PHẦN I. LỜI NÓI ĐẦU
Trộm cắp tài sản trong giai đoạn hiện nay là một trong những vấn đề gây bức
xúc trong xã hội, tình hình phạm tội và số người không những không giảm mà
có chiều hướng ngày càng tăng và phức tạp. Cùng với sự pháp triển của nền
kinh tế đất nước, tỉnh Hưng Yên nói chung và huyện Kim Động nói riêng đã gặt
hái được những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực; ví dụ: vấn đề công ăn việc
làm đã được khắc phục, thu nhập bình quân trên đầu người tăng, đời sống của
nhân dân được cải thiện và đảm bảo hơn trước…Tuy nhiên bên cạnh sự phát
triển của nền kinh tế trên địa bàn huyện, thì những tệ nạn xã hội cũng xuất hiện
rất nhiều, nhất là sự tha hoá về đạo đức, lối sống buông thả thiếu trách nhiệm và
ăn sẵn của một số bộ phận thanh niên. Đứng trước tình hình phạm tội trên, đã
đặt ra rất nhiều vấn đề cho chính quyền và nhân dân huyện phải làm gì và làm
như thế nào để loại trừ những hành vi phạm tội ra khỏi đời sống xã hội và giữ
gìn trật tự kỷ cương. Do vậy để có thể giải quyết những vấn đề trên các cơ quan
chức năng trên địa bàn huyện cần phải nghiên cứu, xem xét đặc điểm hành vi
của từng đối tượng phạm tội, nắm rõ tính chất của tội phạm…để đề ra những
giải pháp đấu tranh, phòng ngừa thật phù hợp nhằm hạn chế một cách tốt nhất
tình hình phạm tội. Tuy nhiên từ thực tiễn xét xử các vụ án phạm tội “trộm cắp
tài sản” xảy ra trên địa bàn huyện Kim Động nói riêng và công tác phòng chống
loại tội phạm này nói chung, còn tồn tại một số vấn đề cần xem xét, giải quyết
để đảm bảo nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật, giữ vững an ninh trật tự
trên địa bàn huyện giúp nhân dân tập trung vào lao động sản xuất.
Từ những vấn đề đã nêu, nhận thấy vai trò, tính cấp thiết và tầm quan trọng
của đề tài trong thực tiễn xét xử tại TAND (Toà án nhân dân) huyện Kim Động,
với những kiến thức được trang bị ở trường, cùng những đặc điểm tại cơ quan
nơi em thực tập nên em đã chọn đề tài số 13 môn Luật hình sự: “Tội trộm cắp tài
sản và thực tiễn xét xử tội phạm này tại địa phương nơi sinh viên thực tập” làm
nội dung cho báo cáo tổng kết thực tập cuối khoá của mình.
Mặc dù đã được tranh bị kiến thức tại trường nhưng do trình độ và kinh
nghiệm thực tế còn chưa hoàn chỉnh vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót
trong bài viết. Kính mong các thầy cô giúp đỡ để báo cáo cuối khoá sau bốn
chuyên đề thực tập của mình, em đã sử dụng một số phương pháp cơ bản như:
Nghiên cứu lý thuyết; thống kê; phân tích; tổng hợp và một số phương pháp
khác nhằm bổ sung và hoàn thiện hơn, bao quát và khách quan hơn cho vấn đề
em muốn đề cập.
2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Với lượng thời gían không nhiều; tầm một tháng em tập trung vào nghiên cứu
hồ sơ vụ án “trộm cắp tài sản” đã có hiệu lực, xem xét báo cáo tổng kết các năm,
báo cáo thi đua của ngành toà án các năm 2007, năm 2008, năm 2009 để từ đó
có được những số liệu sát với thực tế và nắm bắt được tình hình tội phạm trên
địa bàn huyện Kim Động.
2.2 Phương pháp thống kê.
Thống kê là công cụ, phương tiện chủ yếu để chúng ta tìm hiểu cụ thể về tình
hình tội phạm, nó cung cấp cho chúng ta những số liệu cụ thể về hành vi phạm
tội, người phạm tội và những số liệu khác có liên quan và công tác đấu tranh,
phòng chống tội phạm trong xã hội để tổng hợp thành lý luận có tính áp dụng
chung.
Phương pháp thống kê trong vấn đề tội phạm được sử dụng vào việc đánh giá
thực trạng, mức độ, cơ cấu, diễn biến tội phạm, phân tích làm rõ nguyên nhân và
điều kiện làm phát sinh tội phạm, các đặc điểm xã hội, nhân thân người phạm
tội, xác định quy luật vận động phát triển của tội phạm để từ đó dự báo tội
phạm, soạn thảo những biện pháp phòng chống tội phạm trong những năm tiếp
theo.
Như chúng ta đã biết phương pháp lý thuyết giúp ta rút ra được những hành vi,
đối tượng, tính chất…của từng vụ án trộm cắp tài sản và trên cơ sở đó tiến hành
thống kê một cách cụ thể từng vụ việc, vụ án một cách rõ ràng. Để từ đó tiến
hành phân loại thành từng nhóm như: thời gian, không gian phạm tội, đặc điểm
phạm tội, phương pháp và cách thức phạm tội, công cụ phương tiện phạm tội,
khách thể của tội phạm, lý do phạm tội, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội, khuynh hướng của tội phạm….
Thông kê là phương pháp giúp em nhận biết rõ diễn biến và tính chất của từng
Đặc điểm của các bị cáo: Cán bộ công nhân viên chức không có, tái phạm nguy
hiểm không, nghiện ma tuý có: 03 bị cáo; nữ không có. Độ tuổi: trong 17 bị cáo
thì tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 là 0 bị cáo ; từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là 03 bị
cáo; từ 18 tuổi đến 30 tuổi có 10 bị cáo và trên 30 có 4 bị cáo.
Đối với năm 2008 ( từ ngày 01/10/2007 đến 30/09/2008).
Toà án đã thụ lý mới tổng 37 vụ với 49 bị cáo, trong đó Trộm cắp tài sản là
18 vụ với 25 bị cáo. Toà đã giải quyết đủ số vụ trên.
- Trả hồ sơ Viện Kiểm Sát là không vụ, xét xử lưu động là 06 vụ.
- Về mức hình phạt áp dụng với tội Trộm cắp tài sản: chủ yếu là tù dưới 3 năm;
trong đó: 16 bị cáo bị phạt tù dưới 3 năm; 09 bị cáo xử án treo; tù trên 3 năm: 0
có bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: không có.
Đặc điểm các bị cáo: Cán bộ công nhân viên chức không có, tái phạm nguy
hiểm không, nghiện ma tuý có 02 bị cáo, nữ có 01 bị cáo, người nước ngoài
không có bị cáo. Độ tuổi từ 14 đến dưới 16 không có, từ đủ 16 đến dưới 18: 09
bị cáo, từ đủ 18 đến 30: 08 bị cáo, Từ 30 tuổi trở nên: 08 bị cáo.
Đối với năm 2009 (Từ 1/10/2008 đến 30/9/2009)
Toà án đã thụ lý mới 46 vụ với 90 bị cáo, trong đó tội Trộm cắp tài sản là 11
vụ, với 15 bị cáo. Toà án đã giải quyết đủ số vụ án trên
- Trả hồ sơ cho Viện Kiểm Sát là không vụ, xét xử lưu động 04 vụ
- Về hình phạt áp dụng đối với tội trộm cắp tài sản: chủ yếu là hình phạt tù
dưới 03 năm, trong đó 09 bị cáo bị phạt tù dưới 3 năm, bị cáo phạt tù trên 3
năm: 01 bị cáo, án treo là 05 bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: không có.
Đặc điểm của các bị cáo: Cán bộ công nhân viên chức không có, tái phạm nguy
hiểm không có, nghiện ma tuý không, nữ không có, người nước ngoài không.
Độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 không có, từ đủ 16 đến dưới 18 có 03 bị cáo, từ 18
dến 30 có 09 bị cáo, trên 30 tuổi có 03 bị cáo. Có 01 vụ án có người báo chữa.
Nhận xét: Quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin là một quá trình quan trọng
đối với công việc nghiên cứu, xem xét vấn đề tình hình tội phạm Trộm cắp tài
đó cuộc sống nhân dân được cải thiện rất nhiều.
Kim Động có một số điều kiện thuận lợi sau:
+) Có 11Km quốc lộ 39A rải nhựa chạy dọc huyện và 2Km đường 38 rải nhựa
do TW quản lý. Các tuyến đường do tỉnh quản lý: đường 205 dài 9km; đường
195 (trên mặt đê sông Hồng) dài 11Km đều rải nhựa. Đường Huyện quản lý
gồm đường 38B dài 4Km rải nhựa; đường 61 dài 5Km rải nhựa và đã cấp phối.
Đường 208 dài 9Km rải nhưạ. Về đường thuỷ có 55Km trên các tuyến sông Kim
Ngưu, Cửa An, Điện Biên có khả năng cho thuyền, xà lan có tải trọng 100 tấn
qua lại.
+) Hiện nay trên địa bàn huyện có tương đối nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ
đang hoạt động, tạo việc làm cho rất nhiều lao động trên địa bàn huyện và các xã
của huyện lân cận.
+) Đất đai của huyện nhìn chung rất màu mỡ bởi được bồi đắp lắng tụ của phù
sa sông Hồng, phù hợp với giống lúa cao sản, cây thực phẩm, cây ăn quả đặc sản
và thu hút các dự án đầu tư phát triển công nghiệp.
+) Huyện có tiềm năng du lịch sinh thái, 2 xã Phú Cường và Hùng Cường và
thôn Văn Nghệ xã Mai Động là những xã nổi trên sông Hồng, đất đai màu mỡ
cây cối trù phú có tiềm năng du lịch sinh thái nhưng chưa được khai thác.
- Với điều kiện như vậy huyện Kim Động có đầy đủ điều kiện giữ vững an ninh
trật tự, phát huy tiềm năng về đất đai cùng các nguồn lực khác, tạo điều kiện
phát triển KT-XH, hoà nhập vào kinh tế thị trường, phát triển CNH-HĐH các
nghành thương mại du lịch.
- Bên cạnh những thuận lợi đó huyện Kim Động đang phải đối mặt với nhiều
khó khăn thử thách đó là:
+) Tỉ lệ thất nghiệp cao do xây dựng nhiều nhà máy xí nghiệp nên người dân
không còn ruộng để làm mặt khác điều kiện tuyển lao động lại chặt chẽ nên lao
động ở tuổi trung niên thất nghiệp nhiều.
+) Sự hiểu biết về pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế
+) Phần lớn thanh niên hiện nay quen lối sống ăn sẵn lười lao động sẵn sàng tìm
mọi cách kiếm tiền tiêu xài kể cả cướp, giết người…..
thực hiện đơn lẻ đến những vụ trộm có tổ chức, có giá trị lớn như trộm cắp xe
máy, tiền – vàng bạc…
Bảng 02
Toà án thụ lý mới
Vụ Án Bị cáo
2007 34 50
2008 37 49
2009 46 90
Tổng số các vụ án về tội trộm cắp tài sản của TAND huyện Kim Động từ năm
2007 đến 2009.
2.1 Nguyên nhân phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Kim Động.
Nguyên nhân của tình hình phạm tội nói chung là tổng hợp những ảnh hưởng
và quá trình xã hội, xác định tình hình tội phạm là hậu quả của chúng hay hiểu
cách khác chúng luôn mang nguồn gốc và bản chất xã hội gắn bó chặt chẽ với
các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và con người của từng thời kỳ.
Nghiên cứu nguyên nhân của tình hình phạm tội có ý nghĩa quan trọng đối với
việc phòng chống tội phạm có hiệu quả.
Từ thực tiễn ta thấy nguyên nhân dẫn tới tình hình phạm tội “trộm cắp tài sản”
là rất nhiều trong phạm vi của đề tài. Em có chỉ thể đi sâu vào tìm hiểu, trình
bày một số nguyên nhân cơ bản chủ yếu sau đây:
2.1.1. Nguyên nhân về kinh tế.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước và của
tỉnh Hưng Yên thì huyện Kim Động đã có những bước phát triển đáng kể về
KT-XH chính trị. Đặc biệt là kinh tế đang phát triển với nhịp độ khá nhanh và
Toà án thụ lý mới
Vụ Án Bị cáo
2007 14 17
2008 18 25
2009 11 15
hiệu quả đã có sự đầu tư đúng đắn, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư