Bào chữa bắt buộc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ DIỄM MY

BÀO CHỮA BẮT BUỘC THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ DIỄM MY

BÀO CHỮA BẮT BUỘC THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
:
60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về bào chữa bắt
buộc ...........................................................................................................................29
2.3. Thực tiễn áp dụng quy định về bào chữa bắt buộc trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam ...........................................................................................................................43
CHƢƠNG 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BÀO
CHỮA BẮT BUỘC .................................................................................................60
3.1. Yêu cầu bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về bào chữa bắt buộc .................................................................................................60
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về bào chữa bắt buộc ............................................................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015

BLHS 1999

Bộ luật Hình sự năm 1999

BLTTHS 2003

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

BLTTHS 1988



DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1.

2.2.

Báo cáo tổng hợp của các Tòa án nhân dân cấp huyện
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Báo cáo tổng hợp án chỉ định tại trụ sở Đoàn luật sư
tỉnh Quảng Nam

Trang

44

44


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử đấu tranh, tồn tại và phát triển của loài người, quyền con người
luôn luôn được ghi nhận và bảo đảm trong các đạo luật của mỗi quốc gia. Ở nước
ta, tư tưởng chỉ đạo và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước là xây dựng một nền tư
pháp dân chủ với các nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền con người. Thực hiện theo

- Lư Thế Hân (2015), Bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự Việt Nam,
Luận văn thạc sỹ. Luận văn tập trung phân tích sâu những vấn đề về bào chữa bắt
buộc, đây là cơ sở cho việc nghiên cứu nội dung của Luận văn.
Đối với bào chữa nói chung trong tố tụng hình sự thì có nhiều công trình
nghiên cứu đã được công bố như sau:
- Hoàng Thị Sơn (2003), Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố
tụng hình sự, Luận án tiến sỹ.
- Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011), Bảo đảm quyền có người bào chữa của người
bị buộc tội - so sánh giữa luật TTHS Việt Nam, Đức, Mỹ, Luận án tiến sĩ.
- Nguyễn Phạm Duy Trang (2007), Sự tham gia của người bào chữa trong các
giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ.
- Vũ Văn Thìn (1996), Người bào chữa trong tố tụng hình sự, Luận văn thạc
sỹ.
- Đào Thị Thu Hương (2009), Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa bắt
buộc trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ.
- Đỗ Quang Thái (1998), Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố
tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ.
Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu phân tích về quyền bào chữa nói chung,
quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Đối với bào chữa bắt buộc trong tố tụng
hình sự, các luận văn ít được đề cập đến và bào chữa bắt buộc từ thực tiễn tỉnh
Quảng Nam thì chưa có công trình nào nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm phân tích đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt
2


Nam về bào chữa bắt buộc và thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ
đó, tác giả đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm bảo đảm thực hiện bào chữa bắt
buộc cho người bị buộc tội đạt hiệu quả tối đa.

Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật, về quyền con người,
quyền công dân để tiếp cận vấn đề một cách khoa học và khách quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn còn kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên
ngành: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chứng minh,
phương pháp thống kê... để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bào chữa
bắt buộc, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có những nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo có giá trị đối với
các cơ quan nhà nước giải quyết những vướng mắc trong quá trình áp dụng thực
tiễn. Đặc biệt, đối với những người tham gia tố tụng như người bị buộc tội, bị can,
bị cáo, góp phần đảm bảo quyền lợi của họ. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có
thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình công tác, học tập, nghiên cứu tiếp theo
cho những người quan tâm.
7. Cơ cấu của luận văn
Bố cục của luận văn được chia làm ba chương, gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bào chữa bắt buộc theo pháp luật tố tụng
hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bào chữa bắt
buộc và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự về bào chữa bắt buộc.

4


5



tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nghĩa vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này” [12]. Điều này tạo
sự công bằng trong tranh tụng giữa bên buộc tội và người bị buộc tội. Hơn nữa,
giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan, toàn diện, đầy đủ,
giải quyết vụ án một cách hiệu quả, chính xác, xét xử đúng người, đúng tội, không
bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Quyền bào chữa là phương tiện pháp lý cần thiết để người bị buộc tội có thể
tự đứng ra bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
trước cơ quan pháp luật . Bởi việc buộc tội gắn liền với việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn và chịu trách nhiệm hình sự nhưng không phải mọi trường hợp buộc tội
là chính xác. Thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử, vì nhiều nguyên nhân khác
nhau vẫn có trường hợp buộc tội oan, buộc tội không đúng, ảnh hưởng đến quyền
của người bị buộc tội. Do vậy, quyền bào chữa là một yêu cầu khách quan trong tố
tụng hình sự. Quyền bào chữa là một quyền quan trọng của bị can, bị cáo, người bị
tạm giữ trong tố tụng hình sự. Các chủ thể này được quyền sử dụng tất cả những
biện pháp gì mà pháp luật không cấm để chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội
của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình
trong vụ án [45]. Thừa nhận quyền bào chữa là thừa nhận tính tranh tụng trong hoạt
động tố tụng - điều kiện không thể thiếu được cho việc xét xử khách quan, công
minh.
Để thực hiện quyền bào chữa, người bị buộc tội tự mình bào chữa hoặc nhờ
người khác bảo vệ cho mình, thông thường là mời luật sư. Sự tham gia của luật sư
thường phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội. Họ có thể trực tiếp mời hoặc ủy
quyền cho người thân của mình mời luật sư. Nếu nhìn từ tính phức tạp của quá trình
giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề tự bào chữa là việc hết sức khó khăn. Quá trình
giải quyết vụ án hình sự bao gồm nhiều vấn đề pháp lý của luật nội dung cũng như
luật tố tụng như hành vi bị truy tố có dấu hiệu tội phạm hay không, nếu là tội phạm
thì là tội gì, bị cáo có lỗi hay không, lỗi cố ý hay vô ý, chứng cứ của bên buộc tội có

chữa cho mình. Những người được lựa chọn để bào chữa là luật sư, người đại diện
hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân. Nếu họ
không mời được người bào chữa cho mình thì bắt buộc phải có người bào chữa. Lúc
8


này, trách nhiệm đảm bảo quyền bào chữa cho họ thuộc về các cơ quan tiến hành tố
tụng, thông qua hình thức yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử
người bào chữa hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBMTTQVN),
tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức
mình. Đây là điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa bào chữa bắt buộc với các trường
hợp bào chữa thông thường. Người bào chữa tham gia vào vụ án là sự chủ động
thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo từ phía các cơ quan
tiến hành tố tụng. Đây là quyết định quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,
là cơ sở pháp lý để người bào chữa tham gia vụ án chứ không phải là sự thỏa thuận
giữa bị can, bị cáo với người bào chữa. Vì vậy, chi phí cho người bào chữa sẽ do
Nhà nước chịu. Người bào chữa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ bào chữa theo
quy định của pháp luật để bảo vệ cho thân chủ của mình. Tuy nhiên, người bị buộc
tội là người chưa thành niên, có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần có quyền
được yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa nhưng quyền này chỉ mang tính
chất tương đối trong trường hợp người đại diện hợp pháp của họ thống nhất. Trường
hợp người đại diện hợp pháp của họ không từ chối thì người bào chữa đã được cử
vẫn tiến hành tham gia giải quyết vụ án để đảm bảo lợi ích cho chính người bị buộc
tội dựa trên xem xét những khó khăn về tâm lý, thể chất, tinh thần và cả vật chất khi
họ không tự mời được người bào chữa hoặc tự bào chữa.
Như vậy, bào chữa bắt buộc trong tố tụng hình sự là sự bảo đảm tuyệt đối
quyền có người bào chữa của người bị buộc tội từ phía cơ quan tiến hành tố tụng
theo quy định của pháp luật. Đây còn là một trong những phương thức bảo đảm
quyền bào chữa nhưng không phải là đương nhiên mà chỉ áp dụng cho một số đối
tượng theo quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật không quy định rõ khái

do Nhà nước ban hành nên pháp luật luôn thể hiện bản chất của Nhà nước tạo ra nó.
Chính vì vậy, pháp luật Nhà nước ta nói chung, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng
luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân lao động, bảo vệ công bằng xã
hội. Trong Nhà nước pháp quyền, con người được đặt vào vị trí trung tâm của phát
triển kinh tế - xã hội. Việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội
nói chung và các trường hợp bào chữa bắt buộc theo quy định của BLTTHS 2003
nói riêng là nội dung quan trọng của chính sách vì con người của Đảng và Nhà nước
10


ta. Biểu hiện của mục tiêu phát triển vì con người, lấy con người làm trọng tâm và
động lực cho sự phát triển của đất nước.
Về mặt xã hội, bào chữa bắt buộc thể hiện tính nhân văn, nhân đạo xã hội chủ
nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. Những người chưa thành niên,
người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần hoặc những người bị buộc tội theo
mức hình phạt cao nhất là những người có hoàn cảnh bất lợi hơn so với những
người bị buộc tội khác. Xuất phát từ những khó khăn về tâm sinh lý, thể chất, nhận
thức, điều kiện vật chất của họ mà pháp luật luôn luôn bảo đảm cho họ có sự trợ
giúp pháp lý từ người bào chữa trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Mặt
khác, việc pháp luật quy định cơ chế pháp lý đảm bảo sự có mặt của người bào chữa
trong trường hợp bào chữa bắt buộc là nhằm tạo thế cân bằng trong việc đưa ra
chứng cứ, quan điểm giữa “bên buộc tội” và “bên gỡ tội” [71, tr.45], không chỉ
giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ
án mà còn nâng cao trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác. Bào chữa bắt buộc không chỉ góp phần vào
việc giải quyết, xét xử vụ án một cách công minh mà còn tránh tình trạng oan sai,
làm tổn hại đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng và giảm lòng tin của nhân dân
đối với sự công minh của pháp luật. Góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của hệ
thống Tư pháp hình sự.

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân [12].
Trong tố tụng hình sự, người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội chỉ tham
gia vào quá trình tố tụng hình sự khi người bị buộc tội là người chưa thành niên
hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Còn đối người đã thành niên, không
có vấn đề gì tâm thần hoặc thể chất thì không có sự tham gia của người đại diện hợp
pháp. BLTTHS 2003 hay các văn bản pháp lý khác không quy định rõ thế nào là
người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong Thông tư liên
tịch số 01/TTLT của TANDTC và VKSNDTC khi đề cập đến quyền kháng cáo đã
hướng dẫn “Đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên là bố mẹ hoặc người đỡ
đầu của họ” [62]. Như vậy, nội dung trên đã gián tiếp làm rõ người đại diện hợp
pháp nhưng chỉ là người đại diện hợp pháp của bị cáo là người chưa thành niên chứ
12


không phải là người đại diện hợp pháp cho bị can, bị cáo nói chung [1]. Tuy nhiên,
trong quá trình vận dụng pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng vẫn vận dụng những quy định tương thích giữa pháp luật tố tụng hình sự và
Bộ Luật Dân sự để xác định người đại diện hợp pháp. Theo Bộ luật Dân sự hiện
hành thì người đại diện hợp pháp của cá nhân bao gồm những người đại diện theo
pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật gồm:
cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ,
người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại
diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định; người do Tòa án chỉ định trong
trường hợp không xác định được người đại diện hoặc chỉ định đối với người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự [14]. Những người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy
quyền là người phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Bên cạnh đó, ngày 29/6/2006, Luật Trợ giúp pháp lý được ban hành và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Theo đó, một trong những người được trợ giúp
pháp lý là người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa [39]. Mà những người nêu
trên trong vụ án hình sự là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì bắt buộc phải có

hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung
là khách hàng)”[38]. Để được công nhận là một luật sư thì cá nhân phải đáp ứng
các điều kiện hành nghề như: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc; tuân
thủ Hiến pháp và pháp luật; có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng cử nhân luật; đã
được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ
bảo đảm hành nghề luật sư; có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn
luật sư [38]. Thực tiễn hiện nay, người bào chữa theo chỉ định của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là luật sư chiếm đa số.
Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào
chữa cho bị cáo. Theo quy định của của Bộ luật Tố tụng hình sự thì “Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa
viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ
chức mình” [12]. Thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa đối với bào chữa
viên nhân dân được tiến hành khi có đủ bốn loại giấy tờ gồm bản sao giấy chứng
minh nhân dân; giấy giới thiệu của UBMTTQVN, tổ chức thành viên của Mặt trận
14


Tổ quốc Việt Nam nơi người bị giam giữ, bị can là thành viên; giấy tờ chứng minh
là thành viên của UBMTTQVN, tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cử đến; văn bản của người bị tạm giữ, bị can đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nơi người bị tạm giữ,
bị can là thành viên cử người bào chữa cho họ [59].
BLTTHS 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 đã quy định những
điều kiện là bào chữa viên nhân dân, khắc phục hạn chế của Bộ luật Tố tụng năm
2003. Theo đó bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên,
trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức
khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được UBMTTQVN hoặc tổ chức
thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên
của tổ chức mình.

Mặt khác, người bị buộc tội là người chưa thành niên là người chưa phát triển
về thể chất và tinh thần đầy đủ, chưa có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy
nghĩ, hành vi của mình, đôi khi vẫn còn bồng bột, thiếu suy nghĩ. Hành vi của người
chưa thành niên thường không chín chắn, dễ dàng bị tác động, chi phối bởi các yếu
tố khác nhau. Kiến thức về pháp luật cũng như sự hiểu biết về xã hội của họ còn hạn
chế. Từ những yếu tố trên, khi phạm tội, tâm lý của họ thường không ổn định, nhận
thức chưa đầy đủ nên không có khả năng tự bảo vệ mình trong các giai đoạn tố tụng
hình sự. Vì vậy, pháp luật quy định bào chữa bắt buộc trên tinh thần tôn trọng
quyền bào chữa của người bị buộc tội, hỗ trợ cho họ có người bào chữa. Luôn đảm
bảo về sự có mặt của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng, ở bất kì thời điểm
nào, không kể thời gian, không phụ thuộc vào ý chí của họ hoặc ngay cả khi họ
không đủ điều kiện mời người bào chữa. Đây là quyền bào chữa của họ, Nhà nước
không chỉ tôn trọng mà còn phải đảm bảo quyền bào chữa cho họ trong tố tụng hình
sự.
1.2.3. Bào chữa bắt buộc tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định
Bất kỳ những người tham gia tố tụng hình sự nào trong các giai đoạn cũng
được pháp luật quy định theo một trình tự, thủ tục nhất định. Khi tham gia tố tụng
hình sự, người bào chữa cho người bị buộc tội thì cũng phải tiến hành thực hiện một
16


số thủ tục theo trình tự pháp luật quy định. Trong các trường hợp thông thường, khi
người bào chữa được nhờ bào chữa cho người bị buộc tội thì phải nộp các giấy tờ
cần thiết cho các cơ quan tiến hành tố tụng, khi xét đủ điều kiện thì được cấp Giấy
chứng nhận người bào chữa. Tuy nhiên, trong các trường hợp đặc biệt bắt buộc phải
có sự tham gia của người bào chữa. Trong trường hợp nếu người bị buộc tội, người
đại diện hợp pháp cho người bị buộc tội không mời người bào chữa thì thủ tục đầu
tiên là phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
cử người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Thủ tục này là trách nhiệm

là luật sư, người đại diện hợp pháp cho người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân
và khi tham gia tố tụng phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Bên cạnh
đó, bào chữa bắt buộc còn mang những đặc điểm riêng biệt. Đó là thù lao bào chữa
do Nhà nước chi trả và việc tham gia bào chữa trong quá trình tố tụng hình sự theo
sự chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng.

18


CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
BÀO CHỮA BẮT BUỘC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH
QUẢNG NAM
2.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển về bào chữa bắt buộc theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa bước đầu cần phải giải quyết rất nhiều nhiệm vụ khó khăn, cấp
thiết. Dù đối mặt với nhiều thách thức nhưng chính quyền vẫn quan tâm tới quyền
dân chủ của công dân, trong đó có quyền bào chữa. Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33c về việc thành lập Tòa án quân sự, trong đó Điều V
có quy định “Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho” [48].
Như vậy, có thể khẳng định rằng nền Tư pháp nói chung và pháp luật tố tụng hình
sự nói riêng sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, là cơ sở pháp lý để
bảo vệ và củng cố các quyền cơ bản của công dân, quyền bào chữa của bị can, bị
cáo trước Tòa án.
Ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 13 được ban hành quy định về cách tổ chức các
tòa án và các ngạch thẩm phán. Theo đó, tại Điều 44, Mục B, Tiết thứ tư - Tòa
thượng thẩm, Sắc lệnh số 13 quy định “Trong việc đại hình, nếu trước Tòa thượng
thẩm một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một Luật sự để bào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status