1
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
NGUYễN THị Tố UYÊN TộI SảN XUấT, BUÔN BáN HàNG GIả THEO
ĐIềU 156 Bộ LUậT HìNH Sự NĂM 1999 luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội 2014
Hà nội - 2014
3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Tố Uyên
trung tâm sản xuất, phát luồng hàng giả.
Đấu tranh phòng, chống nạn hàng giả là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị và của toàn xã hội. Phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc
thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó xử lý hình sự là một biện pháp hữu
hiệu, nghiêm khắc nhất để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi của ngƣời
tiêu dùng và các nhà sản xuất, phân phối chân chính. Xử lý hình sự đối với
hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Điều 156 Bộ luật hình 5
sự (BLHS) là một trong những nội dung quan trọng về phòng, chống sản xuất,
buôn bán hàng giả. Trong cuộc đấu tranh đó, pháp luật hình sự cùng với hoạt
động của các cơ quan bảo vệ pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng. Nhận
thức đƣợc tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
sản xuất, buôn bán hàng giả các cơ quan bảo vệ pháp luật đã chủ động áp
dụng nhiều biện pháp, xử lý nghiêm những trƣờng hợp phạm tội sản xuất,
buôn bán hàng giả và đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, quá
trình áp dụng pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn phát sinh một
số hạn chế bất cập: quy định của pháp luật có điểm chƣa phù hợp với thực
tiễn cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả, thiếu tính thống nhất, đồng bộ
trong thi hành và áp dụng pháp luật; chƣa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan bảo vệ pháp luật; biện pháp áp dụng của pháp luật chƣa triệt để,
nghiêm minh. Những hạn chế, bất cập ấy, đã ảnh hƣởng đến kết quả thi hành
pháp luật đối với tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Số vụ sản xuất buôn
bán hàng giả đƣợc phát hiện trong những năm trở lại đây lên đến con số hàng
nghìn, song số vụ đƣợc khởi tố, truy tố và đƣa ra xét xử là rất ít: Trong 05
năm (từ năm 2009 - đến năm 2013) ngành Tòa án đã xét xử sở thẩm 67 vụ, 94
bị can, trung bình mỗi năm xét xử 13,4 vụ, 18,8 bị can về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả - một con số rất ít ỏi so với tình hình thực tế hiện nay. Vì vậy,
việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của tội
xét xử và đấu tranh chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả ở nƣớc ta
hiện nay. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
cả về lý luận và thực tiễn về tội phạm này sẽ đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của
thực tiễn và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý, các vấn đề khác có liên quan,
kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả.
Trên cơ sở đó có thể để xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Điều
156 BLHS và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm này. 7
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả, trong đó làm rõ khái niệm, đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng
giả, phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan và với pháp
luật hình sự của một số nƣớc.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hình sự Việt
Nam hiện hành về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả và thực tiễn áp
dụng các quy định này từ đó tìm ra những mặt đạt đƣợc và những hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần bổ sung, hoàn thiện quy định về
tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam và nâng cao
hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về hàng giả.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển các quy
định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong luật hình sự Việt nam
từ trƣớc đến nay, các vấn đề liên quan đến việc định tội danh, trách nhiệm
hình sự và hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại
nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
theo Điều 156 Bộ luật hình sự.
9
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG
GIẢ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156, Chƣơng
XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế), Phần các tội phạm, BLHS
Việt Nam. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của tội phạm này cần làm rõ hàng
loạt thuật ngữ cơ bản. Trƣớc tiên, cần hiểu thế nào là sản xuất, thế nào là buôn
bán và thế nào là hàng giả; tiếp theo, định lƣợng của hành vi sản xuất, buôn
bán hàng giả đến mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự; và cuối cùng,
đánh giá sự nguy hiểm của tội phạm này đối với nhà nƣớc và xã hội.
Thông thƣờng, hàng giả đƣợc hiểu là không phải hàng thật. Vậy thế
nào là hàng thật. Theo khoản 3 Điều 3 Luật chất lƣợng sản phẩm hàng hóa
thì, "sản phẩm, hàng hoá không có khả năng gây mất an toàn là sản phẩm,
hàng hoá trong điều kiện vận chuyển, lƣu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và
đúng mục đích, không gây hại cho ngƣời, động vật, thực vật, tài sản, môi
trƣờng" [29]. Tuy nhiên, sản phẩm hàng hóa đƣợc đƣa vào thị trƣờng, tiêu
dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị lại phải tuân thủ những quy định
của pháp luật sở hữu trí tuệ, có nghĩa phải tuân thủ những quy định của sở
hữu công nghiệp liên quan đến sản phẩm hàng hóa. Mỗi sản phẩm hàng hóa
đƣợc đƣa ra thị trƣờng để trao đổi, mua bán phải có nhãn hiệu, tên thƣơng
mại, chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, hay nói cách khác phải đăng
khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng
nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại hoặc tên thƣơng
phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao
bì hàng hóa của thƣơng nhân khác; 11
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về
nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
- Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005 (Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hoá
giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo
nhãn hiệu). Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có
gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý
đang đƣợc bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không đƣợc phép của chủ
sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý);
- Tem, nhãn, bao bì giả. "Tem, nhãn, bao bì giả" gồm đề can, nhãn
hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lƣợng, phiếu bảo hành, niêm
màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ
dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại, tên
thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng
hóa của thƣơng nhân khác.
Nhƣ vậy, để xác định là hàng giả khi hàng đó thỏa mãn một tong
những dấu hiệu nêu trên.
Cũng theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày
15/11/2013 của Chính phủ, hành vi "Sản xuất" là việc thực hiện một, một số
hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế,
chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng
gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa” [7]. Từ quy định này, có thể hiểu "sản
buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS vào thực tiễn cuộc sống
chúng ta cùng nghiên cứu về đặc điểm của tội phạm này.
1.1.2. Đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156
Bộ luật hình sự
Theo Luật hình sự Việt Nam, hành vi bị coi là tội phạm đƣợc phân
biệt với những hành vi không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu: tính nguy
hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình
phạt. Đó là những đặc điểm của tội phạm nói chung mà tội sản xuất, buôn bán
hàng giả không phải là ngoại lệ. Mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể của một loại 13
tội khác nhau về nội dung biểu hiện của tội phạm, không trƣờng hợp nào
giống hoàn toàn trƣờng hợp nào. Tuy vậy, tất cả những trƣờng hợp phạm tội
của một loại tội phạm đều có những nội dung biểu hiện đặc điểm, phản ánh
tính chất đặc trƣng của tội phạm đó mà không thể nhầm lẫn sang tội phạm
khác. Nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS
cho thấy, tội danh này có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội danh có tính chất bao
quát, chung đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả. Bởi vì, trong BLHS
còn có nhiều điều luật khác quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả có tính
chất đặc thù. Ví dụ, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực
phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh đƣợc quy định tại Điều 157 BLHS;
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón,
thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi đƣợc quy định
tại Điều 158 BLHS; Tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả
đƣợc quy định tại Điều 164 BLHS; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đƣợc quy định tại Điều 171 BLHS.
Nhƣ vậy, ngƣời nào có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không
phải là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; không
lắp rắp hàng hóa; Hàng hóa sao chép lậu là bản sao đƣợc sản xuất mà không
đƣợc phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan theo quy định tại
Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ; Nhãn, bao bì giả. Quản lý nhà nƣớc về nội dung
này có Luật sở hữu trí tuệ, Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của
Chính phủ về nhãn hàng hóa và các văn bản hƣớng dẫn thi hành.
- Hàng giả cả về nội dung về hình thức là hàng giả vừa không có giá
trị sử dụng, công dụng và giả cả về nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo
tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác… nhƣ đã nêu ở phần trên.
Thứ ba, giá cả bán hàng giả không nhất thiết phải bán theo giá của
hàng thật để lừa dối ngƣời tiêu dùng, mà còn có thể bán với giá rẻ, thậm chí
rất rẻ mà không có mục đích lừa dối ngƣời tiêu dùng. Thậm chí, có các loại
hàng giả khi đƣợc mang ra tiêu thụ, ngƣời tiêu dùng vẫn biết đó là hàng giả,
nhƣng họ vẫn cứ mua và mang về sử dụng. Tuy nhiên, dù bán với giá nào và 15
có mục đích lừa dối ngƣời tiêu dùng hay không thì ngƣời sản xuất, buôn bán
hàng giả vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 156 BLHS.
Thứ tư, nguồn gốc của hàng có thể sản xuất tại Việt Nam và có thể sản
xuất ở nƣớc ngoài đƣợc nhập khẩu hoặc bằng các cách khác nhau đƣa vào
Việt Nam tiêu thụ. Tuy nhiên, để xác định đó là hàng giả thì phải có hàng thật
để so sánh. Điều đó có nghĩa trong trƣờng hợp hàng giả đƣợc sản xuất ở nƣớc
ngoài và đƣa vào Việt Nam tiêu thụ thì phải có hàng thật đang tiêu thụ ở Việt
Nam mà hàng thật này đã đƣợc đăng ký bản quyền sở hữu công nghiệp, đăng
ký chất lƣợng hàng hóa và đã đƣợc Cục sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và
Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, tên thƣơng mại Ví dụ,
phụ tùng ô tô, xe máy đƣợc sản xuất tại Trung Quốc có ghi nhãn hiệu Honda
của Nhật Bản đƣợc mang vào Việt Nam tiêu thụ. Để xác định phụ tùng ô tô,
xe máy này đƣợc sản xuất tại Trung Quốc có phải là hàng giả hay không thì
phải có phụ tùng ô tô, xe máy của hãng Honda đã đăng ký bản quyền tại Việt
những điều theo đổi ấn định trong Sắc lệnh này.
Những điều khoản cụ thể trong luật lệ cũ đƣợc tạm giữ lại
do Sắc luật này, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của
nƣớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa [4].
Về phạm vi nguồn luật cũ đƣợc áp dụng trong chế độ mới gồm Bộ luật
hình An Nam tại Bắc bộ, Bộ Hoàng Việt hình luật tại Trung bộ và Bộ hình
Pháp tu tại Nam bộ. Bên cạnh việc duy trì pháp luật của chế độ cũ nhƣ một
giải pháp tình thế, chính quyền cách mạng đã khẩn trƣơng xây dựng pháp luật
của chế độ mới, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nƣớc. Do
bị chi phối bởi đặc điểm lịch sử đất nƣớc, trong thời kỳ này nguồn của luật
hình sự chủ yếu tồn tại dƣới dạng Sắc lệnh do Chủ tịch nƣớc - đồng thời là
Chủ tịch Chính phủ ban hành.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đƣợc giải
phóng, nhiệm vụ cách mạng có sự thay đổi cơ bản, Hiến pháp năm 1959 đƣợc
ban hành để ghi nhận những quan hệ xã hội mới đang tồn tại, đồng thời định
hƣớng cho sự phát triển tiếp theo của đất nƣớc, nguồn của luật hình sự cũng 17
có những bƣớc phát triển mới, trong hệ thống luật hình sự Việt Nam không
còn có các văn bản pháp luật ban hành dƣới chế độ cũ, Pháp lệnh, Sắc luật lại
giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự.
Tuy nhiên cho đến trƣớc năm 1976, đất nƣớc ta liên tục có chiến tranh
cả nƣớc tập trung toàn bộ sinh lực cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các văn
bản pháp luật hình sự mang tính thời sự ra đời tập trung quy định các tội liên
quan đến cuộc chiến tranh nhƣ: tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản
XHCN nhƣ tội tàng trữ, lƣu hành tiền cũ, từ chối sử dụng, làm giả hay phá
hoại tiền mới, tội vi phạm thể lệ mậu dịch, tội đầu cơ hàng hóa, Giai đoạn
này, nền kinh tế nƣớc ta còn bao cấp, cả nƣớc tập trung cho chiến tranh, hàng
hóa lƣu thông trên thị trƣờng đều do các doanh nghiệp nhà nƣớc sản xuất
gian này. Tuy nhiên, Sắc luật số 03 còn bộc lộ những hạn chế nhất định, quy
định về tội sản xuất hàng giả cũng vậy. Sắc luật chƣa quy định cụ thể về các
dấu hiệu cấu thành tội phạm và hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể trong
nhóm tội kinh tế. "Tội sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ" mới chỉ
đƣợc liệt kê trong số các tội kinh tế một cách chung chung, chƣa quy định cụ
thể nhƣ thế nào là hành vi sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt ngƣời tiêu thụ và
nhƣ thế nào là hàng giả. Hành vi buôn bán hàng giả không bị coi là tội
phạm. Về hình phạt, loại và khung hình phạt áp dụng đối với "tội sản xuất cố
ý lừa gạt ngƣời tiêu thụ" đồng thời cũng là loại và khung hình phạt áp dụng
đối với các tội về kinh tế nói chung. Việc quy định không đầy đủ, thiếu cụ
thể của Sắc luật về tội sản xuất hàng giả nói riêng và các tội về kinh tế nói
chung đã gây ra không ít khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật của các
cơ quan tiến hành tố tụng.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, để khắc phục những hạn chế, thiếu
sót của Sắc luật số 03/SL, ngày 10/7/1982 Pháp lệnh số 07-LCT/HĐNN7 về
trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép đƣợc
ban hành là bƣớc tiến về kỹ thuật lập pháp hình sự của nƣớc ta. Tội sản xuất,
buôn bán hàng giả đƣợc quy định trong một điều luật riêng, hành vi buôn bán
hàng giả đƣợc coi là hành vi phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm cho 19
xã hội tƣơng đƣơng với hành vi sản xuất hàng giả đƣợc quy định trong cùng
một điều luật và giống nhau về hình phạt. Điều 5 của Pháp lệnh quy định:
Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả: Ngƣời nào làm
hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì bị phạt
tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến
năm vạn đồng; Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là
lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong
trƣờng hợp nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 9 pháp lệnh
hàng giả, buôn bán hàng giả là tội phạm hay vi phạm hành chính, các cơ quan
chức năng phải căn cứ vào Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định
về việc xử lý bằng biện pháp hành chính hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng
giả, kinh doanh trái phép. Theo quy định của Nghị định số 46/HĐBT thì:
Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái
phép thuộc loại vi phạm nhỏ chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự đều bị xử lý bằng biện pháp hành chính theo quy định của
Nghị định này. Vi phạm nhỏ là vi phạm trong trƣờng hợp giá trị
hàng phạm pháp dƣới hai vạn đồng, tính chất việc vi phạm không
nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời sống nhân dân, trật tự
và an toàn xã hội là không nhiều, ngƣời vi phạm không có tiền án,
tiền sự, khi bị phát hiện không có hành vi chống lại cán bộ, nhân
viên làm nhiệm vụ [23].
Nghị định cũng quy định: "hàng giả thuộc loại lƣơng thực, thực phẩm,
thuốc chữa bệnh thì bất cứ trƣờng hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình
sự" [23], do tính chất nguy hiểm của loại hàng giả này là nghiêm trọng hơn so
với các loại hàng giả khác, cũng nhƣ tầm quan trọng của loại hàng hóa này
đối với Nhà nƣớc và xã hội.
Pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985 đƣợc đánh giá là
pháp luật hình sự cách mạng, dân chủ, nhân đạo và nhân dân, thể hiện tính tự
thân phát triển, gắn bó với thực tiễn và đa dạng về loại hình nguồn. Với
những điều kiện khách quan không thuận lợi về hoàn cảnh chiến tranh ác liệt,
những khó khăn của nền kinh tế, sự cứng nhắc, giáo điều trong tƣ duy về pháp 21
luật XHCN, pháp luật hình sự giai đoạn 1945 - 1985 không thể tránh khỏi
những hạn chế nhất định nhƣ tình trạng chồng chéo, lẻ tẻ, rời rạc, thiếu tính
thống nhất, việc áp dụng nguyên tắc tƣơng tự gây nên tình trạng không thống
nhất, tùy tiện của hoạt động áp dụng pháp luật. Trong giai đoạn này, nạn hàng
hội; Hàng giả có số lƣợng lớn; thu lợi bất chính lớn; Tái phạm nguy
hiểm. Phạm tội trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ mƣời năm đến hai mƣơi năm, tù chung thân hoặc tử hình [23].
Bộ luật hình sự năm 1985, đƣợc sửa đổi, bổ sung 4 lần, trong đó Điều
167 đƣợc sửa đổi bổ sung 2 lần. Năm 1992, trong lần sửa đổi bổ sung Điều
167 lần thứ hai, hình phạt đối với tội làm giả, buôn bán hàng giả đƣợc sửa đổi
theo hƣớng tăng hình phạt ở mức cao hơn và bổ sung thêm đối tƣợng hàng giả
mới là "Vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu" vào Điểm a, khoản 2.
Điều luật quy định:
Ngƣời nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt
tù từ một năm đến bảy năm. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng
hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mƣời lăm năm: Hàng giả
là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, vật liệu
xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu; Có tổ chức hoặc có tính chất
chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh
nghĩa cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội; Hàng giả có số lƣợng lớn;
thu lợi bất chính lớn; Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trƣờng
hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mƣời hai năm đến hai
mƣơi năm, tù chung thân hoặc tử hình [23].
Những sửa đổi, bổ sung trên đây xuất phát từ tình trạng gia tăng và
diễn biến ngày càng phức tạp của nạn hàng giả, cùng với sự gia tăng về tính
chất, mức độ nguy hiểm của hàng giả đối với xã hội và trật tự quản lý Nhà
nƣớc về kinh tế, thể hiện đƣờng lối xử lý nghiêm khắc của Nhà nƣớc đối với
tội phạm này.
Về đối tƣợng tác động của tội phạm: BLHS năm 1985 quy định tội
phạm và hình phạt đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả thuộc mọi lĩnh
vực trong cùng một điều luật. Trong đó hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là 23
24
Tại Điều 4 Nghị định 140/HĐBT quy định:
Sản phẩm, hàng hoá có một trong những dấu hiệu dƣới đây
đƣợc coi là hàng giả: Sản phẩm, hàng hoá (kể cả hàng nhập khẩu)
có nhãn sản phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản
xuất khác mà không đƣợc chủ nhãn đồng ý; Sản phẩm, hàng hoá
mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt hoặc tƣơng tự có khả năng làm
cho ngƣời tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của cơ sở sản
xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp (Cục sáng chế), hoặc đã đƣợc bảo hộ theo Điều ƣớc
quốc tế mà Việt Nam tham gia; Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn
không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn
đo lƣờng chất lƣợng; Sản phẩm, hàng hoá ghi dấu phù hợp tiêu
chuẩn Việt Nam khi chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận và dấu phù
hợp tiêu chuẩn Việt Nam; Sản phẩm, hàng hoá đã đăng ký hoặc
chƣa đăng ký chất lƣợng với cơ quan Tiêu chuẩn Đo lƣờng chất
lƣợng mà có mức chất lƣợng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; Sản
phẩm, hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản
chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó [15].
Với quy định này, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật về phòng chống
hàng giả, định nghĩa hàng giả và các dấu hiệu để nhận biết hàng giả đƣợc quy
định. Theo đó, hàng giả gồm hai loại: hàng giả về hình thức và hàng giả về nội
dung. Hàng giả về hình thức là hàng sử dụng nhãn giả, bao bì mang nhãn giả
hoặc sử dụng nhãn của nhà sản xuất khác mà không đƣợc phép của nhà sản
xuất đó (bao gồm: nhãn sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa, dấu hiệu phù hợp tiêu
chuẩn chất lƣợng Việt Nam). Hàng giả về nội dung là hàng không có giá trị sử
dụng hoặc không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng
của nó, hoặc có mức chất lƣợng dƣới mức tối thiểu do Nhà nƣớc quy định.
Nghị định 140/HĐBT với việc đƣa ra định nghĩa hàng giả và các dấu hiệu
hợp với tình hình mới là hết sức cần thiết.
1.3. NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ MỘT SỐ NƯỚC VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ