Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh Đăk Lăk (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THỊ NHÂN

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỪ THỰC TIỀN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

ĐẮK LẮK – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN THỊ NHÂN

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỪ THỰC TIỀN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02


3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ...................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ................................... 5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ............. 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ............................................. 5
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................. 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân.............................................. 7
1.1.1. Khái niệm kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân .......................... 7
1.1.2. Đặc điểm kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ............................ 9
1.1.3. Vị trí, vai trò của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ................ 11
1.2. Pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân.......................... 12
1.2.1. Khái niệm pháp luật về kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ...... 12
1.2.2. Nội dung pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ....... 13
1.2.3. Vai trò của pháp luật về kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ..... 14
1.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân ..................................................................................................... 17

4


1.3.1. Yếu tố thể chế pháp lý .................................................................... 17
1.3.2. Yếu tố tổ chức, bộ máy ................................................................... 20
1.3.3. Yếu tố cán bộ, công chức ................................................................ 23
1.3.4. Yếu tố cơ sở, vật chất và nguồn lực tài chính ................................. 23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở TỈNH ĐẮK LẮK
2.1. Nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về Kiểm sát viên Viện Kiểm
sát nhân dân ..................................................................................................... 26
2.1.1. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

nhân dân .......................................................................................................... 63
3.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân
dân ................................................................................................................... 67
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân hiện nay ...................................................................................... 74
3.2.1. Tăng cường các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân ........................................................................... 74
3.2.2. Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về Kiểm
sát viên Viện kiểm sát nhân dân...................................................................... 75
KẾT LUẬN ............................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 79

6


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NNPQ

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

7



đơn vị hành chính cấp huyện gồm 01 thành phố cấp 01 Buôn Ma Thuột, 01 thị
xã Buôn Hồ và 13 huyện, với 184 xã, 2.445 thôn, buôn, bản.
Trong những năm qua, tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh luôn
diễn biến và tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nhất là các hoạt động của bọn
phản động Fulrô lưu vong liên quan đến tình hình an ninh nông thôn và tội
phạm hình sự (lượng án ở Đắk Lắk giải quyết đứng thứ 5 trên toàn quốc). Với
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND
tỉnh Đắk Lắk đã góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử
lý kịp thời, nghiêm minh. VKSND tỉnh Đắk Lắk không thể đảm nhận được
vai trò, nếu thiếu nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là đội ngũ cán bộ, Kiểm sát
viên của hai cấp. Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên hai cấp có đủ
phẩm chất và năng lực là nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và thực hiện
nhiệm vụ chính trị của địa phương, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân, vì dân, pháp luật
về Kiểm sát viên đã bộc lộ những những yếu kém, bất cập: thiếu tính đồng
bộ, tính thống nhất; nhiều quy định về Kiểm sát viên còn chung chung, chưa
hoàn toàn phù hợp; số lượng định biên và cơ cấu chức danh Kiểm sát viên
còn gò bó, cứng nhắc, có nơi thiếu, nơi thừa, chưa đáp ứng được yêu cầu,
nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị; các quy định về quản lý còn phân tán, chống
chéo, thiếu thống nhất, chưa có sự phân công rõ ràng, rành mạch; tiêu chuẩn
đối với Kiểm sát viên còn nhiều mâu thuẫn, chưa ăn khớp; công tác đào tạo,
bồi dưỡng Kiểm sát viên chậm được đổi mới; tiền lương, phụ cấp và các đãi
ngộ khác đối với Kiểm sát viên chưa được giải quyết một cách cơ bản, còn
nhiều bất hợp lý; một số chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng về Kiểm
sát viên chưa được thể chế hóa thành pháp luật; chính sách thu hút và trọng
dụng tài năng chưa được quan tâm; tình trạng cục bộ địa phương chậm được

tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Lê Tài Triển (1970), Nhiệm vụ của Công tố viên,
Nxb Sài Gòn; Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án

10


tiến sĩ Luật học, Hà Nội; Đỗ Văn Đương (2006), "Cơ quan thực hành quyền
công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp; Nguyễn Thị Thu Hà (2015), “Tranh tụng trong tố tụng dân sự - một số
vấn đề lý luận cơ bản”, đăng trên trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ;
Nguyễn Thị Thu Hà (2009), Về quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS nhân
dân, Tạp chí Luật học tháng 11/2009; Phạm Hồng Hải (2006), "Đổi mới mô
hình tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng
thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Nhà
nước và pháp luật…
Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện, chuyên biệt về pháp luật Kiểm sát viên VKSND. Luận văn là công trình
khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về: “Pháp
luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân - Thực tiễn từ tỉnh Đắk Lắk”
dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Với kết quả nghiên cứu của
luận văn, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần khắc phục tình trạng nêu trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận
và thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND - Từ thực tiễn tỉnh Đắk
Lắk để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn
thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thời gian tới.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, luận văn xây dựng cơ sở lý luận của pháp luật về Kiểm sát
viên VKSND thông qua việc phân tích, làm rõ khái niệm pháp luật về Kiểm
sát viên VKSND; đặc điểm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND; nội dung

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu sâu, toàn diện và có hệ
thống về pháp luật Kiểm sát viên VKSND - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk trên cả
phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu của luận
văn sẽ là những bổ sung quan trọng vào hệ thống lý luận về Luật Hiến pháp
và Luật Hành chính, góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng, Nhà

12


nước về chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2020; về đổi mới công tác cán bộ và cải cách tư pháp.
Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu này còn góp phần nâng cao nhận
thức về vai trò, giá trị của pháp luật Kiểm sát viên VKSND trong đời sống
dân sự. Luận văn có thể được tham khảo trong xây dựng chiến lược hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020, trong đổi mới công tác cán
bộ và cải cách tư pháp; tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở
đào tạo chuyên ngành pháp luật, tư pháp và các khóa bồi dưỡng cán bộ, công
chức ngành kiểm sát nhân dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân và thực tiễn thi hành ở tỉnh Đắk Lắk;
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân và bảo đảm thực hiện pháp luật về Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân hiện nay.


nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước.”
Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử,
phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ
các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong
các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử,
phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định
là cán bộ.
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia
trên thế giới. Đây là khái niệm mang tính lịch sử, đồng thời phản ánh đặc sắc
riêng của nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia. Tùy thuộc
vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và chế độ chính sách của mỗi quốc gia
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà nội dung của khái niệm công chức
được hiểu theo những cách khác nhau.
Theo Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011),
Luật tổ chức VKSND năm 2002 và đến nay là Luật Tổ chức VKSND năm
2014 qui định thì tại Điều 74 quy định: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm
theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp [38].
Đồng thời, căn cứ Nghị định 60/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định
những người là công chức thì xác định “Công chức là công dân Việt Nam,

15


được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế,
hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ

bao gồm VKSND tối cao, các VKSND cấp cao, các VKSND địa phương, các
VKS quân sự và được phân cấp đảm nhiệm những chức năng. Do đó, Kiểm
sát viên VKSND gồm hai bộ phận, một là, chỉ thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo bổ nhiệm ngạch Kiểm sát
viên; hai là, vừa thực hiện chức năng trên vừa giữ chức danh quản lý theo sự
bỏ phiếu tín nhiệm của từng nhiệm kỳ.
Về hoạt động: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND
trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người
phạm tội; kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành
vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp.
Đặc điểm của Kiểm sát viên VKSND được thể hiện cụ thể sau đây:
Kiểm sát viên là người thực thi pháp luật và thực hiện chức năng, nhiệm vụ
kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ
tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do,
danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích
của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải
được xử lý theo pháp luật.
Kiểm sát viên có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh
chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân; đấu tranh
không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp luật; kiên quyết bảo
vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và công bằng xã hội; không ngừng phấn đấu,
học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Công minh, chính
trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”; nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật,
nguyên tắc tổ chức hoạt động của VKSND. Chính vì vậy, Kiểm sát viên là
những người gần dân, sát dân, biết dân, vì nhân dân phục vụ nên dễ làm dân

17


18


được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ, nếu không được bổ nhiệm thì không còn giữ
chức danh Kiểm sát viên nữa; thường có sự điều động, luân chuyển. Về nghĩa
vụ, trách nhiệm có tính đặc thù, chuyên trách với trách nhiệm cao, thường
xuyên làm việc với đối tượng phạm tội, nhưng thực chất chế độ của Kiểm sát
viên chưa được hưởng tương xứng và đầy đủ. Bên cạnh đó, có những Kiểm
sát viên còn hạn chế về năng lực, trình độ, chưa nắm vững các quy định pháp
luật và các quy định có liên quan nên chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh
phòng, chống tội phạm.
1.1.3. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân
Trong bộ máy nhà nước, VKSND có một vị trí đặc biệt. Luật tổ chức
VKSND năm 2014 khẳng định rõ địa vị pháp lý của VKSND là thiết chế Hiến
định trong bộ máy nhà nước, có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân. Hệ thống cơ quan VKSND gồm VKSND tối cao,
các VKSND cấp cao, các VKSND địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
VKSND tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp,
góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
VKSND cấp cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
cấp cao. VKSND cấp tỉnh và VKSND cấp huyện thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình. Các Viện
kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong quân đội.
1.2. Pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân
1.2.1. Khái niệm pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân
Pháp luật về Kiểm sát viên VKSND là lĩnh vực pháp luật có tính chất
liên ngành, các quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND được quy định

quy này do cơ quan nhà nước ở Trung ương, địa phương ban hành. Phạm vi
điều chỉnh của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND là những quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình thiết lập đội ngũ Kiểm sát viên.

20


Từ những phân tích trên đây, dưới góc độ luật học có thể khái quát như
sau: Pháp luật về Kiểm sát viên VKSND là tổng thể các quy phạm pháp luật
thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành, quy định các nguyên tắc của chế độ công vụ, trật tự
hoạt động công vụ, điều chỉnh các quan hệ về công vụ trong thiết lập các chức
danh công chức của VKSND; các quyền, nghĩa vụ của Kiểm sát viên VKSND
trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ; việc bổ nhiệm, tuyển dụng, sử
dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật và các vấn đề khác trong chính sách
Kiểm sát viên VKSND.
1.2.2. Nội dung pháp luật về Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân
Quy định pháp luật điều chỉnh về Kiểm sát viên có ở nhiều văn bản
khác nhau. Dưới góc độ luật Hiến pháp - Luật Hành chính, dựa vào các quan
hệ được điều chỉnh bởi pháp luật về Kiểm sát viên VKSND, trên cơ sở thực
tiễn pháp luật, có thể xác định được nội dung của pháp luật về Kiểm sát viên
VKSND gồm những vấn đề cơ bản sau:
- Địa vị pháp lý - công vụ của chức danh Kiểm sát viên. Vấn đề này
thường trả lời cho câu hỏi, Kiểm sát viên có phải là cán bộ, hay công chức
trong nền công vụ mà nó đang tồn tại.
- Nhiệm kỳ Kiểm sát viên, các ngạch Kiểm sát viên.
- Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.
- Tiêu chuẩn Kiểm sát viên, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức Kiểm sát viên.
- Chế độ đối với Kiểm sát viên.

của Đảng. Pháp luật là phương tiện thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm, chính
sách của Đảng. Chính sách đưa ra phương hướng phải tiến tới, ấn định nguyên
tắc giải quyết các vấn đề, còn pháp luật quy định cụ thể trong từng trường hợp
mỗi người có quyền và nghĩa vụ gì, phải hành động hay không được hành động,
quy định những biện pháp cưỡng chế nếu có những hành vi vi phạm. Đồng thời,

22


pháp luật về Kiểm sát viên VKSND cũng chính là phương tiện để Đảng kiểm
nghiệm chủ trương, đường lối của mình trong thực tiễn.
Hai là, pháp luật về Kiểm sát viên VKSND là phương tiện quan trọng
trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước là lĩnh vực có
quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều
chỉnh, trong đó có quan hệ hành chính nhân sự là một trong những vấn đề
quan trọng, mối quan tâm hàng đầu của nền hành chính các quốc gia. Pháp
luật về Kiểm sát viên VKSND là tổng thể những quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ quản lý nhân sự, đảm bảo trật tự công vụ và sự vận hành có
hiệu quả của bộ máy nhà nước từ khâu tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi
dưỡng đến khâu sử dụng, quản lý và các chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật
đối với Kiểm sát viên VKSND. Các văn bản pháp luật đó quy định phạm vi,
quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của Kiểm sát viên VKSND trên cơ sở
các chức vụ hành chính được nhà nước trao cho nhằm tạo ra hành lang pháp
lý trong quá trình thực thi công vụ, phục vụ nhân dân. Việc quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, những việc Kiểm sát viên VKSND được làm và không được
làm là đảm bảo pháp lý giúp cho Kiểm sát viên VKSND hoàn thành chức
trách, nhiệm vụ của mình trên cơ sở pháp luật, vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của công chức vừa bảo đảm các mệnh lệnh, quyết định quản lý nhà nước
đều được tổ chức thực hiện đầy đủ.
Ba là, pháp luật về Kiểm sát viên VKSND là phương tiện cho đội ngũ

nhà nước được thi hành nghiêm chỉnh; hạn chế tình trạng thiếu trách nhiệm,
sách nhiễu, cửa quyền, ức hiếp dân, thậm chí còn tham nhũng, nhận hối lộ,
gây phiền hà cho dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với nhà nước. Mặc
dù Kiểm sát viên có những quyền, bảo đảm pháp lý nhất định trong khi thi
hành nhiệm vụ, công vụ nhưng quan hệ giữa Kiểm sát viên VKSND (theo
nghĩa đại diện nhà nước) với công dân vẫn là quan hệ giữa người phục vụ và
người được phục vụ, đều phải tuân thủ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Tóm lại, trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân, pháp luật về Kiểm sát viên VKSND có vai trò đặc biệt

24


quan trọng, nó không chỉ là phương tiện để Đảng ta thực hiện quan điểm về
xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên VKSND, mà còn là phương tiện quan trọng
trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước ở cơ sở và bảo vệ lợi ích nhà
nước, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân.
1.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm sát viên Viện
Kiểm sát nhân dân
1.3.1. Yếu tố thể chế pháp lý
Xây dựng NNPQ là yêu cầu tất yếu khách quan, là nội dung trọng yếu
của thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Điều đó đã được xác định rõ ràng,
chính thức qua các văn kiện quan trọng nhất của Đảng và ghi nhận trang trọng
trong Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ;
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" [12].
Điều này đòi hỏi Đảng và nhân dân ta vừa thực hiện, vừa nghiên cứu, tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status