BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGUYỄN KHẮC TUẤN
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGUYỄN KHẮC TUẤN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN HỮU CHÍ
HÀ NỘI - 2017
điều tra thu thập số liệu, cũng như nghiên cứu thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã
giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó!
Sóc Sơn, tháng 09 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Khắc Tuấn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ............................................................................. 3
3. Mục tiêu đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu ....................................... 4
4. Các phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 5
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.......................................................... 6
6. Bố cục của luận văn......................................................................................... 7
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ƯU ĐÃI XÃ HỘI VÀ MỘT SỒ VẤN
ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI XÃ HỘI ............................................. 8
1.1. Khái quát chung về ưu đãi xã hội ..................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm ưu đãi xã hội............................................................................ 8
1.1.2. Vai trò của ưu đãi xã hội ........................................................................ 10
1.2. Một số vấn đề lí luận chung về pháp luật ưu đãi xã hội (người có công) ........ 11
1.2.1. Khái niệm pháp luật ưu đãi người có công ............................................. 11
1.2.2. Sự cần thiết của pháp luật ưu đãi xã hội ................................................. 14
1.2.3. Nguyên tắc của pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng.............. 16
1.2.4. Nội dung cơ bản của pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ..... 17
1.3. Một số nét về lịch sử phát triển của pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam
qua từng thời kỳ (từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay) ..................... 29
2.4.3. Nguyên nhân tồn tại hạn chế ...................................................................... 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ..................................................................................... 59
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI
TẠI HUYỆN SÓC SƠN ..................................................................................... 61
3.1. Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng................................ 62
3.1.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội( người có công) .......... 62
3.1.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội( người có công)...... 67
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi người có
công với cách mạng ở huyện Sóc Sơn................................................................... 72
3.2.1. Giải pháp về nguồn lực tổ chức .............................................................. 73
3.2.2. Giải pháp về hệ thống văn bản pháp luật ................................................ 74
3.2.3. Giải pháp để tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền........................ 75
3.2.4. Giải pháp về công tác thanh tra, kiểm tra ............................................... 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ..................................................................................... 78
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 82
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
AHLĐ
Anh hùng lao động
Uỷ ban nhân dân
VNAH
Việt nam Anh hùng
XH
Xã hội
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đấu tranh của dân tộc trường kỳ và đầy gian khổ, dù chiến
tranh đã lùi xa hơn 40 năm, nhưng hậu quả mà nó để lại vẫn còn rất nặng nề . Thực
hiện chính sách đối với người có công với cách mạng là truyền thống, là đạo lý tốt
đẹp của dân tộc ta, giáo dục được cho thế hệ trẻ để họ cảm nhận được sự hy sinh
mất mát to lớn của cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, để họ có
được ý thức trong việc xây dựng quê hương đất nước của mình ngày càng tươi đẹp
hơn, có lối sống lành mạnh hơn, tốt hơn thể hiện lòng biết ơn đối với các thế hệ cha
anh đi trước, những người đã hy sinh không tiếc máu xương xả thân cho độc lập tự
do của dân tộc.
Huyện Sóc Sơn được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai huyện Đa Phúc và
Kim Anh thuộc tỉnh Vĩnh Phú, cùng với thị trấn Xuân Hòa thuộc tỉnh theo quyết
định số 178/QĐ ngày 05 tháng 7 năm 1977 của hội đồng chính phủ Việt Nam. Khi
ấy huyện Sóc Sơn vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978 huyện Sóc Sơn được chuyển về Hà Nội.
Ngày 3 tháng 3 năm 1987 thị trấn Sóc Sơn được thành lập.
Hiện nay huyện Sóc Sơn có 1 thị trấn và 25 xã.
hiện các vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật, việc xử lý các cá nhân, tổ chức, cơ
quan làm sai trong việc công nhận người có công với cách mạng, chế tài xử lý vi
phạm, thu hồi số tiền đã cấp cho các đối tượng làm giả hồ sơ, chiếm đoạt ngân sách
còn chưa triệt để. Các hạn chế trong việc thực hiện chế độ chính sách đối với người
có công với cách mạng đã tạo cơ hội cho một bộ phận lợi dụng chính sách để trục
lợi (tiêu cực trong khai báo, làm giả hồ sơ, xác nhận và giải quyết chế độ cho đối
tượng …..) gây nên sự bất bình trong dư luận xã hội.
Thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có công với cách mạng còn nhiều
hạn chế từ nhiều nguyên nhân khác nhau như trình độ của cán bộ công chức còn
hạn chế, công tác tuyên truyền còn yếu kém, xuất phát từ thực tiễn những vướng
mắc trong giải quyết chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng đòi
hỏi phải có những giải pháp thật hiệu quả cho vấn đề này nói chung và tại huyện
Sóc Sơn nói riêng là rất cần thiết nhằm tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội,
góp phần vào công cuộc phát triển chung của đất nước.
2
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề thực hiện pháp luật ưu đãi đối
với người có công với cách mạng trong sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Sóc
Sơn tôi đã chọn đề tài “Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng từ thực tiễn
thực hiện tại huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội” để đi sâu nghiên cứu phân tích và
đưa ra một số giải pháp trong thực tiễn thực hiện pháp luật ưu đãi đối với người có
công với cách mạng tại huyện Sóc Sơn, Thành Phố Hà Nội. Đồng thời nêu ra một
số kiến nghị về tiếp tục hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ưu đãi xã hội là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta. Nghiên cứu về
lĩnh vực này đã có nhiều công trình, bài viết được đề cập dưới nhiều góc độ khác
nhau như: nghiên cứu ưu đãi xã hội dưới góc độ là một chính sách xã hội; hay
nghiên cứu ưu đãi xã hội với tư cách là một nội dung độc lập; và nghiên cứu ưu đãi
xã hội dưới góc độ luật học, có thể thấy:
Nghiên cứu, phân tích thực trạng việc thực thi pháp luật ưu đãi người có
công với cách mạng, nêu ra những bất cập trong thực tiễn, từ đó đưa ra những kiến
nghị,giải pháp để xây dựng và hoàn thiện thêm về pháp luật ưu đãi đối với người có
công với cách mạng nhằm đảm bảo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người
có công với cách mạng.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn trong thực thi pháp luật ưu đãi đối
với người có công với cách mạng.
- Đánh giá được thực trạng thực thi chế độ chính sách, pháp luật ưu đãi đối
với người có công với cách mạng.
- Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện trong thực thi pháp luật ưu đãi
đối với người có công với cách mạng cũng như trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng, tạo sự công bằng ổn định xã hội.
* Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật ưu đãi người có công với
cách mạng tại huyện Sóc Sơn -Thành Phố Hà Nội, trong đó đối tượng nghiên cứu
của đề tài là cán bộ công chức, viên chức trực tiếp quản lý và thực thi pháp luật, tổ
chức cá nhân và những vấn đề liên quan đến thực thi pháp luật ưu đãi người có công
với cách mạng cũng như hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy, đối tượng thụ
hưởng chính sách.
4
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Trong phạm vi đề tài “Pháp luật ưu đãi người có công với
cách mạng từ thực tiễn thực hiện tại huyện Sóc Sơn,Thành phố Hà Nội”, chủ yếu
tập trung nghiên cứu sâu về việc thực thi pháp luật ưu đãi đối với người có công với
cách mạng, đánh giá những kết quả đã đạt được, những vấn đề còn hạn chế bất cập,
từ đó đưa ra các giải pháp thực hiện trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới và
đề xuất ý kiến trong lĩnh vực xây dựng, hoàn thiện văn bản pháp luật ưu đãi người
+/ Cán bộ thực thi cấp huyện: 05 mẫu.
+/ Cán bộ thực thi cấp xã: 15 mẫu.
+/ Cán bộ tại các cơ quan phối hợp: 05 mẫu.
+/ Đối tượng thụ hưởng: 40 mẫu bao gồm các đối tượng đại diện: Lão thành
cách mạng, tiền khởi nghĩa, bà mẹ VNAH, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh,
người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm CĐHH.
Tổng số mẫu phiếu điều tra là: 65 mẫu
* Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin
Tài liệu thu thập từ phòng Lao động - TB và XH huyện Sóc Sơn, Internet,
hội thảo, thống kê, văn bản quy phạm chuyên nghành, báo cáo tình hình thực hiện
chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng, các báo cáo đánh giá tổng
kết nghành Lao động - TB và XH đã được công bố qua các thời kỳ, hiện trạng chính
sách, pháp luật và công tác quản lý chính sách đối với người có công với cách mạng
tại huyện Sóc Sơn.
* Phương pháp xử lý phân tích số liệu, thông tin
Là việc sàng lọc kiểm tra thông tin thu được trong quá trình nghiên cứu, điều
tra được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, Word thông qua bảng biểu.
* Phương pháp phân tích: Sử dụng, sàng lọc kiểm tra thông tin thu được đưa
vào bảng biểu để phân tích đánh giá. Bằng diễn tả lời văn, bình luận, phân tích,
đánh giá nguyên nhân vấn đề.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài được lựa chọn có những điểm mới so với các đề tài khác là, lựa chọn
một địa bàn cụ thể mang tính chất trọng tâm về các đối tượng người có công để từ
đó phát triển cơ sở lý luận về chế độ ưu đãi người có công. Nghiên cứu tình hình
thực thi pháp luật ưu đãi người có công, cơ chế bảo đảm việc hưởng quyền cho
người có công. Cụ thể hóa các giải pháp hoàn thiện chế độ ưu đãi người có công
phù hợp điều kiện thực tiễn tại địa bàn đó và trong phạm vi cả nước.
6
1.1.1. Khái niệm ưu đãi xã hội
Ở Việt Nam khái niệm ưu đãi xã hội gắn liền với khái niệm người có công với
cách mạng. Ngay sau khi giành được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày
16/02/1947 về “Ưu đãi người có công”, nhưng đến khi Nhà nước ban hành Pháp
lệnh người có công với cách mạng, thì khái niệm người có công với cách mạng mới
được nêu đầy đủ theo hai nghĩa sau:
Theo nghĩa rộng: Người có công là những người không phân biệt tôn giáo,
tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí
tuệ, hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết
đất nước. Họ là những người có thành tích đóng góp, những cống hiến xuất sắc
phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí
cơ bản của người có công, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích
của dân tộc. Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh
giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và
kiến thiết đất nước.
Theo nghĩa hẹp: Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc
trong thời kỳ cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải
phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận
theo quy định của pháp luật. Ở khái niệm này, Người có công bao gồm những người
đã hy sinh xương máu hoặc một phần thân thể của mình trong hoạt động giúp đỡ
cách mạng, hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các
cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận.
8
Phạm trù người có công rất rộng, trong phạm vi hẹp đối tượng người có công
là những người có công trong các cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc và
1.1.2. Vai trò của ưu đãi xã hội
Là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội, ưu đãi xã hội có vai trò hết sức
quan trọng, ưu đãi xã hội thực hiện sứ mệnh bảo vệ một số thành viên đặc thù của
xã hội. Không những thế nó còn thể hiện thái độ tình cảm của đất nước của dân tộc
của thế hệ con cháu đối với những người đã cống hiến hy sinh cho đất nước. Chính
vì vậy ưu đãi xã hội có vai trò trên mọi bình diện của đời sống xã hội : Kinh tế,
chính trị, xã hội và pháp lý.
- Về mặt chính trị : sự ưu đãi xã hội với những người có công sẽ không chỉ là
sự hỗ trợ về mặt đời sống vật chất cũng như tinh thần cho họ nó còn tạo sự tin
tưởng vào chế độ xã hội tốt đẹplà nguồn động viên khích lệ đối với thành viên khác
trong xã hội sẵn sàng xả thân vì nước khi đất nước gặp hoàn cảnh khó khăn. Do đó
làm tốt chính sách đối với những người có công sẽ góp phần làm ổn định xã hội, giữ
vững thể chế, tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước. Ngược lại nếu không có
chính sách ưu đãi sẽ làm mất lòng tin của một thế hệ đã từng cống hiến hy sinh mà
còn cả của thế hệ sau.
- Về mặt xã hội và nhân văn : Ưu đãi xã hội là sự thể hiện truyền thống “Đền ơn
đáp nghĩa” là sự báo đáp công ơn những người xả thân vì đất nước, vì dân tộc. Chế độ
ưu đãi xã hội không chỉ góp phần nâng cao đời sống vật chất cho những người có công
mà còn giúp họ hòa đồng vào xã hội. Những ưu tiên, ưu đãi về giáo dục đào tạo, ưu đãi
về việc làm, chăm sóc sức khỏe đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước, của cộng đồng,
của toàn xã hội đến mọi mặt đời sống của người có công. Chế độ ưu đãi xã hội còn
giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, tạo cơ hội để mỗi công dân nhận thức sâu sắc và phát
huy tốt hơn truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc.
- Về mặt kinh tế : Chế độ ưu đãi xã hội có vai trò hết sức quan trọng nhằm
đảm bảo và nâng cao đời sống cho người có công. Đặc biệt đối với những người
không còn khả năng lao động cũng như không còn ai để nương tựa thì các khoản trợ
cấp đó có thể được coi là nguồn thu nhập chủ yếu để đảm bảo đời sống của họ, trợ
cấp ưu đãi còn giúp người có công có cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
vật chất, những ưu tiên ưu đãi trong lĩnh vực như việc làm, nhà ở, giáo dục đào tạo
đã phát huy tác dụng to lớn trên thực tế và thực sự đã nâng cao được đời sống kinh
Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biết ơn sâu sắc. Do vậy ưu đãi xã hội xét ở một góc
độ nào đó chính là những ưu đãi đối với người có công với cách mạng (pháp luật ưu
đãi xã hội Việt Nam hiện nay chỉ quy định về đối tượng này), Bên cạnh đó còn một
bộ phận những người đã cống hiến, hy sinh hết sức mình để bảo vệ, xây dựng và
11
giữ vững đất nước không phải chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình, họ đã đem
lại những thành tích, sự vinh quang cho đất nước, góp phần vào sự phát triển của
đất nước. Vì vậy, đối tượng người có công được hưởng ưu đãi xã hội không chỉ bó
hẹp trong phạm vi những người có công với cách mạng mà còn được hiểu theo
nghĩa rộng, đó là những người đã cống hiến sức lực, năng lực, trí tuệ và mạng sống
của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước mà không có bất kỳ sự
đòi hỏi, yêu cầu bù đắp nào. Họ là những người có thành tích xuất sắc bảo vệ cho sự
bình an của xã hội, làm rạng danh đất nước, cống hiến, hy sinh vì lợi ích của đất
nước, của dân tộc, được sự công nhận của pháp luật mà không có sự phân biệt tôn
giáo, dân tộc, tín ngưỡng, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp.
Trải qua gần một thế kỷ dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng
sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đồng lòng quyết tâm thực
hiện lời kêu gọi của người “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Thà hy sinh tất cả
chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Với quyết tâm ấy, dân tộc Việt
Nam đã đi từ thắng lợi này tới tháng lợi khác trước kẻ thù xâm lược. Để có được
thắng lợi to lớn ấy, hàng triệu đồng bào, chiến sĩ ta đã vượt qua bao gian lao, vất vả,
hàng triệu người đã hy sinh, bị thương, hay bệnh tật, không biết bao nhiêu người đã
mất đi người thân, những hậu quả to lớn, những dấu ấn tàn khốc của chiến tranh vẫn
còn in đậm trong tâm trí bao thế hệ người Việt Nam. Khi chiến tranh đã lùi xa, những
đối tượng này và cả người thân của họ đã gặp không ít khó khăn trong cuộc sống. Sức
khỏe của họ đã bị suy giảm, tuổi tác cũng gây ra khó khăn không kém, những di
chứng của chiến tranh làm cho họ khó có thể phấn đấu, học tập, rèn luyện, làm việc
để có thể thích nghi với cuộc sống đang ngày phát triển. Bên cạnh đó, họ không có
đã ra sức bảo vệ, vun đắp nên. Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công
mang tính nhân văn sâu sắc, nó góp phần tạo ra môi trường lành mạnh, nâng cao ý
thức trách nhiệm cho mỗi công dân trong xã hội.
Ở nước ta chính sách ưu đãi xã hội là một bộ phận quan trọng của chính sách
an sinh xã hội. Chính sách an sinh xã hội là sự bảo vệ của Nhà nước, xã hội đối với
các thành viên của mình thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp
cho họ có cuộc sống ổn định, phát triển lành mạnh. Hệ thống chính sách an sinh xã
hội của nước ta chủ yếu điều chỉnh ba nhóm quan hệ chủ yếu là bảo hiểm xã hội,
cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Trong đó:
- Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm mục đích bảo vệ cho người lao động ở
mọi thành phần kinh tế khi họ gặp phải những rủi ro không may trong quá trình lao
13
động làm cho khả năng lao động của họ bị giảm sút, hay trong trường hợp người lao
động già yếu không có khả năng lao động.
- Chính sách cứu trợ xã hội: là sự trợ giúp của Nhà nước đối với các thành
viên của xã hội khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, khó khăn,
hiểm nghèo… nhằm giúp họ tồn tại, ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng.
Chính sách ưu đãi xã hội: chính là chính sách ưu đãi người có công. khác
với các chính sách còn lại trong hệ thống an sinh xã hội thì chính sách ưu đãi xã hội
không chỉ là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước mà nó còn là nghĩa vụ, là trách
nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với người có công, thể hiện sự biết ơn sâu
sắc đến họ. Vì thế, chính sách ưu đãi xã hội có vị trí quan trọng trong hệ thống
chính sách an sinh xã hội. Đó không chỉ là vấn đề truyền thống, đạo lý mà còn là
vấn đề chính trị, giáo dục, là vấn đề kinh tế, xã hội có ý nghĩa lâu dài.
Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng là công cụ quan trọng trong
việc quản lý xã hội trong lĩnh vực này, pháp luật ưu đãi người có công nhằm thể chế
hóa các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với người có công, các quyền ưu
đãi của người có công và những đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thực hiện các
35/2007/PL-UBTVQH11 của ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành sửa đổi bổ sung
một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công có hiệu lực từ ngày 01/10/2007,
Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/9/2012. Đây là một bước tiến dài trong việc pháp điển hoá
pháp luật ưu đãi xã hội, là sự kế thừa, chọn lọc và phát triển những bài học của nửa
thế kỷ qua với một hệ thống trên 1.400 văn bản quy định về chính sách ưu đãi xã hội
(ưu đãi đối với người có công với cách mạng).
Với việc ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, nhiều
vấn đề còn tồn tại trong chính sách ưu đãi trước đây được điều chỉnh phù hợp với
tình hình mới, như việc áp dụng thống nhất mức trợ cấp giữa thương binh hưởng
lương và thương binh hưởng sinh hoạt phí khi bị thương; giữa thương binh đang
công tác hay nghỉ hưu với thương binh về địa phương có cùng tỷ lệ thương tật; thực
hiện công bằng trong chính sách giữa người có công thoát ly và không thoát ly, căn
bản tách chế độ ưu đãi tồn tại từ mấy chục năm trong chính sách bảo hiểm xã hội
chuyển sang chính sách ưu đãi xã hội (như thâm niên kháng chiến, phụ cấp đối với
cán bộ Lão thành cách mạng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng
Lao động...).
15
Pháp luật ưu đãi người có công là sự thể chế hóa các chính sách ưu đãi của
Đảng, Nhà nước, nó bao gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện chế độ ưu đãi người
có công trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đó là phương tiện, công
cụ quản lý có hiệu lực mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của người có công.
1.2.3. Nguyên tắc của pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng
Thứ nhất : ưu đãi người có công với cách mạng là trách nhiệm của Nhà
nước và toàn xã hội.
Ưu đãi người có công là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội thể hiện
Đối tượng điều chỉnh của Luật ưu đãi xã hội là những quan hệ xã hội hình
thành trong lĩnh vực ưu đãi đối với người có công. Đó là quan hệ giữa một bên là
Nhà nước và một bên là người có công cùng với gia đình của họ trong nhiều lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội như: quan hệ về trợ cấp, ưu đãi; quan hệ về
chăm sóc y tế; giáo dục; quan hệ về việc làm; nhà ở; trợ giúp pháp lý miễn phí.
Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 được Pháp
lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi
người có công với cách mạng quy định có 2 nhóm đối tượng được hưởng chế độ ưu
đãi đó là, người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách
mạng, trong đó người có công với cách mạng bao gồm có 12 đối tượng:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945: Là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng
trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (Cán bộ Lão thành cách mạng).
- Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19
tháng Tám năm 1945: Là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận
đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách
mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám
năm 1945 (Cán bộ Tiền khởi nghĩa).
- Liệt sĩ: Là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân
được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”.
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Những Bà mẹ được tặng hoặc truy tặng danh
hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế được quy định tại
17