Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh quảng ninh) - Pdf 42

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH HUYN TRANG

tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
trong luật hình sự việt nam
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ninh)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH HUYN TRANG

tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
trong luật hình sự việt nam
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ninh)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TS. NGC QUANG

H NI - 2016


1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
1.3.3.
1.3.4.
1.3.5.
1.4.

TRỮ, VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN HÀNG CẤM TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ......................................................... 7
Những khái niệm có liên quan ........................................................ 7
Khái niệm hàng cấm .......................................................................... 7
Khái niệm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm ........ 9
Khái niệm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm ...... 11
Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm ........................ 13
Giai đoạn từ 1945 đến trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 ....... 13
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trƣớc
khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 .................................................. 16
Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, buôn bán hàng cấm .................................................. 19
Khách thể của tội phạm ................................................................... 19
Mặt khách quan của tội phạm .......................................................... 22
Mặt chủ quan của tội phạm.............................................................. 25
Chủ thể của tội phạm ....................................................................... 26
Hình phạt.......................................................................................... 27


2.3.2.
Tăng cƣờng công tác kiểm sát hoạt động tƣ pháp đối với các vụ án
hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm ...... 64
2.3.3.
Nâng cao trình độ đội ngũ những ngƣời tiến hành tố tụng giải
quyết vụ án hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán hàng cấm .................................................................................... 70
2.3.4.
Các giải pháp khác ........................................................................... 73
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 79


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật Hình sự

CTTP:

Cấu thành tội phạm

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

47

Bảng 2.2. Thống kê số vụ án đã xét xử hình sự về tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh từ 2011 -2015

49

Bảng 2.3. Thống kê mức án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
xét xử trong giai đoạn từ 2011 - 2015

50


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công cuộc đổi mới đã mang lại cho đất nƣớc ta nhiều thành tựu quan
trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng và an
ninh. Thành tựu đạt đƣợc trong những năm qua đã đƣa đất nƣớc ta thoát
khỏi khủng hoảng nhƣ kinh tế tăng trƣởng khá cao, nền kinh tế thị trƣờng
định hƣớng xã hội chủ nghĩa bƣớc đầu đƣợc thiết lập, quan hệ quốc tế đƣợc
mở rộng, vị thế nƣớc ta trên trƣờng quốc tế không ngừng đƣợc nâng cao.
Từ đó mà tình hình chính trị, xã hội của nƣớc ta ngày càng ổn định, đƣợc
nhân dân và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên đi cùng với sự phát
triển là những mặt trái của nó, trong đó phải kể đến tình hình tội phạm
trong vài năm gần đây có xu hƣớng phát triển mạnh mẽ, diễn biến ngày
càng phức tạp và mang tính thời sự cấp bách. Đặc biệt trong hoạt động kinh
tế, với nhiệm vụ chính là sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho xã hội phát
triển, kinh tế mang ý nghĩa quan trọng đối với đất nƣớc nhƣng hiện nay các
loại tội phạm về kinh tế lại xuất hiện càng nhiều và trở nên tinh vi, nguy

phạm trên cả nƣớc nói chung và địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng, tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của đất nƣớc.
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm trong Luật Hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn
tỉnh Quảng Ninh)” làm Luận văn thạc sĩ Luật học thấy là cấp thiết hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm về sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong Luật hình
sự Việt Nam, trong thời gian qua nhiều nhà nghiên cứu, các tác giả, các luận

2


án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng rất quan tâm tới vấn đề về tội phạm nói chung
và tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong Luật
hình sự Việt Nam nói riêng. Trong đó đáng chú ý là những công trình sau:
Về giáo trình, sách chuyên ngành: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
(phần các tội phạm), của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, 2011; Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, tập II, của Trƣờng
Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân; Bình luận khoa học Bộ luật
Hình sự 1999 (phần các tội phạm), của TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn
Luyện, LS.ThS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ
Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Bình luận
khoa học hình sự phần các tội phạm, Tập VI,của tác giả Đinh Văn Quế, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Về luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ: “Phòng ngừa tội phạm sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm của lực lượng cảnh sát kinh tế trên
địa bàn miền Đông Nam Bộ” - Luận án tiến sĩ của Lê Trung Kiên năm 2015;
“Điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn
tỉnh An Giang của Lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về TTQLKT&CV” Luận văn thạc sĩ của Học viên cao học Nguyễn Nhật Trƣờng năm 2007.

trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Từ đó chỉ ra những kết quả
thành tựu cũng nhƣ vƣớng mắc tồn tại, nguyên nhân làm phát sinh loại tội
phạm này và tìm cách khắc phục và đƣa ra những kiến nghị cụ thể trên các
phƣơng diện để hoàn thiện công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm tại Việt Nam nói chung và địa bàn
tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề

4


lý luận tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm ở Việt
Nam hiện nay và cơ sở thực tiễn là công tác đấu tranh phòng chống trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh.
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm theo Điều 155 Chƣơng XVI BLHS năm 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009). Nghiên cứu khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt
Nam quy định về Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
Đồng thời, luận văn cũng đi sâu nghiên cứu hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử tội phạm này trong vòng 5 năm từ năm 2011 đến hết năm 2015 trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về
đấu tranh phòng, chống tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm trong tình hình mới. Luận văn sử dụng kết hợp một cách linh hoạt các
phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể, tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê,
logic, kết hợp với các phƣơng pháp khác nhƣ tổng kết thực tiễn, chuyên
gia, điều tra xã hội học.
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn

1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm hàng cấm
Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa đƣợc định nghĩa là “sản
phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán”. Hàng hóa có thể là hữu
hình nhƣ sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình nhƣ sức lao động. Karl
Marx định nghĩa hàng hóa trƣớc hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng
thỏa mãn nhu cầu con ngƣời nhờ vào các tính chất của nó. Từ khi đất nƣớc
chúng ta Đổi Mới mở cửa giao lƣu, buôn bán và tiến hành công cuộc xây
dựng nền kinh tế thị trƣờng hàng hóa càng trở nên đa dang, phong phú hơn rất
nhiều. Các loại hàng hóa trong kinh doanh xuất phát từ nhu cầu thực tế, sự
phát triển kinh tế và sự vận động tự nhiên của quy luật thị trƣờng. Nắm bắt
đƣợc những yếu tố “cung” – “cầu” đó mà rất nhiều loại hàng hóa mới đƣợc ra
đời, để đáp ứng mọi nhu cầu của con ngƣời.Từ đó, việc quản lý hàng hòa trở
nên phức tạp hơn cũng nhƣ khó khăn hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều
những hàng hóa gây tác động tiêu cự, nguy hiểm tới tới con ngƣời, môi
trƣờng và xã hội. Trong thực tiễn hiện nay bên cạnh các hoạt động kinh doanh
hợp pháp, các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp vẫn diễn ra và ngày càng có
chiều hƣớng gia tăng, do sức ép của nền kinh tế thị trƣờng cũng nhƣ sự yếu
kém trong quản lý kinh tế của Nhà nƣớc. Từ sự phát triền mạnh mẽ của tự do
thƣơng mại, tự do buôn bán mà Nhà nƣớc ta đã thống nhất quản lý một số
hàng hóa có tính chất đặc biệt nhƣ vậy. Những hàng hóa đó có những đặc tính

7


riêng, có những dấu hiệu đặc biệt cần phải hạn chế sản xuất, buôn bán, tàng
trữ, vận chuyển và phải đƣợc quản lý bởi Nhà nƣớc. Pháp luật quy định
những loại hàng hóa nào mà quá trình lƣu thông hoặc sử dụng có thể gây
nguy hại an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa,
môi trƣờng và sức khỏe nhân dân thì không đƣợc kinh doanh, chỉ có Nhà

trong những hoạt động kinh doanh bất hợp pháp và là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, đặc biệt xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước,
ảnh hướng tới sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Nguyên nhân cũng do việc sản xuất, buôn bán hàng cấm mang lại
nguồn lợi kinh tế rất lớn nên nhiều ngƣời, nhiều cá nhân, tổ chức hám lợi mà
bất chấp những quy định của pháp luật để thực hiện. Đó đều là những hành vi
gây nguy hiểm cho xã hội không chỉ vi phạm luật xử lý vi phạm hành chính
mà còn bị coi là tội phạm và buộc phải xử lý, áp dụng chế tài hình sự. Tuy
nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam chỉ xem hành vi sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm là tội phạm khi hành vi đó ở mức độ nguy hiểm
đáng kể cho xã hội, cụ thể nhƣ: phải thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm với số lƣợng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị
xử phạt hành chính, hoặc bị kết án về một số hành vi xâm phạm đến trật tự
quản lý kinh tế đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự nhƣ trong phần nghiên
cứu dƣới đây.
1.1.3. Khái niệm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
Bƣớc vào những năm đầu thế kỷ 21, nƣớc ta đang ngày càng tiến sâu
hơn vào quá trình hội nhập toàn diện với quốc tế và khu vực. Trƣớc những tác
động và yêu cầu của quá trình hội nhập, đất nƣớc ta đã có những thay đổi lớn
về mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó sự thay đổi trong kinh tế là lớn nhất
và quan trọng nhất. Để quản lý “nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ

11


nghĩa” theo đúng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc. Bên cạnh
những chính sách nhằm phát triển kinh tế thì pháp luật hình sự về các tội
phạm xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế cũng phải ra đời và phù hợp, linh
hoạt, chặt chẽ hơn. Chƣơng 7 – Bộ luật Hình sự 1985 quy định “Các tội phạm
về kinh tế” đã đáp ứng phần nào những đòi hỏi này. Trong đó tội sản xuất,

quy định mức tối thiểu phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt tù từ 6
tháng đến 5 năm và mức hình phạt cao nhất chỉ đến 15 năm tù. Nhƣ vậy tội
sản sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm đã đƣợc quy định một
cách cụ thể trong pháp luật Hình sự Việt Nam, tuy nhiên lại cho có một định
nghĩa rõ ràng nào về tội phạm này.
Từ những quy định, so sánh phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm tội
phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm được hiểu là hành
vi làm ra, cất giấu, vận chuyển, mua bán hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh
doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được
phép sử dụng tại Việt Nam gây nguy hại cho xã hội được quy đinh trong
BLHS; do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước nhằm thu lợi bất chính.
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai
sinh nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, nhà nƣớc độc lập đầu tiên trong hệ
thống thuộc địa thế giới. Từ những ngày đầu mới thành lập, mặc dù Chính
phủ của chúng ta còn non trẻ nhƣng đã quan tâm ngay tới việc chống lại hành
vi buôn bán hàng cấm gây mất an ninh trật tự, trong đó chủ yếu tập trung vào
những mặt hàng phục vụ nhu cầu cấp thiết của đời sống và vật lực cho cuộc

13


đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. Trong tình hình đất nƣớc đối mặt với
nạn đói do phát xít Nhật gây ra với sản lƣợng gạo sản xuất không đủ để dân
dùng Nhà nƣớc ta đã quan tâm ban hành Sắc lệnh số 50 ngày 09/10/1945 về
cấm xuất cảng ngũ cốc tại Điều I có ghi “Từ ngày ký Sắc lệnh này cho tới khi
có lệnh mới, khắp toàn cõi Việt Nam, cấm hẳn việc xuất cảng ra ngoại quốc

tăng nặng, đồng thời quy định mức hình phạt cao nhất của tội buôn lậu, tàng
trữ hàng cấm là tù chung thân, áp dụng đồng thời hình phạt tiền và có thể tịch
thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Cụ thể tại Pháp lệnh này, Điều 3 về tội
buôn lậu, tàng trữ hàng cấm quy định nhƣ sau:
1. Ngƣời nào buôn lậu, tàng trữ vàng, bạc, kim khí quý, đá
quý, ngoại tệ, vật tƣ kỹ thuật hoặc các loại hàng hóa khác mà Nhà
nƣớc cấm buôn bán, tàng trữ thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm và
bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng hóa phạm pháp. 2- Phạm tội
trong trƣờng hợp nghiêm trọng quy định ở khoản 1 Điều 9 Pháp
lệnh này thì bị phạt từ từ ba năm đến mƣời năm, bị phạt tiền từ ba
lần đến năm lần giá trị hàng phạm pháp, và có thể bị tịch thu một
phần tài sản. 3- Phạm tội trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng
quy định ở khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ tám năm
đến hai mƣơi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền từ năm lần đến
mƣời lần giá trị hàng phạm pháp, và có thể bị tịch thu một phần
hoặc toàn bộ tài sản [23, Điều 3].
Sau đó, Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số
46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về xử lý hành chính đối với các hành vi
đầu cơ buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép [21]. Năm 1984, Hội
đồng Bộ trƣởng đã ra Nghị quyết số 68/HĐBT ngày 25/4/1984 về việc chống
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới [22]. Nhƣ vậy
có thể thấy quan điểm của Nhà nƣớc trong giai đoạn này vô cùng nghiêm
khắc đối với hành vi này.
15


1.2.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự 1999
Cùng với sự phát triển của đất nƣớc, Bộ luật Hình sự nƣớc ta lần đầu
tiên đƣợc ban hành ngày 27/6/1985 đã pháp điển hóa các văn bản pháp luật để

thị trƣờng trong nƣớc; Chỉ thị số 278/CT ngày 03/8/1990 của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trƣởng về việc cấm nhập khẩu và lƣu thông thuốc lá điếu của nƣớc
ngoài trên thị trƣờng trong nƣớc; Chị thị số 330/CT-HĐBT ngày 13/9/1990
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng về tăng cƣờng quản lý ngoại hối; Quyết
định số 337/HĐBT ngày 25/10/1991 về một số biện pháp quản lý ngoại tệ
trong thời gian trƣớc mắt). Tại Bộ luật Hình sự năm 1985, các tội phạm xâm
phạm trật tự kinh tế đƣợc quy định tại chƣơng 7 với tên là “Các tội phạm về
kinh tế”. Sau thời gian dài áp dụng trong thực tế, Bộ luật Hình sự 1985 đã có
nhiều vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng trƣớc yêu cầu đổi mới
liên tục về kinh tế, văn hóa, xã hội. Bộ luật Hình sự năm 1985 đã đƣợc sửa
đổi, bổ sung 4 lần: 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992 và 10/5/1997. Các
quy định về các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cũng nhƣ chỉ quy
định về tội buôn bán hàng cấm trong Bộ luật Hình sự 1985 không còn phù
hợp với những quan hệ kinh tế và đƣờng lối quản lý kinh tế đã đƣợc đổi mới
nhanh chóng. Bởi thực tế không chỉ có hành vi buôn bán, tàng trữ hàng cấm
mà còn có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Do
những yêu cầu cần phải có một Bộ luật hình sự mới phù hợp hơn với thực
tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và những thay đổi của điều kiện kinh
tế, xã hội nên ngày 22/11/1999 Quốc hội khóa X đã thông qua Bộ luật hình
sự năm 1999, đồng thời thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH-10 về việc thi
hành Bộ luật hình sự.
Tại Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm nhƣ sau:

17


Ngƣời nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hóa
mà Nhà nƣớc cấm kinh doanh có số lƣợng lớn, thu lợi bất chính lớn
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status