Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

MAI THỊ LAN Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình
sự Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI, 2008

luật Hình sự Việt Nam.
32
1.3.1.
Khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
36
1.3.2.
Mặt khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
38
1.3.3
Chủ thể của tội phạm
39
1.3.4.
Mặt chủ quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
41
1.4.

Trách nhiệm hình sự đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở
Việt Nam hiện nay
43
1.4.1.

Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội sản xuất, buôn bán
hàng giả theo quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS năm 1999
45
1.4.2.

Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội sản xuất, buôn bán
hàng giả thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 156
Bộ luật Hình sự năm 1999
46

Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
66
3.2.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định
của Bộ luật Hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
73
3.2.1.
Nâng cao hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật
75
3.2.2.

Nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng những quy định của pháp
luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả của các cơ quan
bảo vệ pháp luật
78
3.2.2.1
Tòa án nhân dân
78
3.2.2.2.
Viện kiểm sát nhân dân
80
3.2.2.3.
Cơ quan điều tra
82
3.3.
Nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
83
3.4.
Đối với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh

trường phát sinh, phát triển, trong đó có tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Sản
xuất, buôn bán hàng giả có mặt ở khắp nơi trên thị trường nhưng khâu xử lý
kết quả còn ở mức độ nhất định. Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển
kinh tế, tình hình tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như buôn lậu, kinh
doanh trái phép, trốn thuế, quảng cáo gian dối, và sản xuất, buôn bán hàng
giả, … phát triển và diễn biến phức tạp, nhiều vụ án xảy ra, nhiều vụ án đặc
biệt nghiêm trọng, gây hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng tới sự phát triển
của nền kinh tế, tới sức khỏe và đời sống của nhân dân. 4
Sản xuất, buôn bán hàng giả là một lực cản lớn đối với sự phát triển
kinh tế của nước ta. Nhưng để đấu tranh, phòng chống tội phạm sản xuất,
buôn bán hàng giả sẽ thực hiện như thế nào? Cơ sở lý luận về hình sự hoá,
khái niệm hàng giả, quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong Luật Hình
sự như thế nào và việc nhận thức về hàng giả trong thực tiễn ra sao, cũng như
chúng ta cần có những biện pháp nào để phòng, chống tội sản xuất, buôn bàn
hàng giả có hiệu quả? Về mặt lý luận, xung quanh tội sản xuất, buôn bán hàng
giả, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Có thể thấy trong những năm qua, nhất là từ năm 2000 trở lại đây, các
cơ quan bảo vệ pháp luật đã tích cực tổ chức điều tra, khám phá và xử lý kịp
thời nhiều vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả. Song do nhiều nguyên nhân
khác nhau mà tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn không
giảm, thậm chí còn tăng đến chóng mặt, gây ra nhiều thiệt hại cho các đơn vị
kinh tế, doanh nghiệp và nhân dân. Một số vụ gây hoang mang trong tư tưởng
quần chúng nhân dân, tác động đến sự phát triển của nền kinh tế, đời sống
nhân dân, từ đó ảnh hưởng đến sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Bên cạnh đó, các biện pháp đấu tranh, phòng chống cũng như quá trình
điều tra khám phá loại tội này còn nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp cần
thiết giữa các lực lượng thực thi pháp luật, sự hỗ trợ của người tiêu dùng, của

sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam” làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Phòng, chống tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và
tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng đã được quy định trong Bộ luật Hình
sự và được một số nhà luật học đề cập một cách khái quát về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả như Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của
Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 1997; Giáo
trình luật hình sự Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, 1998; Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học 6
Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2000; Giáo trình luật hình sự Việt Nam
(Phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, 2002; Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (Phần các
tội phạm) của TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS. ThS. Phạm Thanh
Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này
mới chỉ dừng lại ở một phạm vi hẹp, chưa đề cập một cách trực tiếp, tổng thể
và phương hướng hoàn thiện loại tội phạm này.
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn chưa được quan tâm đúng mức,
các nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả thường mới chỉ đề cập, tập
trung nghiên cứu chung với các tội phạm khác liên quan đến các đối tượng
hàng giả cụ thể đã được quy định tại các điều luật cụ thể khác hoặc từ góc độ
khác. Cho đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn
được giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả khi xử lý
tội phạm. Vì vậy, cần phải nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng giả tương
đối có hệ thống, toàn diện từ góc độ lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đề ra
phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội sản

Luận văn cũng đi sâu nghiên cứu tình hình thực tiễn, những quy định của
pháp luật hình sự đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm làm rõ các dấu
hiệu pháp lý và những nội dung cần nghiên cứu về mặt lý luận trên lĩnh vực
này nhằm phục vụ tốt hơn cho việc xác định tội phạm sản xuất, buôn bán
hàng giả, cho cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm trong nền kinh tế thị
trường.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân, và về xây dựng pháp luật 8
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Để phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ và mục đích của đề tài, luận văn
sử dụng một cách linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, lôgíc, kết hợp với các
phương pháp khác như so sánh pháp luật, điều tra xã hội.
6. Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
Qua kết quả nghiên cứu và phân tích, đánh giá tình hình tội phạm đối
với tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tác giả đã chỉ ra những vướng mắc, bất
cập, định hướng,… trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này.
Đồng thời, đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả đạt được của luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc
góp phần nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình

1.1 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ VÀ SỰ ẢNH
HƢỞNG CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta bắt đầu thực hiện chiến lược đổi
mới và mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
“Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ,
vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng
bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, “tăng
trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những
vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống
của nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc
cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau” [ 1 ]. Với mục tiêu xây
dựng, phát triển đó, Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những kết quả về tăng
trưởng sản xuất, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và toàn xã hội
bằng cách cung cấp một lượng hàng hoá nhiều về số lượng, chủng loại, nhãn
hiệu và kiểu dáng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, chúng ta cũng phải
đương đầu với những mặt trái của nền kinh tế này, trong đó có nạn sản xuất,
buôn bán hàng giả. Hàng giả được sản xuất giống như hàng thật về mọi mặt
(giả về nội dung, giả về hình thức hoặc giả cả về nội dung lẫn hình thức)
khiến cho người tiêu dùng rất khó phân biệt. Hàng giả ngày càng xuất hiện
tràn lan trên thị trường làm ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân, đến trật tự
xã hội, an ninh quốc phòng, các công ty kinh doanh hợp pháp và đến lòng tin
đối với người tiêu dùng. 11
Vì vậy, nếu cứ để tình trạng hàng giả và hoạt động sản xuất, buôn bán
hàng giả xuất hiện tràn lan trên thị trường mà không có các biện pháp xử lý
hữu hiệu sẽ ảnh hưởng đến nhiều mặt về đời sống, kinh tế, an ninh, chính trị,
lòng tin của người tiêu dùng, của doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý

phiền phức, mất thời gian, công sức để chứng minh. Còn vấn đề trách nhiệm
pháp lý? Trong phạm vi chức năng của mình, các tổ chức xã hội như Hội bảo
vệ người tiêu dùng chỉ có thể xử lý theo hình thức hoà giải, yêu cầu người bán
hàng đổi sản phẩm thật cho người tiêu dùng. Các cơ quan chức năng như
Quản lý thị trường, Công an kinh tế chỉ chủ yếu xử phạt hành chính nhưng
khung hình phạt quá thấp so với khoản lợi bất chính nên không có tác dụng
răn đe đối với những người sản xuất và kinh doanh hàng giả.
Để sản xuất các loại hàng hoá, các cơ sở sản xuất hoặc doanh nghiệp
sản xuất phải sử dụng nguyên liệu để tiến hành sản xuất. Nhưng các nguyên
liệu dùng để sản xuất đó lại là hàng giả nên hàng hoá được làm ra đó sẽ là
hàng kém chất lượng hoặc có khi không có giá trị sử dụng ảnh hưởng đến sự
phát triển cả nền kinh tế, xã hội của đất nước, sức khoẻ của người tiêu dùng.
Nguy hiểm nhất là các loại thực phẩm, mỹ phẩm giả vì chúng gây hại trực
tiếp đến sức khoẻ con người. Ví dụ: Một số loại mỹ phẩm như dầu gội đầu,
kem dưỡng da, phấn son được làm giả và bán ra thị trường. Khi người tiêu
dùng mua về dùng thị bị dụng tóc, nấm đầu hoặc gây ra dị ứng da, nổi mụn,
có những trường hợp dẫn đến gây tử vong,….
Hay đối với các công trình xây dựng, khi xây dựng các công trình xây
dựng các đơn vị cung ứng vật tư hoặc các đơn vị thi công sử dụng các sản
phẩm vật liệu xây dựng được làm giả để xây lên các công trình xây dựng như
xi măng, sắt, thép,… các vật liệu làm giả đó kém chất lượng ảnh hưởng trực
tiếp đến công trình xây dựng, giảm chất lượng công trình, làm rạn nứt và
nguy hại hơn là công trình bị sụp đổ gây nguy hiểm đến tính mạng của nhiều
người và làm thiệt hại đến nền kinh tế quốc dân. 13
Hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả còn là một trong những
nguyên nhân gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân. Nó trở thành hiểm họa cho các doanh nghiệp làm ăn

chức kinh tế như Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và sau hơn 11 năm đàm phán,
ngày 07 tháng 11 năm 2006, tại Geneva, Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) đã chính thức thông qua việc Việt Nam gia nhập và trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức này. Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ tạo ra những
cơ hội mới thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành sản xuất, các ngành xuất
khẩu và đầu tư nước ngoài. Sự kiện này cũng đưa nước ta trước sự cạnh tranh
quyết liệt toàn cầu, tạo nên áp lực buộc Việt Nam phải cải cách nhanh, mạnh
hơn nữa để tận dụng triệt để những lợi ích của việc gia nhập WTO. Chính vì
vậy, nếu chúng ta không có những biện pháp tích cực phòng chống hàng giả
thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến các ngành sản xuất trong nước, sự đầu tư của
nước ngoài vào Việt Nam, đến sự hội nhập trong khu vực và quốc tế của Việt
Nam.
1.2 KHÁI NIỆM HÀNG GIẢ; TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.2.1 Khái niệm hàng giả
Dưới góc độ kinh tế, hàng hoá và sản xuất hàng hoá gắn liền với hoạt
động kinh doanh, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình
kinh doanh như: phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm
mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu. Việc sản xuất
hàng hóa là bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, đồng
thời nó cũng phù hợp với xu thế vận động của quá trình hoạt động kinh
doanh. Qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội lượng hàng hoá sản xuất
ngày một nhiều và đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của xã hội.
Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, sản phẩm được hiểu là kết quả của
các quá trình hoạt động kinh tế mà với những thuộc tính của nó thoả mãn 15
được nhu cầu nào đó của con người và mang lại các lợi ích kinh tế - xã hội

dụng của nó. Chính vì vậy, các sản phẩm, hàng hóa giả đã mượn tên của sản
phẩm, hàng hóa thật, nó đã không trung thực trong việc gắn tên sản phẩm với
công dụng vốn dĩ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận và
công chúng chấp nhận (tên gọi xuất xứ, vị trí địa lý của hàng hóa) với mục
đích lừa dối người tiêu dùng. Xác định vấn đề này còn có ý nghĩa trong việc
phản bác một số quan niệm nhầm lẫn giữa tên sản phẩm, hàng hóa với bản
chất của nó. Rõ ràng không thể nhầm lẫn các thuật ngữ “răng giả”, “chân, tay
giả”, “tóc giả ” là hàng giả với tư cách đó là tên sản phẩm, hàng hoá.
Mặt khác, một vật phẩm được coi là hàng hoá theo đúng nghĩa thì nó
phải thoả mãn nhu cầu của con người, phải có ích và phải nhằm mục đích trao
đổi thông qua mua bán trên thị trường. Sự thoả mãn nhu cầu của con người
hay tính có ích của một sản phẩn, hàng hóa được quyết định bởi hai thuộc tính
của hàng hoá đó là giá trị và giá trị sử dụng. Hai thuộc tính này do tính hai
mặt của lao động kết tinh trong hàng hoá quyết định.
Nói tới giá trị sử dụng là nói nên tính có ích, khả năng thoả mãn nhu
cầu nào đó của con người đối với sản phẩm, hàng hoá với tư cách là sản
phẩm, hàng hóa tiêu dùng hay tư liệu sản xuất. Trong thị trường cạnh tranh,
giá trị sử dụng được quyết định bởi cả những thuộc tính công dụng và thuộc
tính được thụ cảm của sản phẩm. Thuộc tính công dụng chỉ ra công dụng đích
thực của sản phẩm do các tính chất vật lý, hoá học, sinh học bằng sự lao động
có ích của con người tạo nên. Bên cạnh thuộc tính công dụng thì “chất lượng
nằm trong con mắt và túi tiền của người mua”, tức là người ta còn quan tâm
đến hình thức, sự sang trọng, mốt tiêu dùng, uy tín của nhà sản xuất, phương
thức phân phối, chế độ bảo hành Đó là các thuộc tính thụ cảm của sản
phẩm, hàng hóa. Ví dụ, khi sử dụng một chiếc đồng hồ Thuỵ Sỹ là hàng thật
rất đắt tiền, người ta không chỉ để xem giờ mà còn hãnh diện khi sở hữu sản
phẩm hàng hiệu nổi tiếng và uy tín, Với phân tích như vậy, chúng ta có thể
nhận thấy nhu cầu được sử dụng hàng thật với các công dụng đích thực của

18
dụng như công dụng vốn có của sản phẩm, dưới mức tiêu chuẩn tối thiểu theo
quy định của nhà nước, gây hại cho sức khoẻ, tính mạng của con người, đến
sự an toàn trong sản xuất, huỷ hoại môi sinh, môi trường.
Để làm rõ bản chất của hàng giả ngoài việc xem xét giá trị sử dụng
của hàng hoá chúng ta không thể không nghiên cứu về thuộc tính giá trị của
hàng hoá. Giá trị của hàng hoá là lượng giá trị lao động xã hội đã vật hoá
trong hàng hoá. Trong quá trình trao đổi, người ta không chỉ chú ý đến thuộc
tính có ích của vật phẩm mà họ còn quan tâm đến thuộc tính xã hội của nó, họ
quy các loại lao động cụ thể khác nhau thành lao động trừu tượng. Như vậy,
một mặt giá trị biểu hiện hao phí lao động sản xuất mặt khác nó biểu hiện mối
quan hệ giữa những người sản xuất được ẩn chứa đằng sau những vật phẩm
mà họ đem đi trao đổi. Lượng giá trị của hàng hoá được quyết định bởi số
lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó và được đo bằng thời gian
lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá trong những điều kiện sản
xuất xã hội với trình độ khéo léo và cường độ lao động trung bình. Giá trị của
hàng hoá sẽ quyết định giá cả của hàng hoá khi nó lưu thông trên thị trường.
Điều chúng ta quan tâm ở đây là các sản phẩm, hàng hóa giả được tạo ra
nhưng với lượng lao động hao phí cá biệt thấp hơn rất nhiều lượng hao phí lao
động xã hội cần thiết để sản xuất ra sản phẩm mà nó mang tên. Trong đa số
các trường hợp, hàng giả khi được tung ra thị trường, giá bán của nó lại không
thấp hơn giá bán của hàng thật và nó tạo nên các khoản siêu lợi nhuận cho kẻ
sản xuất, buôn bán nó. Đây chính là nguyên nhân kinh tế cơ bản cho sự tồn tại
của hàng giả. Điều này cũng có ý nghĩa trong việc giải thích hiện tượng có
những hàng giả vẫn được chấp nhận tiêu dùng. Thực tế những hàng giả này
được bán với giá thấp hơn giá hàng thật và lý do người tiêu dùng chấp nhận
nó cũng chủ yếu vì nó rẻ hơn hàng thật. Khi họ chấp nhận tiêu dùng hàng giả
thì đồng thời họ cũng chấp nhận mức đáp ứng nhu cầu của nó cũng như
những khả năng nguy hại trong một mức độ nhất định mà hàng giả có thể gây

Bộ Công an, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường “Hướng dẫn thực hiện 20
Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 21/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu
tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả” thì hàng hoá có một trong các dấu
hiệu dưới đây là hàng giả:
Một là, hàng giả chất lượng hoặc công dụng, bao gồm 05 loại:
+ Hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng
như bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.
+ Hàng hoá được đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử
dụng là thay đổi chất lượng; không có hoặc có ít dược chất, có chứa dược chất
khác với tên dược chất ghi tên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủ
hoạt chất, chất hữu hiệu không đủ gây nên công dụng; có hoạt chất, chất hữu
hiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì.
+ Hàng hoá không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng
những nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng so với tiêu
chuẩn chất lượng hàng hoá đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức
khoẻ của người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
+ Hàng hoá thuộc danh mục Tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không
thực hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khoẻ con người, động vật,
thực vật hoặc môi sinh, môi trường.
+ Hàng hoá chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng
giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hoá bắt
buộc).
Hai là, giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc,
xuất xứ hàng hoá.
+ Giả về nhãn hiệu hàng hóa là: Hàng hoá có nhãn hiệu hàng hoá
trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác
đang được bảo hộ cho cùng loại hàng hoá kể cả nhãn hiệu hàng hoá đang

hàng hoá được bảo hộ. Các loại hoá đơn, chứng chỉ, tem, vé, tiền, ấn phẩm có
giá trị như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hoá giả mạo khác. 22
Như vậy, hàng giả xác định như loại sản phẩm, hàng hoá có những
dấu hiệu giả về hình thức cũng như nội dung so với các sản phẩm, hàng hoá
mà Nhà nước cho phép sản xuất, lưu thông và kinh doanh. Căn cứ vào những
dấu hiệu nêu trên có thể xác định được đâu là hàng giả và là một trong các căn
cứ để định tội.
Tuy nhiên, để xác định hàng giả và hàng không giả nhưng kém chất
lượng là rất khó. Ranh giới giữa hàng giả và hàng kém chất lượng thật khó để
nhận biết, nhiều khi hàng sai về định lượng, hình thức cũng bị gộp vào là
hàng giả. Tình trạng hàng kém chất lượng, không đúng với đăng ký chất
lượng diễn ra công khai không được kiểm tra và xử lý kịp thời. Điều này đòi
hỏi chúng ta phải có quan điểm rõ ràng và có những quy định pháp luật cụ thể
về hàng giả và hàng kém chất lượng. Hàng giả và hàng kém chất lượng là hai
đối tượng hoàn toàn khác nhau, nếu không xác định rõ hàng giả và hàng kém
chất lượng thì khi xác định hành vi vi phạm và hậu quả pháp lý dễ gây ra
nhầm lẫn gây thiệt hại cho những doanh nghiệp, cá nhân làm ăn chân chính,
mục đích trừng trị, răn đe, giáo dục không được đảm bảo thực hiện.
Trước đây, tại Điều 4 Nghị định số 140-HĐBT ngày 25 tháng 04 năm
1991 của Hội đồng Bộ trưởng cũng đã quy định sản phẩm, hàng hoá có một
trong những dấu hiệu dưới đây được coi là hàng giả:
1. Sản phẩm, hàng hoá (kể cả hàng nhập khẩu) có nhãn sản
phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà
không được chủ nhãn đồng ý;
2. Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt
hoặc tương tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với
nhãn hiệu hàng hoá của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký

ràng, thậm chí dùng bao bì, mẫu mã thật nhưng nội dung - chất lượng sản
phẩm - thành phần còn lại khác, không có giá trị sử dụng đúng như loại sản
phẩm mà nó mang tên. Ví dụ: Gas Petrolimex được đối tượng làm giả bằng 24
cách mua ga về tự pha chế và sang chiết vào bình gas Petrolimex thật được
mua gom trên thị trường.
Hàng giả về hình thức, là loại hàng mang nhãn hiệu, đóng, gói bao bì
có kiểu dáng giống như sản phẩm của các cơ sở sản xuất khác nhằm lừa dối
khách hàng. Ví dụ: các loại quần áo được sản xuất hàng loạt với hình thức và
nhãn hiệu như Lacoste, May 10, Adidas, Nike, các sản phẩm của hãng Sony
được làm giả và được sử dụng logo Sony giả và tem chống hàng giả gắn lên
các sản phẩm đó.
Hàng giả cả về nội dung và hình thức, là loại hàng hoá vừa không có
giá trị sử dụng như loại hàng hoá mà nó mang tên vừa, mang nhãn của một cơ
sở sản xuất khác. Ví dụ: Công ty Bảo Ngọc là chủ sở hữu của nhãn hiệu “Bảo
Ngọc” đã được đăng ký bảo hộ cho các sản phẩm bánh ngọt, thực phẩm thuộc
nhóm 29. Một doanh nghiệp tư nhân sản xuất bánh ngọt cũng sử dụng nhãn
hiệu này gắn lên bao bì sản phẩm của mình nhưng sản phẩm này có chất
lượng thực tế thấp hơn (có thể thấp hơn mức tiêu chuẩn Nhà nước quy định về
tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa).
Từ những phân tích nêu trên chúng ta có thể đưa ra một khái niệm về
hàng giả như sau:
Hàng giả là những loại sản phẩm, hàng hoá nói chung từ thông
thường đến cao cấp được sản xuất trái với những quy định của pháp luật, có
giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, công
dụng của sản phẩm, hàng hóa đó hoặc không đúng với tiêu chuẩn chất lượng
đã được đăng ký với cơ quan Nhà nước, gây ra những thiệt hại cho lợi ích
kinh tế, cho sức khỏe, ảnh hưởng đến sự an toàn của đời sống xã hội và được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status