Pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trần Hồng Vân

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH
BẮC GIANG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số:

60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI,
1 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh

Phản biện 1: ..................................................................................
Phản biện 2: ..................................................................................

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại : Học viện Khoa học xã hội.


hiện có điểm chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ, từ đó tạo kẽ hở để các phần tử
xấu lợi dụng như khai man hồ sơ để hưởng chính sách; lợi dụng chức trách,
quyền hạn để làm trái quy định; lợi dụng chính sách ưu đãi người có công
để trục lợi bất chính, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của
người có công; ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước...
Nhằm tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về
ưu đãi người có công với cách mạng thông qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang,

1


chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật ưu đãi người có công, cũng như
những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện trên địa bàn tỉnh, từ đó đưa
ra phương hướng và một số kiến nghị để hoàn thiện hơn pháp luật về ưu đãi
người có công nói chung và quá trình triển khai, tổ chức thực hiện pháp luật
về ưu đãi người có công tại địa phương trong thời gian tới; tác giả chọn đề
tài: Pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Bắc
Giang làm luận văn thạc sỹ luật học.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật
an sinh xã hội Việt Nam, do vậy đã có nhiều đề tài, bài viết liên quan đến
Pháp luật về ưu đãi người có công. Các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài
viết khẳng định vai trò của Pháp luật về ưu đãi người có công với cách
mạng nói chung và đề cập, nghiên cứu về nội dung này dưới những góc độ
khác nhau; nhưng chưa có một cá nhân hay tổ chức nào nghiên cứu một
cách đầy đủ, có hệ thống về đề tài: “Pháp luật về ưu đãi người có công với
cách mạng từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang”.
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về ưu đãi

thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến người có công. Đánh
giá đúng thực trạng việc thực hiện pháp luật về ưu đãi người có công trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang. Các nghiên cứu của đề tài này có thể làm tài liệu
tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về pháp luật an sinh xã hội,
cụ thể là pháp luật về ưu đãi người có công. Một số giải pháp, kiến nghị của
đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp
luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có công.
Luận văn mong muốn góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ
quan liên quan tại tỉnh trong việc chỉ đạo, triển khai thực hiện pháp luật về
ưu đãi người có công.

3


7- Cơ cấu của luận văn
Nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật ưu đãi người có công
với cách mạng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật ưu
đãi đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với người có công
với cách mạng qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra Luận văn còn có mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham
khảo và phụ lục.

4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT

sự bảo vệ của nhà nước, của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua các biện pháp công cộng, trong đó có người có công. Ưu đãi xã hội đối
với người có công không chỉ là sự bảo vệ, sự giúp đỡ mà còn là sự thể hiện
nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với người có công.
1.1.3- Khái niệm về pháp luật ưu đãi người có công với cách
mạng
Ngay từ những ngày đầu nước nhà mới giành được độc lập, Đảng
và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện các chính sách ưu
đãi đối với người có công với cách mạng và người khởi xướng cho chính
sách này chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính sách ưu đãi người có công
là vấn đề rộng lớn mang tính định hướng; trên cơ sở định hướng đó, Nhà
nước tổ chức thực hiện các chính sách đó thông qua các nội dung công việc
cụ thể như: thể chế hóa nội dung chính sách thành các văn bản pháp luật
chứa đựng các quy phạm pháp luật ưu đãi người có công, hướng dẫn triển
khai thực hiện và kiểm tra giám sát quá trình thực hiện các quy phạm đã
quy định đó. Vì vậy, thực hiện chính sách ưu đãi người có công thực chất là
việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, được Nhà nước thể chế hoá
bằng các văn bản pháp luật. Nhà nước thông qua bộ máy của mình với các
cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương, tổ chức triển khai, đưa
các chính sách ưu đãi người có công vào thực tiễn cuộc sống. Nhà nước tổ
chức, động viên, khuyến khích, định hướng các phong trào của quần chúng,
tạo ra sức mạnh tổng hợp huy động các nguồn lực, nhân lực ở cộng đồng
dân cư trong quá trình thực hiện, tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người
có công.

6


Có thể nói pháp luật ưu đãi người có công là công cụ quan trọng và
hữu hiệu nhất để thể chế hóa, triển khai thực hiện chính sách ưu đãi đối với

ổn định xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, công bằng và tiến
bộ.
Hai là, xã hội hóa các hoạt động ưu đãi đối với người có công với
cách mạng. Để việc thực hiện ưu đãi người có công có hiệu quả cần có
nguồn kinh phí ổn định, nguồn kinh phí này chủ yếu từ ngân sách Nhà nước
chi trả. Tuy vậy, ngân sách Nhà nước chỉ đảm bảo thực hiện phần nào và
hạn chế ở mức độ nhất định. Nguồn lực lớn đảm bảo cho việc thực hiện ưu
đãi này chính là từ mọi tầng lớp trong xã hội. Mặt khác, cộng đồng xã hội là
nơi người có công sống, gắn bó, sinh hoạt hằng ngày, cũng là nơi họ gửi
gắm bao tâm tư tình cảm và lòng tin. Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc
người có công sẽ huy động được nguồn lực lớn trong nhân dân tham gia
vào công tác chăm sóc người có công.
1.2.2. Điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về ưu đãi người có
công
Một là, pháp luật về ưu đãi người có công phải có nội dung chi tiết
và dễ hiểu, dễ thực hiện. Điều kiện này xuất phát từ đối tượng người có
công hiện nay ở nước ta là người có công với cách mạng, đa số họ là những
người lớn tuổi, điều kiện học tập hạn chế nên trình độ học vấn không cao
dẫn đến khả năng tiếp cận với các quy định pháp luật không được sâu sắc.
Vì vậy các nội dung pháp luật về ưu đãi người có công cần diễn đạt chi tiết,
cụ thể điều kiện xác nhận, đối tượng cũng như trình tự thủ tục để được
hưởng các chế độ ưu đãi nhất là nội dung cần dễ hiểu và dễ thực hiện để tất
cả các đối tượng người có công có khả năng tiếp cận nhanh và dễ dàng
nhất.
Hai là, nội dung của các văn bản pháp luật về ưu đãi người có công
phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và truyền thống dân tộc. Sự phù

8




Khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, Đảng và Nhà nước ta vẫn
xác định công tác thương binh liệt sĩ là một trong những vấn đề lớn của
nước ta. Mười năm sau ngày giải phóng (1975-1985) là giai đoạn có những
thay đổi to lớn trong đời sống xã hội của nước ta. Pháp luật ưu đãi người có
công với cách mạng cũng có những thay đổi bổ sung để khắc phục một số
bất hợp lý, giải quyết một khối lượng lớn công việc do hậu quả của chiến
tranh để lại, hình thành một hệ thống văn bản pháp quy có hiệu lực thực
hiện thống nhất trong cả nước, phục vụ cho yêu cầu của giai đoạn mới.
Sau năm 1985, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển từ cơ
chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường. Từ đầu những năm 90 trở đi,
nền kinh tế thị trường phát triển khá mạnh mẽ đã làm nảy sinh nhiều vấn đề
xã hội hết sức bức xúc, trong đã có vấn đề người có công. Để điều chỉnh
các mâu thuẫn trong xã hội, vấn đề ưu đãi người có công và gia đình có
công với cách mạng đã trở thành nguyên tắc Hiến định và được ghi nhận
trang trọng ở Hiến pháp năm 1992. Nguyên tắc này đã được thể chế trong
Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ,
thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp
đỡ cách mạng do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 10/9/1994, và
được quy định cụ thể tại Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính
phủ.
Với việc ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng,
nhiều vấn đề còn tồn tại trong chính sách ưu đãi trước đây được điều chỉnh
phù hợp với tình hình mới, như việc áp dụng thống nhất mức trợ cấp giữa
thương binh hưởng lương và thương binh hưởng sinh hoạt phí khi bị
thương, giữa thương binh đang công tác hay nghỉ hưu với thương binh về
địa phương có cùng tỷ lệ thương tật; thực hiện công bằng trong chính sách
giữa người có công với cách mạng đi thoát ly và không thoát ly, căn bản

10

có công với cách mạng ở Việt Nam
Hiện nay pháp luật về ưu đãi người có công được điều chỉnh bởi 4
Pháp lệnh và được quy định chi tiết tại các Nghị định và Thông tư hướng
dẫn. Quy định chi tiết các pháp lệnh này có 4 Nghị định của Chính phủ và
các thông tư hướng dẫn. Bên cạnh các văn bản chủ yếu đó, hiện nay thực
hiện chế độ ưu đãi đối với người có công còn được quy định ở một số điều
khoản của văn bản quy phạm pháp luật khác.
Điều 2, Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH ngày 11/7/2005 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ưu đãi người có công với cách mạng được
Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp
lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định có 02 nhóm đối tượng
được hưởng chế độ ưu đãi đó là người có công với cách mạng và thân nhân
của họ; trong đó người có công với cách mạng bao gồm 12 đối tượng sau:
Người HĐCM trước ngày 01/01/1945. Người hoạt động cách mạng
từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Liệt sĩ. Bà
mẹ Việt Nam anh hùng. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Anh hùng
lao động trong thời kỳ kháng chiến. Thương binh và người được hưởng
chính sách như thương binh. Bệnh binh. Người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm chất độc hóa học. Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động
kháng chiến bị địch bắt tù, đày. Người hoạt động kháng chiến giải phóng

12


dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Người có công giúp đỡ
cách mạng.
Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định
số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng
dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách
mạng; Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao

Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về
phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn) 110 km về phía
Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông. Phía Bắc và Đông
Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Hà Nội, Thái
Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng
Ninh. Bắc Giang có 09 huyện và 01 thành phố; 230 xã, phường, thị trấn;
dân số trên 1,6 triệu người. Trong thời gian qua Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tập
trung chỉ đạo, triển khai thực hiện; ban hành các chỉ thị, kế hoạch... cụ thể
hoá các văn bản, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước hiện hành, phù hợp với
tình hình thực tiễn của tỉnh về chính sách đối với người có công với cách
mạng với một số quan điểm chỉ đạo chung sau:
Thứ nhất, các cấp, các ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ
chủ động tham mưu xây dựng các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện công
tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với các thương binh, gia đình
liệt sĩ, người có công và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” phù hợp với tình
hình thực tế của địa phương, đơn vị; nâng cao trách nhiệm tổ chức triển
khai thực hiện của các cấp, các ngành, các địa phương.
Thứ hai, kịp thời rà soát, đánh giá khó khăn, tồn tại trong quá trình
giải quyết chế độ, chính sách để đề xuất sửa đổi, bổ sung chế độ chính sách
phù hợp theo các văn bản, hướng dẫn hiện hành; đảm bảo quyền và lợi ích
cho đối tượng người có công song vẫn đảm bảo tính chính xác, công khai,
minh bạch. Tập trung xử lý dứt điểm các trường hợp còn tồn đọng về xác

14


nhận, công nhận người có công, đặc biệt đối với liệt sĩ, thương binh, người
hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ,
người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị ảnh hưởng bởi chất độc
hóa học.

tháng, chế độ trợ cấp một lần cho các đối tượng người có công và thân nhân
của họ trên địa bàn tỉnh được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định.
Việc điều chỉnh mức trợ cấp, phụ cấp cho đối tượng người có công đang
hưởng chế độ theo các văn bản chính sách mới được tiến hành nhanh
chóng, chính xác. Nhờ các chính sách ưu đãi của Nhà nước; sự quan tâm
của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, sự giúp đỡ, động
viên của cộng đồng và sự cố gắng của bản thân, đến nay phần lớn đời sống
hộ chính sách người có công của tỉnh đều ở mức trung bình khá so với cộng
đồng dân cư nơi cư trú, góp phần giữ vững và ổn định chính trị - xã hội trên
địa bàn tỉnh. Việc tổ chức thực hiện các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa",
công tác xã hội hoá việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có
công với cách mạng của Đảng và Nhà nước ta; cùng với việc thực hiện tốt
các chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng đã góp phần
tích cực vào việc chăm sóc các đối tượng chính sách ở ngay từng cơ sở
thôn, xóm, làng, bản, làm sâu đậm thêm mối quan hệ truyền thống tình
làng, nghĩa xóm tốt đẹp của nhân dân ta, thể hiện truyền thống "Uống nước,
nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc ta đối với những
người con ưu tú của dân tộc đã hy sinh xương máu vì độc lập và tự do của
tổ quốc; đồng thời, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta.
Tuy nhiên, viêc thực hiện chính sách đối với người có công với
cách mạng trên địa bàn tỉnh còn một số hạn chế, vướng mắc như:
- Việc xác nhận người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945
và người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa
Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nhiều vướng mắc về căn cứ xác nhận.

16


- Đối với liệt sĩ, thương binh chưa có hướng dẫn cụ thể về thủ tục,
hồ sơ xác nhận liệt sĩ đối với trường hợp bị bắt, tra tấn.

đồng bộ, thống nhất và kịp thời chính sách ưu đãi đối với NCC; tăng cường
kiểm tra, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm, kiện toàn đội ngũ cán
bộ làm công tác chính sách.
Hai là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong
tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về truyền thống “Uống nước nhớ
nguồn”.
Ba là: Khuyến khích, động viên và tạo điều kiện để thương binh,
bệnh binh, gia đình liệt sĩ, NCC với CM được tham gia các hoạt động xã
hội, phát triển sản xuất kinh doanh.
Bốn là: Tổ chức sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng các tập
thể, cá nhân làm tốt phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, những thương binh,
gia đình liệt sĩ và NCC với CM có thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực.
Năm là: Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần nêu cao vai trò, trách
nhiệm của mình, thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, động viên mọi
tầng lớp nhân dân tham gia cùng Nhà nước thực hiện tốt hơn nữa công tác
chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần đối với thương binh, bệnh binh, gia
đình liệt sĩ và NCC với CM trong tiến trình hội nhập và phát triển đất nước.
Theo hướng đó xin được đưa ra một số phương hướng và kiến nghị
nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về ưu đãi NCC với CM.
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có
công
Để hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có công, các cơ quan chức
năng cần chú ý một số vấn đề sau:

18


- Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng phải bảo đảm tính
kế thừa và phù hợp với điều kiện và tình hình của đất nước. Pháp luật ưu
đãi người có công với cách mạng có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị

động nguồn lực từ cộng đồng, xã hội cùng Nhà nước quan tâm chăm lo đời
sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng.
3.3- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi
người có công
Qua nghiên cứu thực tế việc triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang cho thấy, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về ưu đãi
đối với người có công với cách mạng; trong đó tập trung vào một số nội
dung sau:
- Về đối tượng, điều kiện công nhận:
Theo pháp luật ưu đãi về người có công với cách mạng hiện hành
mới nêu đối tượng người có công qua 2 cuộc kháng chiến, trong khi đó
những đối tượng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân,
Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân, các nhà khoa học có những phát
minh nghiên cứu xuất sắc; người Việt Nam ở nước ngoài hay là người nước
ngoài có những cống hiến lớn lao trong công cuộc kháng chiến giành độc
lập dân tộc ở Việt Nam cũng như trong thời kỳ đổi mới, phát triển đất
nước… chưa được đề cập đến. Trên cơ sở tình hình thực tiễn hiện nay, cần
nghiên cứu, mở rộng thêm đối tượng cho phù hợp hơn.
Về điều kiện xét, công nhận người hoạt động cách mạng trước ngày
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đang gặp nhiều vướng mắc và có nhiều
đơn, thư của nhân dân về vấn đề này. Để tiếp tục giải quyết chính sách đối
với người có công với cách mạng, đề nghị Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Nghị định số 31/2013/NĐ-CP của Chính
phủ trong đó cần quan tâm và có hướng giải quyết một số nội dung về căn
cứ công nhận, thẩm quyền xét công nhận, chế độ nghỉ dưỡng sức...

20


- Về trình tự lập hồ sơ và thủ tục công nhận. Thủ tục xác nhận đối

định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể đối với từng cơ quan Nhà
nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như xử lý vi phạm đối với
lĩnh vực này để tạo điều kiện cho người có công nói riêng và nhân dân nói
chung phản ánh ý kiến và tâm tư, nguyện vọng của mình.
- Về việc xây dựng Luật ưu đãi người có công với cách mạng. Về
việc xây dựng Luật ưu đãi người có công với cách mạng, hiện vẫn còn các ý
kiến khác nhau giữa việc hoàn thiện chính sách người có công theo hướng
sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh hiện hành hay xây dựng, ban
hành Luật người có công. Nhiều ý kiến cho rằng, nên giữ nguyên hình thức
pháp lệnh với mục tiêu kịp thời sửa đổi những bất cập, vướng mắc của Pháp
lệnh hiện hành và tạo sự thuận lợi, linh hoạt khi cần điều chỉnh chính sách.
Là cán bộ đang công tác tại cơ quan tổ chức cấp ủy cấp tỉnh; trực tiếp tham
mưu về chính sách cán bộ, trong đó có chính sách người có công với cách
mạng; qua thời gian công tác và quá trình nghiên cứu, xây dựng Luận văn
này; cá nhân tôi đồng tình với quan điểm về lâu dài cần xây dựng và ban
hành Luật người có công. Vì, trong điều kiện phát triển của đất nước hiện
nay cần phải có sự điều chỉnh phạm vi, đối tượng rộng hơn, đầy đủ hơn,
không chỉ những người có công trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, mà còn
mở rộng đến cả những người có công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.

22


KẾT LUẬN
Ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách lớn của
Đảng và Nhà nước ta, đó là sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với
người có công với cách mạng. Do vậy những năm qua, Đảng và Nhà nước
đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với công tác thương binh, liệt
sĩ và người có công với cách mạng. Qua đó, từng bước nâng cao đời sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status