã hội. Đảng ban hành các chủ trương, Nhà nước thể chế
hóa các chủ trương của Đảng thành pháp luật ưu đãi dành cho NCC và những
quy định đảm bảo cho việc thực hiện chế độ ưu đãi này trong thực tế.
Để việc thực hiện ưu đãi NCC có hiệu quả cần có nguồn kinh phí ổn
định, nguồn kinh phí này chủ yếu từ ngân sách Nhà nước chi trả. Tuy vậy,
ngân sách Nhà nước chỉ đảm bảo thực hiện phần nào và hạn chế ở mức độ
nhất định. Nguồn lực lớn đảm bảo cho việc thực hiện ưu đãi này chính là từ
mọi tầng lớp trong xã hội. Mặt khác, cộng đồng xã hội là nơi NCC sống, gắn
bó, sinh hoạt hằng ngày, cũng là nơi họ gửi gắm bao tâm tư tình cảm và lòng
tin. Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc NCC sẽ huy động được nguồn lực lớn
trong nhân dân tham gia vào công tác chăm sóc NCC. Thực hiện tốt công tác
này sẽ phát huy được sức mạnh vật chất cũng như tinh thần của mọi tầng lớp
nhân dân trong công tác chăm sóc NCC; đồng thời đảm bảo cho hoạt động
này đi vào đời sống chung của toàn thể cộng đồng cũng như một nét đẹp luôn
được duy trì và phát huy. Mặc dù vậy, xã hội hóa không có nghĩa là nhà nước
phó mặc cho cộng đồng và xã hội mà trái lại càng xã hội hóa bao nhiêu thì vai
trò của Nhà nước càng quan trọng. Nhà nước vẫn phải giữ vai trò là người chủ
chốt, định hướng cho các hoạt động của cộng đồng xã hội có hiệu quả.
1.2.2. Điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về ưu đãi người có công
Một là, pháp luật về ưu đãi NCC phải có nội dung chi tiết và dễ hiểu, dễ
thực hiện.
12
bằng Sắc lệnh số 242/SL ngày 12/10/1948 quy định tiêu chuẩn xác nhận
thương binh, truy tặng “tử sĩ”, thực hiện chế độ “lương hưu thương tật” đối
với thương binh, chế độ “tiền tuất” đối với gia đình liệt sĩ. Đây là văn bản
pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt
sĩ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ
đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Do hoàn cảnh kháng chiến khó
khăn gian khổ nên các văn bản pháp luật ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ
thời kỳ kháng chiến chống Pháp còn đơn giản, nội dung mang tính hướng dẫn
là chủ yếu, tính pháp luật chưa cao. Mặt khác do khả năng kinh tế của nước ta
thời điểm đó còn nghèo nên trợ cấp mới chỉ mang tính chất tượng trưng.
Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ
nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên cứu quốc, Cục Chính trị quân đội
quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp
tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sĩ và thực hiện chỉ
thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh
Liệt sĩ. Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là
“Ngày Thương binh toàn quốc”. Từ đó hằng năm vào dịp này, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết
ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Từ tháng 7/1955, Đảng và
Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày
Thương binh Liệt sĩ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến
sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.
Sau khi quân và dân ta đánh thắng thực dân Pháp, các bên ký kết Hiệp
định Giơ-ne-ver 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, Đảng và Nhà
nước ta tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản quy định chế
độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, cán bộ LTCM, NCC
giúp đỡ CM như Nghị định số 980-TTg ngày 27/7/1956 của Thủ tướng Chính
14
mới. Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) đã quy định bổ sung, sửa đổi về đối tượng, điều kiện hưởng trợ
cấp ưu đãi và quy định thống nhất thực hiện chính sách ưu đãi trong phạm vi
cả nước.... Nhìn chung, đây là giai đoạn nền kinh tế nước ta có nhiều biến
động xấu, lại phải bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây
Nam và phía Bắc, đời sống nhân dân và các đối tượng có công gặp rất nhiều
khó khăn. Chính vì vậy các văn bản pháp luật về chính sách ưu đãi trong giai
đoạn này còn tản mạn, chắp vá, lại chi li phức tạp, nhiều quy định tuy đáp ứng
được yêu cầu trước mắt, nhưng còn nhiều hạn chế đối với những vấn đề cơ
bản lâu dài.
Sau năm 1985, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển từ cơ chế
tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường. Từ đầu những năm 90 trở đi, nền
kinh tế thị trường phát triển khá mạnh mẽ đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội
hết sức bức xúc, trong đã có vấn đề NCC. Để điều chỉnh các mâu thuẫn trong
xã hội, vấn đề ưu đãi NCC và gia đình có công với CM đã trở thành nguyên
tắc Hiến định và được ghi nhận trang trọng ở Hiến pháp năm 1992: “Thương
binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà
nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc
làm phù hợp với sức khoẻ và đời sống ổn định. Những người và gia đình có
công với nước được khen thưởng, chăm sóc”[29]. Nguyên tắc này đã được
thể chế trong Pháp lệnh ưu đãi người HĐCM, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương
binh, bệnh binh, người HĐKC, NCC giúp đỡ CM (gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãi
NCC với CM) do UBTVQH ban hành ngày 10/9/1994, và được quy định cụ
thể tại Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ. Đây là một bước
tiến dài trong việc pháp điển hoá pháp luật ưu đãi NCC với CM, là sự kế thừa,
chọn lọc và phát triển những bài học của nửa thế kỷ qua với một hệ thống trên
1.400 văn bản (trong đã có 21 Sắc lệnh, Pháp lệnh; 129 Nghị định; 387 Thông
16
vướng mắc phát sinh, đảm bảo chính sách phù hợp với thực tế, UBTVQH đã
ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ưu đãi NCC với CM (Pháp
lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13). Theo đó điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận
NCC đã từng bước được hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính
khách quan, công bằng xã hội, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, hài
hoà với hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong tiến trình đổi mới. Mỗi diện
đối tượng có điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận cụ thể. Điều kiện xác nhận và chế
độ ưu đãi được mở rộng hơn, bảo đảm kịp thời và đúng đối tượng; thẩm
quyền, trách nhiệm trong quản lý Nhà nước về ưu đãi xã hội đã được quy định
rõ ràng, cụ thể hơn, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước.
Để triển khai Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13, Bộ Lao động TB&XH và các Bộ, ngành đã trình Chính phủ ban hành 05 Nghị định; Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành 07 Quyết định, 02 Chỉ thị; các Bộ đã ban hành
17 thông tư và thông tư liên tịch. Qua 5 năm triển khai Pháp lệnh số 04/2012,
hầu hết NCC đã được xác nhận và hưởng chế độ ưu đãi đầy đủ và kịp thời.
Đến nay, cả nước có khoảng 9 triệu đối tượng NCC (trong đã có gần 1,2 triệu
liệt sĩ, trên 127 nghìn bà mẹ VNAH, hơn 2 triệu người là thương binh, bệnh
binh, thân nhân liệt sĩ, hàng vạn người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất
độc hóa học...). Từ năm 2011-2016 đã xác nhận và cấp mới Bằng "Tổ quốc
ghi công" cho 2.730 liệt sĩ; cấp lại Bằng “Tổ quốc ghi công” cho 112.000 liệt
sĩ; thực hiện chế độ trợ cấp hàng tháng đối với trên 65.000 người HĐCM
hoặc HĐKC bị địch bắt tù, đày; giải quyết chế độ trợ cấp người phục vụ đối
với gần 8.000 Bà mẹ VNAH còn sống tại gia đình; khoảng 7.000 người
HĐKC bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ
81% trở lên; giải quyết chế độ thờ cúng liệt sĩ đối với trên 410.000 người; chế
độ điều dưỡng luân phiên từ 5 năm sang 2 năm một lần đã được thực hiện với
trên 1,2 triệu người từ ngày 01/01/2013; chuyển đổi mức trợ cấp đối với
18
Hiện nay pháp luật về ưu đãi NCC được điều chỉnh bởi 4 Pháp lệnh và
được quy định chi tiết tại các Nghị định và Thông tư hướng dẫn: Pháp lệnh về
Ưu đãi NCC với CM số 26/2005/PL- UBTVQH11, ngày 29/6/2005 của
UBTVQH; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi
NCC với CM số 04/2012/PL-UBTVQH13, ngày 16/7/2012 của UBTVQH;
Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ VNAH", ngày
29/8/1994 của UBTVQH và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp
lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ VNAH" số
05/2012/UBTVQH13, ngày 20/10/2012 của UBTVQH.
Quy định chi tiết các pháp lệnh này có 4 Nghị định của Chính phủ gồm:
Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 Quy định chi tiết, hướng dẫn
thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi NCC với CM (sau đây gọi tắt là
Nghị định số 31/2013/NĐ-CP của Chính phủ); Nghị định số 56/2013/NĐ-CP,
ngày 22/5/2013 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định
danh hiệu vinh dự nhà nước "Bà mẹ VNAH"; Nghị định số 70/2017/NĐ-CP
ngày 06/6/2017 Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với NCC với CM;
Nghị định số 23/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 Quy định một số chế độ đối
với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở
Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 có từ đủ 20 năm trở lên phục
vụ trong quân đội, công an đã phục viên, xuất ngũ.
20
Thông tư của các Bộ hướng dẫn thực hiện gồm: Thông tư số
05/2013/TT-BLĐTBXH, ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động TB&XH Hướng
dẫn thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi NCC với CM và
thân nhân (sau đây gọi tắt là Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH); Thông tư
liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP, ngày 22/10/2013 của Bộ Lao
động TB&XH và Bộ Quốc phòng Hướng dẫn xác nhận liệt sỹ, thương binh,
người hưởng chính sách như thương binh không còn giấy tờ (sau đây gọi tắt