VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUỐC HÀ
TỘI SẢN XUẤT, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
SỬ DỤNG HOẶC MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT CHÁY,
CHẤT ĐỘC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUỐC HÀ
TỘI SẢN XUẤT, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
SỬ DỤNG HOẶC MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT CHÁY,
CHẤT ĐỘC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
:
60.38.01.04
VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG HOẶC MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT
CHÁY, CHẤT ĐỘC...................................................................................... 27
2.1. Thực tiễn định tội danh tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng
hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc .................................................... 27
2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc ........................ 40
CHƯƠNG 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG
ĐÚNG CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI SẢN
XUẤT, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG HOẶC MUA BÁN
TRÁI PHÉP CHẤT CHÁY, CHẤT ĐỘC .................................................. 51
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự
về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất
cháy, chất độc .................................................................................................. 51
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình
sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép
chất cháy, chất độc .......................................................................................... 54
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
Cơ cấu tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc
2.1.
mua bán trái phép chất độc trong tổng số các tội phạm
đã bị xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2012
31
đến năm 2016
Cơ cấu của tội sản xuất, tàng trữ,vận chuyển, sử dụng
2.2.
hoặc mua bán trái phép chất độc trong tổng số các tội
xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng đã bị
quản lý, bảo vệ tài nguyên vàng bị buông lỏng. Tình trạng khai thác vàng trái
phép bằng Natry Cyanua (NaCN- một loại hóa chất cực độc để tách vàng)
diễn ra phức tạp, kéo dài. Nếu kể từ giai đoạn 2008- 2012, trung bình hàng
năm có khoảng 750 lượt người tham gia khai thác vàng trái phép thì từ năm
2012 đến nay hàng năm tăng lên từ 7.000 – 8.000 người tham gia. Sự gia tăng
đột biến nêu trên dẫn đến hệ lụy hàng loạt vấn đề: tình hình an ninh trật tự, an
sinh xã hội, ô nhiễm môi trường… ngày càng diễn biến hết sức phúc tạp. Đặc
biệt, tình hình tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán
trái phép chất độc (chất độc ở đây chủ yếu là NaCN), có xu hướng gia tăng cả
về số vụ, số lượng. Tuy nhiên, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc còn nhiều
vướng mắc, chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền về vấn đề
định lượng, định khung hình phạt tăng nặng, quyết định hình phạt. Bất cập
này đòi hỏi khoa học pháp lý phải giải quyết một cách đầy đủ.
Việc nghiên cứu tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua
1
bán trái phép chất cháy, chất độc dưới góc độ hoạt động hình sự và tố tụng
hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nhằm tìm kiếm nguyên nhân của những
hạn chế, bất cập trong xử lý tội này, từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm áp
dụng đúng pháp luật về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua
bán trái phép chất cháy, chất độc là nhu cầu khách quan của đời sống xã hội.
Chính vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài: “Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn thạc sỹ luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về
các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung và tội sản
pháp luật về tội nói trên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn thực hiện những
nhiệm vụ dưới đây:
- Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép cất cháy, chất độc theo pháp luật
hình sự Việt Nam.
- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất
độc.
- Khái quát những vấn đề lý luận về định tội danh và đánh giá thực tiễn
định tội danh đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua
bán trái phép chất cháy, chất độc từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam trong năm năm
(từ năm 2012 đến năm 2016).
- Khái quát những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt và phân tích
3
thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam, những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn
đó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép
chất cháy, chất độc theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam. Luận văn lấy các quan điểm khoa học, quy định của pháp luật hình sự,
thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội nói trên trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam để nghiên cứu đề tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Ngoài Phần mở đầu; Phần kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo; Danh
mục các chữ viết tắt và Danh mục các bảng biểu, nội dung luận văn gồm 3
chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự
Việt Nam về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái
phép chất cháy, chất độc
Chương 2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất
độc tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy
định của pháp luật hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc
mua bán trái phép chất cháy, chất độc
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI SẢN XUẤT, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG HOẶC MUA BÁN TRÁI PHÉP
CHẤT CHÁY, CHẤT ĐỘC
1.1. Những vấn đề lý luận về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
1.1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
Bộ luật hình sự năm 2015 của nước ta được Quốc hội thông qua ngày
27/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018, quy định các tội xâm
phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng tại chương XXI (từ Điều 260 đến
Điều 329) gồm 70 điều luật. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc
mua bán trái phép chất cháy, chất độc nằm trong nhóm tội xâm phạm an toàn
thứ không phải là một chất độc”.
Theo quy định tại Điều 4 Luật hóa chất ngày 21/11/2007 thì: Hóa chất
độc là hóa chất nguy hiểm có ít nhất một trong những đặc tính nguy hiểm quy
định từ điểm đ đến điểm n khoản 4 Điều này. Theo đó:
Điểm đ) Độc cấp tính;
e) Độc mãn tính;
g) Gây kích ứng với con người;
h) Gây ung thư hoặc có nguy cơ gây ung thư;
i) Gây biến đổi gen;
k) Độc đối với sinh sản;
l) Tích lũy sinh học;
m) Ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy;
7
n) Độc hại đến môi trường.
Vì là hóa chất nguy hiểm nên chất độc nằm trong Danh mục hóa chất
sản xuất, kinh doanh có điều kiện, Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh
doanh, Danh mục hóa chất cấm. Danh mục này được quy định tại Nghị định
108/2008/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2008 Quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật hóa chất.
Chỉ những cá nhân, tổ chức vì mục đích nghiên cứu khoa học, đảm bảo
quốc phòng an ninh, phòng, chống dịch bệnh và được phép của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền mới được sản xuất, kinh doanh. Việc sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng, mua bán một cách trái phép, trái pháp luật sẽ bị xử lý
nhằm thống nhất quản lý nhà nước về chất độc, ngăn chặn tình trạng lạm
dụng chất độc cũng như bảo vệ sức khỏe người dân, ngăn ngừa tội phạm.
Tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: Khách thể của tội phạm;
khách quan của tội phạm; Chủ thể của tội phạm; chủ quan của tội phạm. Tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy,
Trong pháp luật hình sự, an toàn công cộng được hiểu là sự an toàn
trong các lĩnh vực giao thông vận tải (giao thông đường bộ, đường sắt, đường
thủy, đường không), trong lao động, trong sinh hoạt đông người, trong một số
lĩnh vực máy tính, quản lý các đối tượng là các tài sản đặc biệt như chất nổ,
chất cháy, chất độc...Đây là những lĩnh vực hoạt động liên quan trực tiếp đến
hoạt động chung của xã hội và mỗi cá nhân. Pháp luật hình sự thông qua bảo
vệ an toàn lĩnh vực này để bảo vệ an toàn cho tính mạng, sức khỏe của cá
nhân nói riêng và cộng đồng nói chung, an toàn về tài sản của Nhà nước, các
thành viên trong xã hội.
Đối tượng tác động của tội phạm này là chất cháy, chất độc. Chất cháy,
như đã nhấn mạnh, là chất có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với ôxy trong
không khí, nước hoặc khi có tác động của các yếu tố khác và những chất dễ tự
9
bốc cháy ở nhiệt độ không cao như diêm tiêu, phốt-pho, thuốc đạn...Chất độc
ở đây được hiểu là những chất có độc tính rất cao và rất có hại đối với sức
khỏe và tính mạng của con người, nếu bị nhiễm phải một liều lượng nhất định
nào đó (có thể là rất ít). Những loại chất độc quy định tại bảng A như: A-côni-tin và các muối của nó, ni-cô-tin và các muối của nó, các loại muối thủy
ngân…
Khi xác định đối tượng tác động phải có chất cháy, chất độc hay không,
các cơ quan tiến hành tố tụng cần tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên
môn hoặc trưng cầu giám định.
1.1.1.2. Mặt khách quan của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng
hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
“Mặt khách quan của tội phạm là mặt biểu hiện bên ngoài của tội phạm,
là những biểu hiện của tội phạm ra thế giới khách quan, bao gồm hành vi
nguy hiểm cho xã hội (hành động hoặc không hành động), hậu quả nguy hiểm
cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do
hành vi đó gây ra, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội, công cụ, thủ đoạn,
chất kể trên trong người, trong nhà hoặc nơi nào khác một cách trái phép;
- Hành vi vận chuyển trái phép chất cháy, chất độc;
- Hành vi sử dụng trái phép chất cháy, chất độc. Ví dụ như: sử dụng
chất độc để khai thác nguồn lợi thủy sản, đãi vàng trái phép...
- Hành vi mua bán trái phép chất cháy, chất độc. Đó là hành vi đổi
chác, chuyển nhượng trái phép các chất kể trên bằng tiền hoặc lợi ích vật
chất...
Việc xác định hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán
chất cháy, chất độc có trái phép hay không, cần căn cứ vào quy định của Nhà
nước về sản xuất, tàng trữ vận chuyển, sử dụng, mua bán chất cháy, chất độc.
Nếu việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán chất cháy, chất độc
11
được phép thì không thuộc trường hợp phạm tội quy định tại Điều 311 BLHS
năm 2015.
Do tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất cháy, chất độc và yêu cầu đấu tranh
phòng chống, luật quy định tội này có cấu thành hình thức. Hậu quả của hành
vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất cháy, chất
độc cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm này nhưng việc
xác định hậu quả là rất cần thiết. Nếu hậu quả xảy ra là nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tùy trường hợp, người phạm tội
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 của điều
luật.
Các dấu hiệu khác của mặt khách quan như: công cụ, phương tiện,
phương pháp, thủ đoạn, thời gian, không gian, địa điểm phạm tội...cũng
không phải là yếu tố bắt buộc của cấu thành cơ bản của tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc.
1.1.1.3. Chủ thể của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc
Điều 311 của Bộ luật này có thể thấy cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc.
Tóm lại, cơ sở pháp lý để xác định chủ thể của tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc là Điều 2, Điều 8, Điều
12, Điều 21, Điều 311 BLHS năm 2015.
1.1.1.4. Mặt chủ quan của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng
hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
Tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và các yếu tố
chủ quan. “Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là trạng
thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội” (23; Tr
13
132). Như vậy, nếu mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện bên ngoài của tội
phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội đối
với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó thực hiện và hậu quả do hành vi
đó gây nên, bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Lỗi là dấu hiệu cơ bản
nhất của mặt chủ quan của tội phạm và biểu hiện dưới hai hình thức: Lỗi cố ý
(cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý (vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự
tin). Nguyên tắc lỗi là nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự Việt Nam, một
người chỉ phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hội khi họ có lỗi trong
việc thực hiện hành vi đó. Người thực hiện hành vi bị coi là có lỗi nếu họ có sự
tự do lựa chọn thực hiện hành vi đó trong khi họ có đủ điều kiện lựa chọn xử sự
khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội: “Một hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ
bị coi là có lỗi, nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của
chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn
và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội”.
Động cơ là nhân tố tâm lý bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện
tội phạm. Mục đích phạm tội là khuynh hướng, là cái đích mà người phạm tội
tội đều không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm.
Điêm giống nhau thứ ba là về hình thức của các hành vi đều là sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,…trái phép chất cấm.
1.1.2.2. Những điểm khác nhau
Điểm khác nhau cơ bản giữa các tội đó là đối tượng tác động của tội
phạm
Đối tượng tác động của tội phạm này là chất cháy, chất độc.
Chất cháy là chất có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với ôxy trong
không khí, nước hoặc khi có tác động của các yếu tố khác và những chất dễ tự
bốc cháy ở nhiệt độ không cao như : diêm tiêu (ka-li-ni-trat), phốt pho, thuốc
đạn…
15
Chất độc là những chất có độc tính rất cao và rất có hại đối với sức
khoẻ và tính mạng của con người, nếu bị nhiễm phải một liều lượng nhất định
nào đó (có thể là rất ít). Những loại chất độc quy định tại bảng A như : A-côni-tin và các muối của nó, kẽm Phốt-pho, Ni-cô-tin và các mối của nó, các
loại muối thuỷ ngân…
Vật liệu nổ bao gồm vật liệu nổ quân dụng và vật liệu nổ công nghiệp,
đó là các loại thuốc nổ và phụ kiện gây nổ (kíp nổ, ngòi nổ, dây nổ, chất nổ là
một bộ phận trong khái niệm vật liệu nổ). Chất nổ có khả năng gây nên một
phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiệt.
Chất phóng xạ là nhân tố sát thương của vũ khí hạt nhân gồm những
nhân tố đồng vị không bền của nguyên tố hóa học có khả năng phát ra các
chùm tia Anpha, beeta, Gamma. Tác hại của chất phóng xạ là gây bệnh phóng
xạ đối với người và động vật.
Nếu vì lý do nào đó mà người phạm tội không nhận thức được hoặc
không buộc phải nhận thức được hành vi của mình là trái phép thì không
thuộc trường hợp phạm tội này.
Như vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa tội danh quy định ở Điều 311 với
Trong số các văn bản pháp luật hình sự được ban hành từ 1955 đến
1964 để trấn áp, trừng trị những hành vi phản cách mạng, văn bản có ý nghĩa
quan trọng nhất là sắc lệnh 267 ngày 15/6/1956. Sắc lệnh ban hành nhằm bảo
vệ việc khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, cải tạo XHCN, trừng trị
những âm mưu hành động phá hoại làm thiệt hại đến tài sản nhà nước, hợp tác
xã và nhân dân.
Năm 1975, về hình thức ở nước ta tạm thời tồn tại hai nhà nước: Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt
Nam. Mỗi nhà nước có pháp luật riêng. Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban
hành những chính sách, những văn bản pháp luật cần thiết để góp phần thực
17
hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách là trấn áp bọn phản cách
mạng, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an ninh xã hội ở nửa
đất nước mới giải phóng. Song song với việc chính thức thành lập Tòa án
nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
Miền nam Việt Nam ban hành Sắc lệnh số 03/SL/76 ngày 15/3/1976 quy định
các tội phạm và các hình phạt.
Ngày 25/4/1976, nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất
nước. Cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1976, Quốc hội họp kỳ đầu, đây là kỳ
họp hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt nhà nước, chính thức hóa việc
thống nhất này. Nghị quyết ngày 02/7/1976 của Quốc hội quyết định đổi tên
nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong khi chưa có Hiến pháp
mới, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên
cơ sở Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Nghị
quyết này giao cho Hội đồng chính phủ xúc tiến dự thảo các luật, pháp lệnh
cần thiết và hướng dẫn thi hành các pháp luật hiện hành của Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cho sát thực tế.
Thực thi Nghị quyết nói trên, trên cơ sở của việc hệ thống hóa pháp luật