MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
3
Mục lục
4
MỞ ĐẦU
6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI SẢN XUẤT,
BUÔN BÁN HÀNG GIẢ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
1.1.
Hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả và sự ảnh hưởng của nó
tới sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
13
13
1.2.
Khái niệm hàng giả; tội sản xuất, buôn bán hàng giả
17
38
1.3.3
Chủ thể của tội phạm
39
1.3.4.
Mặt chủ quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
41
1.4.
Trách nhiệm hình sự đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở
Việt Nam hiện nay
1.4.1.
Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội sản xuất, buôn bán
hàng giả theo quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS năm 1999
1.4.2.
43
45
Đặc điểm kinh tế - xã hội liên quan đến tội phạm sản xuất, buôn
bán hàng giả
2.2.
Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với
tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
53
58
Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN
66
HÀNG GIẢ
3.1.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
3.2.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định
của Bộ luật Hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
3.2.1.
3.3.
Nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
83
3.4.
Đối với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh
84
KẾT LUẬN
86
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hai thập kỷ qua, với quá trình thực hiện công cuộc đổi mới Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn thử thách, đẩy
mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
rất quan trọng. Với đường lối kinh tế của Đảng ta là đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành
nước công nghiệp, thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất
mà tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn không giảm, thậm chí còn
tăng đến chóng mặt, gây ra nhiều thiệt hại cho các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp và
nhân dân. Một số vụ gây hoang mang trong tư tưởng quần chúng nhân dân, tác
động đến sự phát triển của nền kinh tế, đời sống nhân dân, từ đó ảnh hưởng đến sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh đó, các biện pháp đấu
tranh, phòng chống cũng như quá trình điều tra khám phá loại tội này còn nhiều bất
cập, chưa có sự phối hợp cần thiết giữa các lực lượng thực thi pháp luật, sự hỗ trợ
của người tiêu dùng, của quần chúng nhân dân còn hạn chế, nên hiệu quả xử lý các
vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả còn thấp. Tỷ lệ các vụ án được phát hiện thấp,
tiến hành điều tra chậm, đề nghị xử lý bằng hình sự chưa cao.
Nước ta đã trở thành thành viên chính thức Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), một trong những vấn đề Việt Nam cam kết thực hiện là bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp, chống sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm đảm bảo sự cạnh tranh
lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu (các doanh nghiệp,
các nhà sản xuất kinh doanh), quyền và lợi ích của người tiêu dùng cũng như uy tín
của Việt Nam trong hợp tác thương mại quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đang bước
đầu hoàn thiện các văn bản pháp luật cho phù hợp với sự hội nhập chung của thế
giới, thể hiện rõ quyết tâm đổi mới toàn diện nhằm thiết lập một nền kinh tế thị
trường mang tính cạnh tranh cao, đủ sức hội nhập một cách sâu rộng vào nền kinh
tế thế giới, từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cùng
với sự hội nhập đó, các sản phẩm, hàng hóa cũng đa dạng. Từ sự đa dạng đó đã tạo
điều kiện cho sản xuất, buôn bán hàng giả không còn bó hẹp trong phạm vi một số
sản phẩm, mà lan tới hầu hết các chủng loại sản phẩm, đe doạ mọi khía cạnh của
hoạt động kinh doanh, điều này không chỉ gây thất thu thuế cho Nhà nước, mà còn
gây thiệt hại trực tiếp cho nhà sản xuất và người tiêu dùng. Vì vậy, Đảng và Nhà
nước ta coi việc phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả là nhiệm vụ quan trọng,
cấp bách cần phải có giải pháp đồng bộ, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, từng bước
đẩy lùi hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả. Mọi hành vi sản xuất, buôn bán,
phải nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng giả tương đối có hệ thống, toàn diện
từ góc độ lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ
sở đó xây dựng hệ thống giải pháp, những định hướng và kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.
Để đạt được những mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ
thể sau:
- Nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán
hàng giả hiện nay ở Việt Nam.
- Phân tích các các quy định của Bộ luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán
hàng giả.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Hình sự đối với
tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam; làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng loại tội
phạm này, nêu lên những vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử.
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện Bộ luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả, góp
phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài những vấn đề lý luận, thực tiễn đối với tội
sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay và định hướng về tổ chức cuộc
đấu tranh của toàn xã hội với hiện tượng tội phạm nói chung và tội phạm trong
hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu tội sản xuất, buôn
bán hàng giả được quy định tại Điều 156 chương XVI-BLHS năm 1999. Luận văn
cũng đi sâu nghiên cứu tình hình thực tiễn, những quy định của pháp luật hình sự
khảo, góp phần hỗ trợ cho việc xây dựng kế hoạch tổ chức đấu tranh phòng, chống
tội phạm có hiệu quả đối với loại tội phạm này.
Luận văn còn là tài liệu nghiên cứu của giáo viên, cán bộ nghiên cứu, học
sinh các trường đào tạo pháp luật tại Việt Nam.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục các tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả hiện
nay ở Việt Nam;
Chương 2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với
tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay;
Chương 3. Nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội
sản xuất, buôn bán hàng giả.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN
HÀNG GIẢ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
1.1 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta bắt đầu thực hiện chiến lược đổi mới
và mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. “Nhiệm
vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử
thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, “tăng trưởng kinh tế nhanh,
công nghệ cao như xe máy, đồ điện tử, điện lạnh, các sản phẩm băng đĩa,… Mặt
hàng nào bán chạy trên thị trường hoặc hàng hóa có thương hiệu là lập tức hàng
nhái kiểu dáng, mẫu mã thậm chí sao chép hoàn toàn xuất hiện. Hàng giả có thể
được sản xuất và tiêu thụ trong nước hoặc sản xuất trong nước tiêu thụ ở nước
ngoài hoặc sản xuất ở nước ngoài và tiêu thụ ở trong nước. Hàng giả có thể là được
sản xuất, làm giả một phần hoặc toàn bộ từ bao bì cho đến nội dung bên trong chất lượng của sản phẩm.
Hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đối với người tiêu dùng. Trong quá trình sinh hoạt, người tiêu dùng mua các
sản phẩm, hàng hoá nhưng đã bị mua phải hàng giả, đáp ứng không đủ hoặc không
đáp ứng được mục đích sử dụng sản phẩm, hàng hoá nên ngoài thiệt hại về kinh tế
còn ảnh hưởng đến lòng tin của người tiêu dùng. Đối với những loại hàng giả như
đồ gia dụng, mỹ phẩm không những không tăng thêm sức khỏe, sắc đẹp cho người
tiêu dùng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ, thậm chí có trường hợp
gây tử vong. Với người tiêu dùng, khi mua phải hàng giả, họ thường im lặng chịu
thiệt vì ngại thủ tục pháp lý phiền phức, mất thời gian, công sức để chứng minh.
Còn vấn đề trách nhiệm pháp lý? Trong phạm vi chức năng của mình, các tổ chức
xã hội như Hội bảo vệ người tiêu dùng chỉ có thể xử lý theo hình thức hoà giải, yêu
cầu người bán hàng đổi sản phẩm thật cho người tiêu dùng. Các cơ quan chức năng
như Quản lý thị trường, Công an kinh tế chỉ chủ yếu xử phạt hành chính nhưng
khung hình phạt quá thấp so với khoản lợi bất chính nên không có tác dụng răn đe
đối với những người sản xuất và kinh doanh hàng giả.
Để sản xuất các loại hàng hoá, các cơ sở sản xuất hoặc doanh nghiệp sản
xuất phải sử dụng nguyên liệu để tiến hành sản xuất. Nhưng các nguyên liệu dùng
để sản xuất đó lại là hàng giả nên hàng hoá được làm ra đó sẽ là hàng kém chất
lượng hoặc có khi không có giá trị sử dụng ảnh hưởng đến sự phát triển cả nền
kinh tế, xã hội của đất nước, sức khoẻ của người tiêu dùng. Nguy hiểm nhất là các
loại thực phẩm, mỹ phẩm giả vì chúng gây hại trực tiếp đến sức khoẻ con người.
Ví dụ: Một số loại mỹ phẩm như dầu gội đầu, kem dưỡng da, phấn son được làm
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC
7. Bộ Thương mại - Bộ Tài chính - Bộ Công An - Bộ Khoa học Công nghệ và
Môi trường (2001), Thông tư liên tịch số 10/2001/TTLT-BTM-BTC-BCABKHCNMT hướng dẫn Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10 của Thủ
tướng Chính phủ, www.luatvietnam.com.vn
8. Thủ tướng Chính phủ (1999), Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 31/1999/CT
- TTg ngày 27/10 về đấu tranh phòng chống sản xuất và buôn bán hàng
giả, www.luatvietnam.com.vn
9. Thủ tướng Chính phủ (1996), Quyết định số 96/TTg ngày 18/02 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành quy chế về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt
động giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác quản lý thị
trường, chống buôn lậu và các hành vi kinh doanh trái phép,
www.luatvietnam.com.vn
10. Hội đồng Bộ trưởng (1991), Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 140-HĐBT
ngày 25/4 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả,
www.luatvietnam.com.vn.
11. Chính phủ (2001), Nghị định số 69/2001/NĐ - CP quy định chi tiết thi hành
Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng, www.luatvietnam.com.vn.
12. Quốc hội (2002), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm
1946, 1959, 1980, 1992 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp
1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Quốc hội (1998), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1985, Hà Nội.
14. Quốc hội (2002), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1999, Hà Nội.
15. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Quốc hội (2005), Bộ Luật dân sự nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,
chung, (Sách chuyên khảo sau đại học), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
28. Nguyễn Ngọc Hòa (1991), Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
29. Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự phần các tội phạm,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
30. Bình luận Bộ luật Hình sự 1999 (1999), Nxb Công an nhân dân
31. Đinh Văn Quế (2000), Tìm hiểu về Hình phạt và quyết định hình phạt trong
luật Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia.
32. Nguyễn Mai Bộ (2004), Pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế, Nxb tư pháp.
33. Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp
luật kinh doanh kinh tế hiện hành ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia.
34. Trường Đại học Luật Hà Nội (2000). Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
35. Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2005), Số chuyên đề về Luật hình sự một số
nước trên thế giới, Hà Nội.
36. Trần Ngọc Việt (2001), Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả thực trạng và
biện pháp phòng, chống, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà
nước và pháp luật.