Tội sán xuất, buôn bán hàng giả theo điều 156 bộ luật hình sự năm 1999 - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH T UYấN

TộI SảN XUấT, BUÔN BáN HàNG GIả
THEO ĐIềU 156 Bộ LUậT HìNH Sự NĂM 1999

Chuyờn ngnh : Lut hỡnh s
Mó s

: 60 38 40

Cụng trỡnh c hon thnh
ti Khoa Lut - i hc Quc gia H Ni

Ngi hng dn khoa hc: GS.TS. Ngc Quang

Phn bin 1:

Phn bin 2:

Lun vn c bo v ti Hi ng chm lun vn, hp ti
Khoa Lut - i hc Quc gia H Ni.
Vo hi ..... gi ....., ngy ..... thỏng ..... nm 2014.

TểM TT LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2014

1

trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Khái niệm niệm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156
Bộ luật hình sự.
Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về
tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả
Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước
khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999

1.3.1.

Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong Bộ luật hình
sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong Bộ luật hình
sự Liên bang Nga.

23

Chương 2: DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI S ẢN XUẤT HÀNG
GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG

29

Các dấu hiệu pháp lý và đường lối xử lý hình sự đối với các
tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ
luật hình sự hiện hành
Các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất hàng giả, buôn bán


KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

81
84

3.1.
3.2.

18
22

2.1.

2.2.2.

9

Nghiên cứu so sánh các quy định trong pháp luật hình sự
một số nước về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả

1.3.2.

55

6

1.3.


4

72

74


MỞ ĐẦU

pháp hữu hiệu, nghiêm khắc nhất để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi

1. Tính cấp thiết của đề tài

của người tiêu dùng và các nhà sản xuất, phân phối chân chính. Xử lý hình

Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của hàng giả trên thị trường

sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Điều 156

đã trở thành hiện tượng phổ biến và mang tính toàn cầu. Sản xuất và buôn

Bộ luật hình sự (BLHS) là một trong những nội dung quan trọng về phòng,

bán hàng giả là vấn nạn của xã hội. Đối với sản xuất và tiêu dùng nội địa,

chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Trong cuộc đấu tranh đó, pháp luật hình

hàng giả ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và quyết tâm của các doanh

sự cùng với hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật đóng vai trò hết sức


nhất, đồng bộ trong thi hành và áp dụng pháp luật; chưa có cơ chế phối hợp

tế nước ta có những bước phát triển đáng kể, an sinh xã hội được đảm bảo.

chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật; biện pháp áp dụng của pháp luật

Bên cạnh đó, có một số vấn đề đáng quan ngại, trong đó dư luận bức xúc

chưa triệt để, nghiêm minh. Những hạn chế, bất cập ấy, đã ảnh hưởng đến

trước tình trạng hàng giả xuất hiện tràn lan trên thị trường. Hàng giả phong

kết quả thi hành pháp luật đối với tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Số

phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã và linh động về giá cả có mặt ở rất

vụ sản xuất buôn bán hàng giả được phát hiện trong những năm trở lại đây

nhiều phân khúc của thị trường từ các phiên chợ ở vùng sâu, vùng xa, vùng

lên đến con số hàng nghìn, song số vụ được khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử

nông thôn đến các chợ, các siêu thị ở các đô thị lớn. Tình hình sản xuất,

là rất ít: Trong 05 năm (từ năm 2009 - đến năm 2013) ngành Tòa án đã xét

buôn bán hàng giả cũng có chiều hướng gia tăng về số lượng, loại hàng hóa

xử sở thẩm 67 vụ, 94 bị can, trung bình mỗi năm xét xử 13,4 vụ, 18,8 bị can

hỏi của thực tiễn và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả.

BLHS năm 1999 như: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

tội phạm), của tập thể tác giả TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện,

* Mục đích:

LS,Ths. Phạm Thanh Bình, Ths. Nguyễn Đức Mai, Ths. Nguyễn Sỹ Đại,

Làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý, các vấn đề khác có liên quan,

Ths. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, 2001; Bình luận khoa học Bộ

kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng

luật hình sự, Phần các tội phạm, tập VI, do Ths. Đinh Văn Quế chủ biên,

giả. Trên cơ sở đó có thể để xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của

Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003; Bình luận khoa học Bộ luật hình

Điều 156 BLHS và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh

sự Việt Nam đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, do TS. Trần Minh Hưởng

phòng chống tội phạm này.



trình nghiên cứu trên đây, đặc biệt là nghiên cứu của Thạc sỹ Mai Thị Lan đã

chế.

được thực hiện từ năm 2008, với bối cảnh và trực trạng áp dụng pháp luật đối

- Đề xuất một số giải pháp góp phần bổ sung, hoàn thiện quy định

với tội sản xuất, buôn bán hàng giả năm 2008 và những năm trước đó đến nay

về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam và nâng

đã có nhiều thay đổi. Nạn hàng giả vẫn tiếp diễn, gia tăng, diễn biến phức tạp

cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về hàng giả.

với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp

4. Phạm vi nghiên cứu

luật về tội sản xuất buôn bán hàng giả vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự pháp

Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển các quy

luật, cần được nghiên cứu cụ thể, đầy đủ và toàn diện, phục vụ công tác điều tra,

định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong luật hình sự Việt nam

truy tố, xét xử và đấu tranh chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả ở


HÀNG GIẢ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI S ẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG

hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, thống kê, tổng

GIẢ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH S Ự VIỆT NAM

hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, trao đổi với các chuyên gia, các nhà

1.1.1. Khái niệm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

nghiên cứu và khảo sát thực tiễn.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 156, Chương

6. Ý nghĩa của luận văn

XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế), Phần các tội phạm, BLHS Việt

- Đề tài là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn

Nam. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của tội phạm này cần làm rõ hàng loạt

thạc sĩ luật học nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về tội sản

thuật ngữ cơ bản. Trước tiên, cần hiểu thế nào là sản xuất, thế nào là buôn bán

xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam.

hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng.

9

phạm thể hiện ở hành vi phạm tội đó là hành vi sản xuất hàng giả và hành vi
buôn bán hàng giả.

10


Nếu khái niệm cho chúng ta nhận biết tổng thể đối tượng nghiên

Điều 6. Tội kinh tế: Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về

cứu một cách chung nhất, thì đặc điểm giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn

tài chính cho Nhà nước, cho Hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân

về đối tượng nghiên cứu, minh họa cho khái niệm, làm cho khái niệm trở lên

dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho

bớt khô cứng và sinh động hơn. Để nhận thức sâu và áp dụng chính xác tội

việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội, trong đó có: Sản

sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS vào thực tiễn

xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ; Làm bạc giả, hoặc


được quy định trong cùng một điều luật và giống nhau về hình phạt.

Thứ ba, giá cả bán hàng giả không nhất thiết phải bán theo giá của
hàng thật để lừa dối người tiêu dùng, mà còn có thể bán với giá rẻ, thậm chí
rất rẻ mà không có mục đích lừa dối người tiêu dùng.
Thứ tư, nguồn gốc của hàng có thể sản xuất tại Việt Nam và có thể
sản xuất ở nước ngoài được nhập khẩu hoặc bằng các cách khác nhau đưa
vào Việt Nam tiêu thụ.

1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 167,
chương VII, BLHS năm 1985 là một trong các tội phạm về kinh tế với tên
gọi "Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả" có nội dung:
Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị

1.2. KHÁI QUÁT LỊCH S Ử PHÁP LUẬT HÌNH S Ự VIỆT NAM QUY
ĐỊNH VỀ TỘI S ẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

1.2.1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Tội sản xuất hàng giả cũng được quy định tại Sắc luật này là một
trong các tội kinh tế:

phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các
trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng
bệnh; Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa
Nhà nước, tổ chức xã hội; Hàng giả có số lượng lớn; thu lợi bất
chính lớn; Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trường hợp đặc

một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ
luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được
xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến

Nội dung điều luật quy định:
Cân, đo, tính gian, gây nhầm lẫn về chất lượng, công
năng sử dụng của hàng hoá (dịch vụ) hoặc có hành vi khác lừa
dối người tiêu dùng trong các tổ chức bán hàng hay cung ứng
dịch vụ cho nhân dân, cũng như do công dân đăng ký kinh
doanh trong lĩnh vực thương nghiệp dịch vụ thực hiện với số
lượng đáng kể. Lừa dối người tiêu dùng được coi là với số lượng
đáng kể nếu thiệt hại gây cho người tiêu dùng vượt quá 1/10
mức thu nhập tối thiểu; với số lượng lớn được hiểu là thiệt hại
gây cho người tiêu dùng không dưới mức thu nhập tối thiểu.
Chương 2
DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ,
BUÔN BÁN HÀNG GIẢ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ VÀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ HÌNH S Ự ĐỐI
VỚI CÁC TỘI S ẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156

năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,
thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật
có giá trị từ một trăm năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm

kiện nhất định.
Thứ năm, chủ thể của tội phạm nói chung hay chủ thể của tội sản
xuất, buôn bán hàng giả nói riêng theo quy định của BLHS Việt Nam hiện
hành là con người cụ thể, thỏa mãn hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc về chủ thể
của tội phạm là năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định.
Thứ sáu, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện do lỗi cố ý

Thứ nhất, điều 156 BLHS có 4 khoản: khoản 1 là cấu thành tội

trực tiếp, người phạm tội biết rõ hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là nguy

phạm cơ bản của tội sản xuất, buôn bán hàng giả; khoản 2 là cấu thành tội

hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợi nên vẫn thực hiện. Động cơ phạm tội sản

phạm tăng nặng; khoản 3 là cấu thành tội phạm đặc biệt tăng nặng và khoản

xuất, buôn bán hàng giả là vụ lợi, mục đích phạm tội là để thu lợi bất chính.

4 là hình phạt bổ sung đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Thứ hai, do được đặt tại chương các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế nên khách thể loại của tội sản xuất, buôn bán hàng giả và sự xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước.

2.1.2. Chính sách hình sự đối với người phạm tội sản xuất, buôn
bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự
Về chính sách hình sự, khoản 1 Điều 156 quy định, bất kỳ người
nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có

Thứ ba, hành vi khách quan của tội sản xuất hàng giả thể hiện ở


định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật

15

16


Tuy nhiên, khi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả mà có một

01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán

Khởi tố
Truy tố
Xét xử sơ thẩm
Vụ
Bị can
Vụ
Bị can
Vụ
Bị can
2009
15
22
15
20
13
17
2010
13

99
67
94
Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.
Trong đó, tình hình xử lý hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả

TAND tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS quy định

theo Điều 156 BLHS trong 5 năm qua được thể hiện qua số vụ, số bị cáo đã

về tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" quy định tại điểm b khoản

xét xử. So sánh số vụ, số bị cáo đã bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng

1 Điều 48 và một số điều luật trong Phần các tội phạm của BLHS hướng

giả theo Điều 156 BLHS với tổng số vụ, số bị cáo đã xét xử trong 05 năm

dẫn:

qua để thấy rõ nét hơn thực trạng xét xử tội phạm sản xuất, buôn bán hàng

trong những tình tiết dưới đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
- Có tổ chức. Theo quy định tại Điều 20 BLHS 1999: Phạm tội có tổ
chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng
thực hiện một tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người
xúi giục, người giúp sức.
- Có tính chất chuyên nghiệp. Tại Điểm 5 Nghị quyết số

- Tái phạm nguy hiểm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 BLHS,

67/94
Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao
Với số liệu thống kê trên, bình quân hàng năm có 13,4 vụ/18,8 bị

Theo số liệu thống kê của VKSND tối cao, TAND tối cao số vụ đã

cáo bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Trong khi đó, trung bình

điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên

mỗi năm tòa án đã xét xử 203 vụ/449 bị cáo đối với mỗi tội phạm. So với

phạm vi cả nước trong 05 năm (2009-2013) như sau:

mức trung bình chung, thì tỉ lệ xét xử hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng

Bảng 1: Số vụ, bị can, bị cáo đã bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử về tội sản
xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS trong 05 năm (2009-2013)

giả chỉ đạt 6,6% về số vụ, 4,1 % số bị cáo; so với tổng số vụ hình sự đã được

17

18

xét xử sơ thẩm chỉ đạt 0,030% số vụ, 0,19% số bị cáo. Đây là con số quá nhỏ


so với trực trạng sản xuất buôn bán hàng giả được đánh giá là tội phạm lớn


được qui định tại Điều 156 BLHS hiện nay là chưa tương xứng với tính chất
và mức độ của hành vi phạm tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả.
Thứ ba, Về kỹ thuật lập pháp. Tiếp thu quan điểm của PGS.TS.
Nguyễn Ngọc Chí, về việc đưa những đối tượng tác động của các tội phạm
quy định tại các Điều 157, 158 là tình tiết tăng nặng của cấu thành tội phạm
quy định tại Điều 156 BLHS là cần thiết.

Hoàn thiện các quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả

Thứ tư, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về phòng chống sản xuất,

hiện nay là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền

buôn bán hàng giả. Quá trình áp dụng pháp luật về tội sản xuất buôn bán

kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế của Việt Nam, mà

hàng giả theo Điều 156 BLHS 1999, các cơ quan, người có thẩm quyền còn

trực tiếp là yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian lận thương mại,

phải vận dụng nhiều văn bản pháp luật khác về phòng chống hàng giả thuộc

bảo vệ giá trị thực của nền kinh tế, hướng tới mục tiêu xây dựng và hoàn thiện

nhiều ngành, lĩnh vực như hình sự, xử lý hành chính, bảo vệ người tiêu

Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Nhu cầu hoàn thiện các quy định

dùng, hải quan, quản lý thị trường, quản lý chất lượng hàng hóa, tiêu chuẩn,

đấu tranh phòng chống tội phạm. Để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh,

trường.

kiểm tra, tiến hành tố tụng về hàng giả cần tập trung thực hiện một số nội

Đối với hàng hóa nhập khẩu: Các quy định về "phân luồng", quy
định về chế độ tự khai báo và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp với mục

dung sau:
- Chú trọng vào công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra ban đầu nhằm

đích tạo sự thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận

kịp thời phát hiện các trường hợp phạm tội về hàng giả, hạn chế tình trạng

lợi cho doanh nghiệp nhưng qua quá trình triển khai thực hiện đang bộc lộ

tội phạm ẩn như bỏ lọt tội phạm, hành chính hóa tội phạm hàng giả.

nhiều "kẽ hở" để doanh nghiệp vi phạm lợi dụng.

- Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan giám định. Giám định
hàng giả là khâu quan trọng trong quá trình xử lý vi phạm về hàng giả, kết

Đối với hàng hóa sản xuất trong nước: Tăng cường các biện pháp
chống hàng giả từ phía doanh nghiệp.

quả giám định hàng giả có ý nghĩa quyết định việc có hay không khởi tố vụ
án hình sự về hàng giả.

Về nội dung phổ biến giáo dục pháp luật: Điều chỉnh các quan hệ
xã hội liên quan đến công tác phòng, chống hàng giả có sự tham gia của
nhiều văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực như hình sự, xử lý vi
phạm hành chính, sở hữu trí tuệ, quản lý chất lượng hàng hóa và tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật.

21

22


Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hàng giả để phục vụ

(2009-2013) là quá thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh chống

công tác chuyên môn đồng thời hỗ trợ và tư vấn cho doanh nghiệp, người

hàng giả và gian lận thương mại. Vì vậy, việc đấu tranh làm giảm số vụ phạm

tiêu dùng trong đấu tranh phòng chống hàng giả và tích cực tham gia tố giác

tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện

tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả:

nay.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng chống sản
xuất, buôn bán hàng giả.



trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển những giá trị của luật hình sự Việt

nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm này trong thời gian tới:

Nam các giai đoạn trước, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ

Về pháp luật: Từng bước hoàn thiện pháp luật về tội sản xuất hàng

của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới, từng bước hoàn thiện và hội

giả, buôn bán hàng giả, đồng thời bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật

nhập. Qua mỗi thời kỳ lại đánh dấu một bước tiến mới của lịch sử pháp luật

khác về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả.

hình sự Việt Nam.

Về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán

2. Để hiểu rõ được tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định

hàng giả: Để thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản

của pháp luật Việt Nam, trong luận văn tác giả đã đi sâu phân tích các khái

xuất, buôn bán hàng giả cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp với sự tham

niệm về tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng giả. Bên cạnh đó làm sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status