BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ THI ̣ BÍ CH NGỌC
TỘI SẢN XUẤT, TÀ NG TRỮ , VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN
HÀ NG CẤM THEO PHÁP LUẬT HÌ NH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luâ ̣t hiǹ h sự và tố tu ̣ng hiǹ h sự
Mã số : 60380104
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRƯƠNG QUANG VINH
HÀ NỘI – NĂM 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đươ ̣c luâ ̣n văn này, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắ c và
chân thành nhấ t tới các thầ y, cô giáo và cán bô ̣, công chức, viên chức của
trường Đa ̣i ho ̣c luâ ̣t Hà Nô ̣i đã tâ ̣n tình hướng dẫn, giúp đỡ, giảng dâ ̣y, trang
bi ̣ những hiể u biế t, kiế n thức, ta ̣o điề u kiêṇ tố t nhấ t để tác giả ho ̣c tâ ̣p và
nghiên cứu.
Đă ̣c biêt,̣ người tác giả muố n bày tỏ lòng biế t ơn sâu sắ c nhất là
PGS.TS Trương Quang Vinh – Phó hiêụ trưởng trường Đa ̣i ho ̣c luâ ̣t Hà Nô ̣i –
Người đã tâ ̣n tin
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Thống kê số vụ án thụ lý xét xử hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm trên cả nước từ 2012 -2016........................................ 61
Bảng 2: Thống kê việc giải quyết các vụ án hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm trên cả nước từ 2012 -2016........................................ 62
Bảng 3. Thống kê mức án Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử về tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong giai đoạn từ 2012 - 2016 ....... 63
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài................................................................................................ 3
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn, phạm vi nghiên cứu ............................. 4
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài. ................................................................................ 6
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài. ......................................................... 6
6. Bố cục của luận văn. ............................................................................................................ 7
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN HÀNG CẤM ........................................................... 8
1.1. Khái niệm hàng cấm và tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm................................................................................................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm hàng cấm ................................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.......... 12
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán hàng cấm ............................................................................................................................ 17
1.2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1985 ........................................................................................ 17
1.2.2. Giai đoạn khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành Bộ
bán hàng cấm và các nguyên nhân cơ bản ......................................................... 65
3.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam và giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm .............. 74
3.2.1. Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm........................................... 74
3.2.2. Một số vấn đề đã được hoàn thiện trong Bộ luật hình sự 2015. .............. 76
3.2.3. Những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện trong pháp luật hình sự về tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm .................................................... 79
3.2.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm........................................... 83
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trên con đường xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều nước trên thế giới.
Đường lối của Đảng và Nhà nước ta là đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Sự vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế định
hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào. Rõ rệt nhất là sự
ổn định về chính trị với cơ cấu chính trị vững chắc mà hạt nhân là sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam và nền kinh tế ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, do đặc thù của nền kinh tế thị trường, do sức ép cạnh tranh và
những sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế nên nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm
kinh tế ngày càng có môi trường phát sinh, phát triển nhiều, trong đó tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm đang ngày một tăng về số lượng với nhiều
sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc. Trong quá trình dự thảo, ban
hành và chỉnh sửa BLHS, ngoài những nội dung cấu thành tội phạm trong BLHS
1999, BLHS 2015 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều BLHS 2015 (ban hành năm
2017) có nhiều thay đổi về việc xây dựng cấu thành tội phạm tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Sắp tới BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có
hiệu lực pháp luật nên cần thiết phải có cách hiểu thống nhất để áp dụng pháp luật
đối với tội phạm này.
Bên cạnh các quy định của Luật hình sự đối với hành vi sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, buôn bán hàng cấm, còn có các quy định của các văn bản pháp luật
thuộc Ngành và lĩnh vực khác cũng điều chỉnh các quan hệ và hành vi liên quan đến
hàng cấm. Trong thời gian vừa qua, đang tồn tại những cách hiểu không thống nhất
giữa Luật thương mại và luật đầu tư giữa các ngành, các cơ quan và các địa phương
khác nhau. Vì thế, hoạt động xử lý đối với tội phạm này còn chưa cao, chưa đáp
ứng được yêu cầu trước tình hình thực tế tại địa phương, làm ảnh hưởng tới tình
hình an ninh trật tự và sự phát triển toàn diện các mặt kinh tế xã hội.
Chính vì vậy, vấn đề bức thiết là phải có hành lang pháp lý thống nhất, và có
những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm có hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu
3
đề tài: “Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm theo pháp luật
hình sự Việt Nam” là một vấn đề cần thiết, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh
chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với loại tội phạm này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Những năm trước thời kỳ đổi mới hầu như chưa có công trình nào nghiên
cứu về pháp luật xử lý đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm. Theo đường lối đổi mới, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật,
về cơ chế thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật hình sự về tội sản xuất, tàng trữ,
cập 11/4/2017”; Mai Bộ (2001), Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm, Tạp chí Toà án nhân dân,(4), tr. 15-18; Nguyễn Văn Thượng (2008), Thực
tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm và những vấn đề cần hoàn thiện, Tạp chí Toà án nhân dân, (20),
tr.16-19; Phạm Vũ Ngọc Quang (2016), Những vướng mắc về xử lý hình sự đối với
hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là sản phẩm thuốc lá
ngoại nhập lậu, Tạp chí kiểm sát, (12), tr.36-42.
Ngoài ra, còn một số sách tham khảo, chuyên khảo có đề cập nội dung rất
nhỏ liên quan đến đề tài luận văn như: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999
(phần các tội phạm), của TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS.ThS. Phạm
Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mặc dù đã nghiên cứu sâu và đề cập
ở một số góc độ khác nhau nhưng mới dừng lại ở một phạm vi hẹp, chủ yếu tập cận
dưới góc độ tội phạm học, chưa đề cập một cách trực tiếp, toàn diện, có hệ thống và
trên cơ sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình
sự về tội loại tội phạm này. Chính vì vậy, đề tài: “Tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm theo pháp luật hình sự Việt Nam” mang tính cấp thiết
cả từ lý luận lẫn thực tiễn.
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn, phạm vi nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu
5
Người viết nghiên cứu đề tài: “Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán
hàng cấm theo pháp luật hình sự Việt Nam” trước hết để bản thân trau dồi thêm
kiến thức, hiểu biết thêm về các quy định của pháp luật về loại tội phạm này. Đồng
thời, qua quá trình nghiên cứu, người viết làm sáng tỏ bản chất kinh tế, pháp lý của
hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, phân tích quy định của
cấm, tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Để
hoàn thành được luận văn này người viết đã sử dụng linh hoạt và hợp lý các phương
pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp luật học so sánh, phương pháp sưu
tầm và nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng hợp và thống kê số liệu, phương pháp
phân tích luật viết, phương pháp xã hội học, phương pháp logic.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài.
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm một cách toàn diện, có hệ thống,
đưa ra bức tranh toàn cảnh về loại tội phạm này dưới góc độ pháp luật hình sự; chỉ
ra các yếu tố cấu thành của loại tội phạm này. Qua đó, đề xuất hệ thống giải pháp có
tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự
về tội sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển hàng cấm. Đồng thời người viết
mạnh dạn đưa ra phương hướng giải quyết khó khăn vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng cũng như trong việc sửa đổi, bổ sung bộ luật hình sự về loại tội phạm này.
Luận văn đã chỉ ra những hạn chế trong công tác xây dựng và thi hành pháp
luật, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện cả hai phương diện này và các biện pháp
đấu tranh phòng chống tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, góp
phần vào việc phát triển khoa học luật hình sự.
Ngoài những đóng góp chung nêu trên, luận văn còn có những đóng góp mới cụ thể
sau:
- Luận văn góp phần nghiên cứu khái niệm, đặc điểm tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, buôn bán hàng cấm
7
- Phân tích tình hình diễn biến phức tạp và khẳng định yêu cầu bức thiết của
điển hoặc các văn bản có liên quan có đề cập đến hàng cấm là "hàng hóa mà Nhà
nước cấm buôn bán, kinh doanh”3. Hàng cấm còn được nhắc đến trong giải thích tội
buôn lậu: “buôn lậu là buôn bán trốn thuế hoặc hàng cấm”4. Tuy được nhắc đến
nhiều nhưng chưa có cách hiểu thống nhất về thuật ngữ này. Hiện nay, nhiều tác giả
đồng tình với cách giải thích: “hàng cấm là hàng hoá Nhà nước cấm kinh doanh”5.
Trung tâm từ điển học (1998), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 117, 405
Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 319.
3
Viện nghiên cứu Công an nhân dân (1997), Từ điển nghiệp vụ phổ thông Công an nhân
dân, Hà Nội trích trong tài liệu: Lục Thị Út (2014), Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn
tỉnh Cao Bằng), Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật trường đại học quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, tr. 16.
4
Viện Ngôn ngữ học (1992), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội trong tài
liệu: Nguyễn Thị Huyền Trang (2016), Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng
Ninh), Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa Luật trường Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr
14.
5
Nguyễn Ngọc Hoà - Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, NXB Tư pháp, Hà
Nội, tr 110.
1
2
9
Hàng cấm theo nghĩa rộng là loại hàng hoá bị cấm kinh doanh dưới mọi hình thức.
10
những lợi nhuận mà các mặt hàng này đem lại, các cá nhân, tổ chức lén lút sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) sẽ bị truy
cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán
hàng cấm. Mặc dù vậy, cho đến nay khái niệm hàng cấm vẫn chưa có bất cứ văn
bản pháp luật nào đưa ra một cách hiểu thống nhất. Trong quá trình giải quyết về
loại vụ việc liên quan đến hàng cấm, một vấn đề đặt ra đối với các cơ quan chức
năng là phải hiểu rõ thế nào là hàng cấm và các loại hàng cấm để từ đó mới ra được
những quyết định phù hợp, đúng đắn phục vụ tốt cho công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm về trật tự kinh tế nói chung, tội phạm về sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm nói riêng.
Dưới góc độ pháp lý, hàng cấm là đối tượng đặc biệt, được Nhà nước quản lý
và xử lý đối với hành vi liên quan đến nó. Trong pháp luật thương mại, đầu tư đều
có quy định những đối tượng cấm hoạt động kinh doanh đầu tư và có các chế tài xử
phạt đối với hành vi liên quan đến hàng cấm. Khoản 1 Điều 25 Luật thương mại xác
định: “Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể
danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh
doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hoá đó”. Đối với pháp
luật về thương mại đầu tư, các nhà làm luật không định nghĩa hàng cấm là gì mà
được quy định thành danh mục cụ thể những mặt hàng cấm kinh doanh. Danh mục
này do Chính phủ quy định và từng thời kỳ khác nhau thì danh mục hàng hoá cấm
kinh doanh cũng thay đổi. Nghị định 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15
tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương
mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có
giải thích: “Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử
dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam. Dưới góc độ pháp
lý hình sự, hàng cấm được xác định là đối tượng của tội phạm về kinh tế, bị xem là
đối tượng: “bất hợp pháp”. Việc lưu thông và kinh doanh đối với đối tượng này ở
1999. Nhìn nhận diện hàng cấm theo nghĩa rộng chúng ta cần nhìn nhận diện hàng
cấm trên tất cả các lĩnh vực và có sự liên hệ với diện hàng cấm là đối tượng tác
động của các tội phạm cụ thể về hàng cấm kể trên. Vì vậy, từ những phân tích nêu
trên và thực tiễn áp dụng pháp luật chúng ta nhận thức: “hàng cấm là hàng hoá Nhà
12
nước thống nhất quản lý, không được phép sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán”.
1.1.2. Khái niệm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
Tội phạm nói chung, tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
nói riêng đều là hiện tượng tiêu cực của xã hội có nguồn gốc từ sự phát triển của xã
hội. Mỗi quốc gia, để bảo vệ lợi ích của đất nước mình và phù hợp với tập quán
thương mại quốc tế đều đưa ra những chính sách nhằm đấu tranh, phòng ngừa và
giảm bớt tác hại của loại tội phạm này.
Điều 8 BLHS năm 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa.”
Theo pháp luật hình sự, hành vi thoả mãn các yếu tố được quy định tại Điều
8 BLHS năm 1999 nêu trên mới được coi là tội phạm. Chính vì vậy, hành vi sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm để được coi là tội phạm cũng phải
thoả mãn các yếu tố được quy định trong Điều 8 BLHS năm 1999.
Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm được quy định tại
Điều 155 thuộc chương XVI – Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS
đoạn và điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội cũng vì thế mà khác nhau.
Những quốc gia có nền kinh tế phát triển có hệ thống quy phạm pháp luật về thương
mại, đầu tư, kinh doanh trong nước rất chặt chẽ, do đó hệ thống mặt hàng lưu thông
nội địa quy định nghiêm ngặt, chế tài xử phạt đối với những hoạt động lưu thông
hàng hoá kém chất lượng, hàng hoá không được kinh doanh rất nghiêm khắc, do đó
những mặt hàng cấm vĩnh viễn mới được áp dụng trong chế tài của luật hình sự theo
hướng quy định đối với hành vi lưu thông loại hàng hoá cụ thể như ma tuý, chất
Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999
(phần các tội phạm cụ thể) quyển 1, Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, tr 172 – 173.
6
14
phóng xạ…Đối với các quốc gia khác, các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển
hơn, ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế hơn, các hành vi lưu
thông hàng cấm phức tạp và tinh vi hơn, do đó các quốc gia này áp dụng biện pháp
nghiêm khắc nhất là hình phạt đối với các hành vi lưu thông hàng hoá thuộc danh
mục hàng cấm do Chính phủ quy định.
Với những đặc điểm nêu trên, BLHS năm 1999 quy định tội sản xuất, tàng
trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm tại Điều 155: “Người nào sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, buôn bán hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu
lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này
hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị
kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không
thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và
238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng
hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm...".
Căn cứ vào Điều 155 và những phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về
tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm như sau: “Tội sản xuất, tàng
tế và sức khoẻ, tính mạng con người. Bên cạnh đó, quan niệm các mặt hàng cấm
thay đổi rất nhanh, có khi một đến hai năm danh mục này thay đổi một lần, nên
không thể mỗi lần thay đổi các loại hàng cấm lại sửa đổi, thay thế bộ luật hình sự.
Việc bỏ tội tàng trữ, sản xuất, vận chuyển, mua bán hàng cấm và quy định tội phạm
cụ thể với từng loại hàng cấm, vừa không đảm bảo xử lý triệt để các tội phạm về
hàng cấm, vừa không đảm bảo tính ổn định của BLHS. Do đó, quan điểm này cho
rằng quy định tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm như BLHS
1999 là phù hợp, khi xác định “hàng cấm” là đối tượng tác động của tội phạm theo
Điều 155 BLHS cần dẫn chiếu loại trừ các hàng cấm quy định ở những tội phạm cụ
thể.
Thứ hai, về chủ thể của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm cũng chưa thống nhất. Quan điểm thứ nhất cho rằng chủ thể của tội này là mọi
cá nhân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vấn đề pháp nhân phạm tội không đặt
ra. Trong khi đó, pháp nhân là một thực thể tồn tại trong xã hội được con người lập
ra, hoạt động vì những mục đích nhất định đem lại lợi ích cho pháp nhân nói chung,
cho người lập ra pháp nhân nói riêng. Hoạt động của pháp nhân tiến hành thông qua
16
hành vi của những người là đại diện hợp pháp của pháp nhân. Hành vi của những cá
nhân này không tạo ra quyền, lợi ích hợp pháp cho họ mà nhân danh pháp nhân tạo
ra quyền, lợi ích hợp pháp cho pháp nhân đó. Đối với những hành vi lưu thông hàng
cấm nhân danh pháp nhân thì thông thường quy mô, số lượng hàng cấm sẽ lớn hơn
nhiều lần so với hành vi của cá nhân riêng lẻ. Do đó, theo quan niệm mới của khoa
học luật hình sự thì việc mở rộng phạm vi chủ thể và quy định TNHS của pháp nhân
đối với tội phạm này mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa triệt để tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm cũng như các tội phạm xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế khác. Quan điểm này đang dần được các nhà lập pháp hình sự Việt
Nam đồng tình và thể chế hoá vào BLHS.
Thứ năm là vấn đề phân hoá giữa việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán hàng cấm nội địa với các hành vi tương tự từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Hiện tại, BLHS hiện hành đang quy định đối với những hành vi buôn bán hàng cấm
qua biên giới thì xử lý về tội buôn lậu theo Điều 153 BLHS. Đối với hành vi vận
chuyển hàng cấm qua biên giới thì xử lý theo Điều 154 BLHS. Quy định hiện tại vô
hình chung khiến BLHS chồng chéo khi chưa có sự phân biệt cụ thể giữa đối tượng
tác động của tội buôn lậu với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
và tội vận chuyển trái phép hàng cấm qua biên giới. Do đó, có quan điểm cho rằng
cần hệ thống hóa BLHS theo hướng quy định yếu tố “qua biên giới” là tình tiết định
khung tăng nặng của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm chứ
không tách hành vi buôn bán, vận chuyển hàng cấm qua biên giới sang tội buôn lậu
và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm
1.2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành
Bộ luật hình sự năm 1985
Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm với tính chất là hiện
tượng tiêu cực của xã hội đã gây những thiệt hại nghiêm trọng cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, khiến cho Nhà nước không kiểm soát được hàng hoá
cấm kinh doanh, làm cho thị trường hàng hoá rối loạn, cạnh tranh trên thị trường
18
thiếu lành mạnh. Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp đấu tranh nhằm ngăn
chặn, đẩy lùi hiện tượng tiêu cực này.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước ta đã quan tâm ban hành nhiều
văn bản liên quan đến đấu tranh chống lại tội buôn lậu và vận chuyển, tàng trữ,
buôn bán hàng cấm. Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên phải kể đến là Sắc lệnh số
50 ngày 9/10/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, quy định cấm xuất khẩu kho thóc,