Tội sản xuất, buôn bán hàng giả lý luận và thực tiễn tội phạm nay tại địa bàn hà nội - Pdf 25

LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện đường nối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã được đề ra
từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu năm 1986 trong hơn 20 năm qua nước
ta đã đạt được những thành tựu to lớn như : chính trị ổn định, kinh tế tăng
trưởng cao, trật tự an ninh xã hội được giữ vững, tỷ lệ xóa mù chữ là cao
nhõt thế giới….mặc dù bước đầu đã gặp không ít chông gai. Hiện nay trong
mắt bạn bè thế giới Việt Nam đã trở thành đối tác đáng tin cậy. Để đưa đất
nước tiến lên CNXH thì vấn đề phát triển kinh tế có ý nghĩa then chốt, quyờt
định. Với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong
bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta đang phải đương đầu với rất nhiều
những khó khăn thử thách rất lớn. Tỡnh hình tội phạm kinh tế trong giai
đoạn hiện nay đang ngày càng gia tăng, tinh vi và phức tạp, trong đó tội sản
xuõt, buôn bán hàng giả đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp.
Theo đánh giá của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tổng
giá trị hàng giả được mua bán hàng năm trên thế giới khoảng 500 tỷ Euro
gấp đôi ngân sách nước Đức. Hiện nay hàng giả chiếm lĩnh 1/10 thương mại
thế giới, trong đó các loại hàng được làm giả nhiều nhất có: cứ 3 chiếc đĩa
CD thỡ cú 1 chiếc được sao chép trái phép; các mặt hàng như: quần áo, phụ
kiện may mặc, mỹ phẩm và nước hoa chiếm khoảng 1/3 tổng số hàng giả thế
giới, phần mềm máy tính là 35%, video, DVD và CD là 25%. Đồng hồ Thụy
Sỹ giả mạo được bán nhiều hơn hàng thật: 40 triệu chiếc giả so với 26 triệu
chiếc đồng hồ thật. Ta có thể thấy hàng giả đang lan tran khắp mọi nơi và trở
thành vấn nạn của cỏc quục gia, Việt Nam chúng ta cũng phải đối mặt với
vấn nạn này, đặc biệt là Hà Nội. Nạn hàng giả này không chỉ gây ra những
thiờt hại to lớn về kinh tế, làm tổn hại về vật chất, mất uy tín quốc gia, nhà
sản xuất, người tiêu dùng mà tai hại hơn nú cũn có thể gây ra những thiờt hại
về sức khỏe, tính mạng của con người. Từ thực tế này đòi hỏi phải có những
11
biệm pháp để ngăn chăn đẩy lùi nạn hàng giả, trong đó pháp luật hình sự là
một biện pháp hữu hiệu. Do đó vấn đề nghiên cứu khoa học, phân tích, đưa
ra quan điểm, giai pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự

13
CHƯƠNG MỘT
LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH
VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
Bước vào những năm đầu thế kỷ 21, nước ta đang ngày càng tiến sâu hơn vào
quá trình hội nhập toàn diện với quốc tế và khu vực. Trước những tác động và
yêu cầu của quá trình hội nhập, đất nước ta đã có những thay đổi lớn về mọi
mặt của đời sống xã hội, trong đó sự thay đổi trong kinh tế là lớn nhất và quan
trọng nhất. Để quản lý “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh những
chính sách nhằm phát triển kinh tế thì pháp luật hình sự về các tội phạm xâm
hại đến trật tự quản lý kinh tế cũng phải ra đời và phù hợp, linh hoạt, chặt chẽ
hơn. Chương XVI – Bộ luật hình sự 1999 quy định “Các tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế” đã đáp ứng phần nào những đòi hỏi này. Trong 29 điều luật
(từ điều 153 đến điều 181) thì tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định
tại Điều 156,157,158 nhằm đấu tranh chống nạn hàng giả và buôn bán hàng
giả nói riêng và tội phạm kinh tế nói chung. Trong lịch sử lập pháp hình sự
nước ta, tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng đã được quy định và có sự trừng
trị rất nghiêm khắc. Có thể khái quát như sau:
1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985.
Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà - “Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á”. Nhà
nước và bộ máy của nó vừa mới được thành lập đã phải đương đầu với bao
khó khăn và thử thách: “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”… Để bảo vệ
thành quả của cách mạng, bảo vệ quyền và lợi Ých của giai cấp mình, nhiệm
vụ quan trọng và hàng đầu của Nhà nước ta là giữ vững an ninh quốc gia, ổn
định kinh tế đảm bảo đời sống của người dân. Nhiều chính sách luật được ra
đời (sắc luật) nhưng chưa thể cho ra đời một chính sách luật hình sự được
pháp điểm hoá do hoàn cảnh chưa cho phép. Trong khoảng thời gian từ năm
1945 đến năm 1975, đất nước ta liên tục có chiến tranh, cả nước tập trung toàn

được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về hàng giả trong tội phạm kinh tế.
15
Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất hàng giả
và thái độ của Nhà nước đối với tội phạm này là rất nghiêm khắc. Nhưng sắc
luật số 03.SL bên cạnh những ý nghĩa tích cực còn bộc lộ những hạn chế nhất
định và quy định tội sản xuất hàng giả cũng vậy. Sắc luật chưa thể hiện được
sự phân hoá cần thiết đối với tội phạm về kinh tế nói chung và tội sản xuất
hàng giả nói riêng. Điều 6 của sắc luật chỉ quy định “sản xuất hàng giả cố ý
lừa gạt người tiêu thụ” mà không quy định hành vi buôn bán hàng giả cũng là
tội phạm, không đưa ra các đối tượng hàng giả cụ thể như: hàng giả, hàng giả
là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh… mà chỉ quy định hàng giả chung
chung, việc quy định như vậy là không chính xác do nếu hàng giả là lương
thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh thì tính nguy hiểm của nó cao hơn hàng giả
là các vật dụng thông thường khác.Về hình phạt, điều luật quy định hình phạt
được áp dụng chung cho các tội phạm, việc quy định như vậy chưa cho thấy
được mức độ nguy hiểm của từng loại tội phạm. cũng nh chế tài áp dụng đối
với tội phạm đó. Nhưng sắc luật này vẫn được áp dụng chung trong cả nước từ
năm 1978. Để khắc phục hạn chế của sắc luật 03.SL và phù hợp hơn với tình
hình tình mới của nền kinh tế – xã hội, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1985,
pháp lệnh số 7-LCT/HĐNN7 ban hành ngày 10/7/1982 - pháp lệnh trừng trị
các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, đây là văn bản
pháp luật đầu tiên quy định về các tội này cho đến trước khi BLHS năm 1985.
“Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 5 pháp lệnh,
trong đó:
“Điều 5. Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả.
1. Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất
chính, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn
đồng đến năm vạn đồng;
2. Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lương thực, thực
phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy

lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ”, nhưng Nghị định cũng quy định nếu
“ hàng giả thuộc loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh thì bất cứ
17
trường hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự” do loại hàng giả này có
tác động nguy hiểm hơn so với loại hàng giả khác. Trên thực tế khi áp dụng
pháp luật để xử lý một hành vi làm hoặc buôn bán hàng giả các cơ quan chức
năng phải căn cứ vào cả hai văn bản pháp luật này để xác định truy cứu trách
nhiệm hình sự hay xử lý bằng biện pháp hành chính phần nào gây những trở
ngại nhất định, không thuận tiện. Việc ra đời một BLHS là vấn đề cần thiết để
quy định cụ thể và khoa học về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng
và các tội phạm hình sự nói chung.
1.2. Giai đoạn từ khi BLHS năm 1985 ra đời đến khi ban hành BLHS
năm 1999.
1.2.1. BLHS năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng
giả.
Năm 1985, Bộ luật Hình sự Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu
tiên của chúng ta được ban hành. Đây được coi là một mốc son trong lịch sử
lập pháp của nước ta. Từ đây các tội phạm không còn quy định riêng lẻ trong
các văn bản pháp luật dưới luật nữa mà được tập hợp trong mét BLHS. Mỗi
một tội phạm và hình phạt đối với tội đó được quy định trong một điều luật
riêng và được sắp xếp vào từng nhóm tội khác nhau. Cũng như vậy, “Tội làm
hàng giả, tội buôn bán hàng giả” thuộc nhóm “các tội phạm kinh tế” quy định
tại Điều 167 của Bộ luật.
“Điều 167. Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả
1. Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu
tháng đến 5 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây bị phạt tù từ ba
năm đến mười hai năm.
a. Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;
b. Có tổ chức;

2. Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt hoặc tương
tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá
của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở
19
hữu công nghiệp (Cục sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước quốc tế
mà Việt Nam tham gia;
3. Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã
đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng;
4. Sản phẩm, hàng hoá ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa
được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam.
5. Sản phẩm, hàng hoá đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ
quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối
thiểu cho phép;
6. Sản phẩm, hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc,
bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”.
Từ đây ta có thể thấy hàng giả được chia thành 2 loại: hàng giả về hình
thức (sản xuất và sử dụng nhãn giả và bao bì mang nhãn giả hoặc sử dụng
nhãn của người khác, của cơ sở sản xuất khác mà không được phép của chủ
nhãn (bao gồm nhãn sản phẩm, nhãn hiệu hàng hoá và dấu phù hợp Tiêu
chuẩn Việt Nam); hàng giả về nội dung (hàng không có giá trị sử dụng, không
đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó; hoặc có
chất lượng dưới mức tối thiểu do Nhà nước quy định; nhằm đánh lừa gây thiệt
hại cho người tiêu dùng để thu lợi bất chính). Hàng giả là hàng có mức chất
lượng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu còn hàng kém chất lượng là hàng có
mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng ghi trên nhãn đăng ký song chưa vi
phạm mức chất lượng tối thiểu.
Qua những quy định trên, hàng giả đã được phần nào làm rõ hơn với
những dấu hiệu cụ thể của nó mà trước đây chưa hề có một văn bản pháp luật
nào của Nhà nước đưa ra khái niệm hàng giả. Nó có một ý nghĩa lớn trong
việc áp dụng để phân định hàng giả với hàng thật và hàng kém chất lượng.

và Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983.
Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự phát triển kinh tế – xã hội và phát
triển của tội phạm về kinh tế đòi hỏi phải có pháp luật hình sự mới phù hợp và
tiến bộ hơn. Bộ luật hình sự 1999 ra đời là điều cần thiết đối với pháp luật nói
chung và pháp luật hình sự nói riêng.
21
1.2.2. Bộ luật hình sự 1999 và những tiến bộ của nó về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả so với Bộ luật hình sự năm 1985.
Trước yêu cầu thực tế, BLHS năm 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa
đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện BLHS năm 1985 nhưng có sự kế
thừa những nội dung tích cực của BLHS sau 4 lần sửa đổi, bổ sung. Còng theo
hướng chung của BLHS thì “tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả” cũng
được sửa đổi một cách khá toàn diện thể hiện tại “Điều 156. Tội sản xuất,
buôn bán hàng giả”, “Điều 157. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương
thưc, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”, “Điều 158. Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y,
thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi”. Điều 167 BLHS năm 1985
quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả trong đó bao gồm các loại
hàng giả là: hàng giả nói chung; hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc
chữa bệnh phòng bệnh, hàng giả là phân bán thuốc trừ sâu và về bản chất thì
hàng giả được chia thành 2 loại là hàng giả về hình thức và hàng giả về nội
dung, thì nay BLHS 1999 đã tách các loại hàng giả trên thành các đối tượng
hàng giả được quy định tại các điều luật riêng như: Điều 156. Tội sản xuất
buôn bán hàng giả, Điều 157. Tội sản xuất buôn bán hàng giả là lương thực,
thực phẩm, thuốc chữa bệnh phòng bệnh; Điều 158. Tội sản xuất, buôn bán
hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bán, thuốc thú y, thuốc bảo vệ
thực vật, giống cây trồng vật nuôi và Điều171. Tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp. Việc tách ra như vậy là hoàn toàn phù hợp vì mỗi loại hàng giả
khác nhau có những tác hại và tác động đến các đối tượng khác nhau. Từ đó
trách nhiệm hình sự được áp dụng một cách đúng đắn hơn. Điều 156 quy định

Nhưng trước khi đi tìm hiểu những vấn đề trờn thỡ ta phải định nghĩa thế
nào là “tội sản xuất, buôn bán hàng giả”. Điều 156, 157, 158 không đưa ra
định nghĩa này, nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta có thể xây
dựng lên một định nghĩa về tội phạm này trên cơ sở của định nghĩa tội phạm
tại khoản 2 điều 8, Do đó:
“Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi làm ra, mua đi bán lại hàng
giả, do người có năng lực trỏch nhiờm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm
phạm đến trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất ổn định thị trường,
xâm hại lợi ích người tiờu dựng”
2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất buôn bán hàng giả:
Tội phạm được cấu thành bởi bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, mặt
khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm.
Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả thì bốn yếu tố này được thể hiện như
sau:
2.1.1 Khách thể của tội sản xuất buôn bán hàng giả :
24
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
và bị tội phạm xâm hại. Khách thể của từng tội phạm cụ thể (khách thể trực
tiếp của tội phạm) là nhưng quan hệ xã hội cụ thể được quy phạm pháp luật
hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại trực tiếp của một tội phạm cụ thể.
Khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là những quan hệ
xã hội trong lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa, lưu thông, phân phối
hàng hóa trên thị trường và đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.
Đối tượng của tội sản xuất và buôn bán hàng giả là các loại hàng giả. Vậy
hàng giả là gì? Và tại sao sản xuất buôn bán hàng giả lại xâm hại đến mối
quan hệ XH nêu trên.
Theo quan niệm chung thì hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được
sản xuất trái pháp luật có như những sản phẩm, hàng hóa được nhà nước cho
phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ thị trường hoặc những sản phẩm, hàng
hóa không có giá trị sử dụng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, công

buộc).
2. Giả về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng
hóa:
2.1 Hàng hóa có nhãn hiệu hàng hóa trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn
với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đang được bảo hộ cho cùng loại
hàng hóa kể cả nhãn hiệu hàng hóa đang được bảo hộ theo các điều ước
quốc tế mà Việt Nam tham gia, mà không được phép của chủ nhãn hiệu.
2.2 Hàng hóa có dấu hiệu hoặc bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự
gây nhầm lẫm với tên thương mại được bảo hộ hoặc với tên xuất xứ hàng
hóa được bảo hộ.
2.3 Hàng hóa, bộ phận của hàng hóa có hình dáng bên ngoài trùng với
kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểu
dáng công nghiệp.
26
2.4 Hàng hóa có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng
hóa gây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi đóng gói, lắp ráp
hàng hóa.
3.Giả về nhãn hàng hóa :
3.1 Hàng hóa cú nhón hàng hóa giống hệt hoặc tương tự với nhãn hàng
hóa của cơ sơ khỏc đó công bố.
3.2 Những chỉ tiêu ghi trờn nhón hàng hóa không phù hợp với chất lượng
hàng hóa nhằm lừa dối người tiêu dùng.
3.3 Nội dung ghi trờn nhón bị cạo, tẩy xóa, sửa đổi ghi không đúng thời
hạn sử dụng để lừa dối khách hàng.
4.Các ấn phẩm hàng hóa đã in sử dụng vào viờc sản xuất, tiêu thụ hàng
giả;
4.1 Các loại đề can, tem sản phẩm, nhãn hàng hóa, mẫu nhãn hiệu hàng
hóa, bao bì sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như: trùng hoặc tương tự gây
nhầm lẫn với nhãn hàng hóa cùng loại, với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng
công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ.

quan điểm khác nhau:
Có quan điểm cho rằng đây là hàng giả dự cú hay không có giá trị sử
dụng, thì hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả này thỏa mãn các cấu thành tội
phạm quy định tại điều 156, 157, 158 Bộ luật hình sự thì đều bị phải định tội
theo các điều này.
Có quan điểm khác lại coi loại hàng giả này là hàng hóa vi phạm quyền
sở hữu công nghiệp là đối tượng của tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp quy định tại Điều 171 BLHS vì hành vi sản xuất, mua bán hàng giả
này là sử dụng trái phép kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa của cơ
sở khác.
Vậy loại hàng hóa về hình thức là đối tượng của Điều 156, 157, 158 là
loại hàng giả như thế nào? Theo quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu
trí tuệ, cũng như quy định của các ĐƯQT về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam ký
28
kết hoặc tham gia, thì nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn
gốc, xuất xứ, chỉ dẫn địa lý là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Và
việc bảo hộ của Nhà Nước đối với quyền của sở hữu công nghiệp là thông
qua văn bằng bảo hộ. Quy định này có nghĩa là muốn được nhà nước bảo hộ
quyền của mình đối với sáng chế, giải pháp hữu ích nhãn hiệu hàng hóa,
kiều dáng công nghiệp… thì phải đăng ký cơ quan quản lý nhà nước về sở
hữu công nghiệp và được cấp văn băng bảo hộ. Theo luật Tư Pháp Quốc tế
thì quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ mà nó
đăng ký bảo hộ và được cấp văn bằng bảo hộ. Căn cứ theo quy định trên của
pháp luật thì hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là loại hàng hóa
mang nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất sứ của cơ
sở sản xuất khác đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc có văn
bản bảo hộ những loại hàng hóa này là đối tượng của điều 171 BLHS. Còn
loại hàng giả về hình thức là đổi tượng của điều 156,157,158 BLHS là loại
hàng hóa về nhãn hiệu, kiểu dỏng cụng nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ… của cơ
sơ sản xuất khác chưa đăng ký bảo hộ quyên sở hữu công nghiệp hoặc

với hàng kém chất lượng ở chỗ: hàng giả không có giá trị sử dụng hoặc có
giá trị sử dụng nhưng thấp hơn “mức chất lượng tối thiểu” còn hàng kém
chất lượng là có giá trị sử dụng nhưng giá trị sử dụng của hàng hóa này là
trên “ mức chất lượng tối thiểu” đã công bố. Theo quy định này, thì mức
chất lượng tổi thiểu của hàng hóa đươc quy định tại các danh mục các loại
hang hóa phải đạt chất lượng bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành và mức chất lượng tổi thiều do cơ sở sản xuất công bố đối với sản
phẩm của mình. Hàng giả cũn khỏc hàng kém chất lượng ở chỗ, việc sử
dụng hàng giả có thể dẫn đến những tổn hại về sức khỏe, tính mạng sức
khỏe con người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường. Còn hàng
kém chất lượng thỡ khụng gây hại đến sức khỏe người, động vật, thực vật
hoặc môi sinh, môi trường.
30
Hiện nay, trên thị trường hàng hóa rất đa dạng với rất nhiều chủng loại.
Hàng giả cũng như vậy nó rất đa dạng từ hang hóa làm giả đồ sản xuất trong
nước đến những hàng hóa nhập khẩu, từ những đồ dùng vật dụng thông
thường đến những hàng hóa cao cấp như chai nước khoáng, đồ điện tử, đồng
hồ đeo tay, nước hoa…
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể khái quát như sau:
“Hàng giả là tất cả những loại hàng hóa từ thông thường đến cao cấp
được sản xuất trái pháp luật, có hình dỏng bờn ngoài giống như những sản
phẩm, hàng hóa được nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu, tiêu thụ trên
thị trường không đủ tiêu chuẩn chất lượng của nhà nươc; hoặc những sản
phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng nguồn gốc bản chất tự nhiên
tên gọi và công dụng của nó nhằm lừa dối người tiêu dùng với mục đích
cạnh tranh không lành mạnh và thu lợi bất chính”.
Hiên nay, Đảng và nhà nước ta đang chủ trương phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, cho nên nền sản xuất hàng hóa có một ý nghĩa
quyết định đến sự phát triển này. Chúng ta không chỉ cần sản xuất ra nhiều
hàng hóa mà chất lượng của những loại hàng đú cũn phải đáp ứng được yêu

Hàng giả là các loại thức ăn dùng để chăn nuôi, phõn bón, thuốc thú y,
thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, nước ta hiên nay vẫn là một
nước nông nghiệp việc sản xuất nông nghiệp vẫn được coi là chủ chốt của
nền kinh tế cho nên việc sản xuất, buôn bán những loai hàng giả trên gây
thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng thu nhập của người nông dân,
đe dọa an ninh lương thực của quốc gia, ành hưởng tới môi trường, môi sinh
…thờm vào đó những loại hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y,
giống cây trồng, vật nuôi không những giả mà còn có thể mang trong nó
những chất độc hại, khi con người sử dụng chúng những chất độc nay tích
trữ trong cơ thể con người gõy bờnh.
32
Ví dụ : phân bón được làm từ cát, muối, bột màu trộn đều và đóng bao
giả hiệu phõn lân, kali…không có tác dụng bón cho cây mà còn có thể gây
bạc màu cho đất. Giống ngô giả khi trồng có bắp mà không có hạt ….
Hàng giả là các loai hàng hóa khác (trừ những loại hàng đã nêu trên).
Những mặt hàng này có nguy cơ gây thiệt hai trực tiếp cho con người về sức
khỏe là không nhiều nhưng thiệt hại mà nó gây ra cho nền sản xuõt hàng hóa
và tài chính của nhà sản xuất là không nhỏ.
Ví dụ: Đồng hồ Thụy Sỹ giả được bán nhiều hơn là đồng hồ thật, 40 triệu
chiếc giả so với 26 triệu chiếc đồng hồ thật. Hay 10% tổng số sản phẩm
công nghệ cao đang bày bỏn trờn toàn thế giới là hàng giả- nhà sản xuất
thiờt hại về doanh thu mỗi năm lên tới 100 tỷ USD. Dây điện giả không đạt
chất lượng khi sử dụng có thể mát và hở điện khi có người chạm vào có thể
gây ra điện giật dẫn đến chết người.
Do vậy, hàng giả và buôn bán hàng giả cần phải được ngăn chặn và xử lý
nghiêm minh để bảo vệ những quan hệ xã hội trên.
2.1.2 Mặt khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Bất kỳ một tội phạm nào khi xảy ta cũng đều có những biểu hiện diễn ra
hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được nó như:
hành vi, hậu quả cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi va hậu quả, các điều

qua nhiều khâu khác nhau của một quá trình sản xuất, được thực hiện theo
một quy trình từ nguyên liệu đến sản phẩm. Sản xuất hàng giả như vậy, việc
sản xuất hàng giả là việc tạo ra hàng giả trong đó cũng có sự phân công lao
động ra cỏc khõu của quá trình sản xuất, hàng giả làm ra phải trải qua cỏc
khõu đú. Do vậy để sản xuất phải có từ hai người trở lên hoặc phải có máy
móc và trang thiết bị kỹ thuật số lượng hàng giả làm ra là tương đối nhiều.
Còn việc “làm” hàng giả là tạo ra sản phẩm giả trên cơ sở bắt chước kiểu
dáng, tính năng của một loại hàng hóa nào đó, người làm hàng giả làm ta nó
theo phương pháp thủ công, không có quy trình kỹ thuật nhất định nào, số
lượng hàng giả làm ra là không nhiều. Việc Điều 156, 157,158 quy định như
34
vậy có tính hợp lý hơn rất nhiều, do mục đích của tội phạm là hàng giả làm
ra để lừa dối khách hàng nhằm thu lợi bất chính. Với mục đích như vậy mà
sử dụng thuật ngữ “làm” để chỉ hành vi khách quan của tội phạm này có thể
dẫn đến nhầm lẫn với hành vi khách quan của tội phạm khác hoặc cũng có
thể là hành vi khác mà không phải tội phạm. Cụ thể là: nếu một người làm ta
một sản phẩm được coi là hàng giả, người này đem bán cho người khác nói
dối về chất lượng của sản phẩm hay tên gọi của sản phẩm đó để thu tiền “từ
500 nghìn đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 500 nghìn đồng nhưng
gây hậu quả nghiờm trọng” thì người đó phạm tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản theo quy định tại Điều 139 BLHS. Nhưng nếu người đó chỉ làm ra sản
phẩm giả đó để sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình
mỡnh thỡ người đó không được coi là hành vi làm hàng giả và không vi
pham pháp luật.
Do vậy việc sử dụng thuật ngữ “sản xuất” để thực hiện hành vi khách
quan của tội sản xuất hàng giả là chính xác và khụng gõy nhầm lẫn.
Hành vi buôn bán hàng giả là hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác
để mua đi, bán lại những hàng hóa mà biết là hàng giả để thu lợi bất chính.
Có thể thấy các hành vi khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
đều được thể hiện dưới dạng hành động. Người phạm tội phải tiến hành một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status