tội sản xuất buôn bán hàng giả trong luật hình sự việt nam - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA (2011-2015)
ĐỀ TÀI:

TỘI SẢN XUẤT BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN VĂN TRÒN

HỒ THỊ HẠNH NGOAN

Bộ Môn: Luật Tƣ Pháp

MSSV: 5117413

Khoa Luật-ĐHCT

LỚP: HG1163A1

Cần Thơ, 11/2014


LỜI CẢM ƠN

...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2014
Giảng viên hướng dẫn

3


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN
BÁN HÀNG GIẢ ............................................................................................................ 4
1.1. Khái quát về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ....................................... 4
1.1.1. Khái niệm về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ................................. 4
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế .................... 5
1.1.2.1. Mặt khách thể của tội phạm ................................................................... 5
1.1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm ................................................................ 5
1.1.2.3. Mặt chủ thể của tội phạm ....................................................................... 5
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm .................................................................... 6
1.2. Khái quát về tội sản xuất, buôn bán hàng giả....................................................... 6
1.2.1. Một số khái niệm liên quan tội sản xuất, buôn bán hàng giả ....................... 6
1.2.1.1. Khái niệm hàng giả ................................................................................ 6
1.2.1.2. Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả ............................................ 8
1.2.2. Đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả .............................................. 9
1.2.3. Hậu quả của tội sản xuất, buôn bán hàng giả .............................................. 10
1.3. Lịch sử phát triển của luật Hình sự Việt Nam về tội sản xuất và buôn bán
hàng giả .......................................................................................................................... 11
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật hình sự 1985 .................. 12
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1999 ................................................................................................... 15
1.3.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay .................. 18
CHƢƠNG 2. TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM ............................................................................................................. 20
2.1. Các dấu hiệu pháp lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả ................................. 20
2.1.1. Mặt khách thể của tội phạm ......................................................................... 20
5


2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm ...................................................................... 22
2.1.3. Mặt chủ thể của tội phạm ............................................................................. 25

3.5.1. Một số biện pháp phòng chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả................ 56
3.5.2. Một số biện pháp khắc phục hiện tượng xung đột định danh. .................... 58
6


KẾT LUẬN ................................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO

7


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự xuất hiện của hàng giả đã có từ rất lâu và luôn là mối quan tâm lo lắng của
tất cả mọi người, lo lắng của người tiêu dùng và cả những người sản xuất. Vào thời
điểm hiện nay hàng giả đã và đang xuất hiện trên diện rộng từ những sản phẩm có
giá trị thấp đến những mặt hàng có giá trị cao, hàng giả lan tràn khắp mọi nơi, ở
Việt Nam xu thế của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng tăng về quy
mô, tinh vi về công nghệ và thủ đoạn. Hàng giả không chỉ gây thiệt hại về tiền của,
sức khỏe, tính mạng con người mà còn gây rối loạn trật tự kinh tế thị trường, giá cả,
kìm hãm sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Nói đến hàng giả thì chắc
hẳn bất kỳ ai trong chúng ta cũng đã ít nhất một lần là nạn nhân của nó, còn nói đến
tác hại thì ai ai cũng biết hàng giả gây ra những thiệt hại như thế nào.
Đối với số ít sản phẩm nó ít gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nhưng đa
phần sản phẩm được làm giả như: hàng giả là lương thực, thực phẩm, hàng giả là
thuốc chữa bệnh thuốc phòng bệnh… thì thiệt hại của chúng chắc hẳn mọi người sẽ
hình dung ra, thiệt hại đó không chỉ về vật chất mà nghiêm trọng hơn người tiêu
dùng còn phải đánh đổi cả mạng sống của mình khi vô tình sử dụng sản phẩm giả
mạo, tác hại của loại hàng này là không thể lường trước được mức độ vậy mà hàng
giả vẫn cứ chen vai, hích cánh cùng với hàng thật, bất kỳ một thứ gì có thể thu lợi

gian qua, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật quan trọng làm cơ sở
pháp lý cho hoạt động phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Các cơ quan chức
năng, chính quyền địa phương các cấp cũng đã tích cực tổ chức kiểm tra, xử lý, đấu
tranh, ngăn ngừa và làm giảm dần các vụ sản xuất buôn bán, hàng giả, góp phần
lành mạnh hoá hoạt động lưu thông hàng hoá trên thị trường nhằm bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, xã hội, người sản xuất chân chính và người tiêu dùng.
Để tìm hiểu một cách tương đối toàn diện về hoạt động sản xuất và buôn bán
hàng giả nhìn dưới góc độ quản lý nhà nước, trên cơ sở phân tích thực trạng hàng
giả, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, xu hướng phát triển của hàng giả và
những tồn tại, hạn chế để tìm ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, tôi
đã chọn nghiên cứu đề tài: “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong luật Hình sự
Việt Nam” nhằm đề ra giải pháp phòng chống về loại tội phạm này và qua đó nâng
cao nhận thức về pháp luật đối với những người có ý định phạm tội, cũng như đối
với người tiêu dùng trong việc cảnh giác với tội phạm nói chung và tội sản xuất
buôn bán hàng giả nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm tìm hiểu
những quy định của pháp luật về tội này trong Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, tìm
hiểu những thủ đoạn, phương thức hoạt động của bọn sản xuất, buôn bán hàng giả.
Nghiên cứu thực trạng sản xuất, buôn bán hàng giả từ đó nhận xét, đánh giá
những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại để đề xuất
những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm này trong thời gian tới.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn được giới hạn trong các vấn đề lý
luận và thực tiễn về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên phạm vi cả nước.
9


Trong giới hạn đề tài này, người viết sẽ nghiên cứu một số vấn đề lý luận

triển chung của nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế đã được định hướng chung để phát
triển theo một hướng nhất định thì bất kỳ hành vi nào khiến cho nền kinh tế phát triển
lệch hướng đều bị xem là hành vi vi phạm pháp luật. Nhận định những hành vi vi
phạm pháp luật trên sẽ xâm hại đến nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại và đe dọa thiệt
hại cho lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi
công dân cho nên bên cạnh những chính sách phát triển về kinh tế thì Nhà nước cũng
quy định rõ ràng về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và tội sản xuất,
buôn bán hàng giả nói riêng, các quy định này qua từng giai đoạn có sự thay đổi tích
cực với mục tiêu phát triển nền kinh tế bền vững, không làm ảnh hưởng đế sự phát
triển lâu dài nền kinh tế đất nước cũng như không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cụ thể quá trình lược sử phát triển của các quy định về
tội sản xuất, buôn bán hàng giả như sau:
1.1. Khái quát về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
1.1.1 Khái niệm về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Quản lý hoạt động kinh tế nhằm mục đích sản xuất nhiều hàng hóa, tạo điều
kiện phát triển xã hội, đồng thời điều chỉnh các hoạt động kinh tế theo một trật tự nhất
định tuân thủ đúng với các định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra. Vai trò bảo vệ
trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước thuộc về luật Hình sự bằng cách quy định tội
phạm và các hình phạt áp dụng đối với người có hành vi xâm hại đến trật tự quản lý
kinh tế. Việc quy định các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải hướng tới
mục đích thúc đẩy phát triển nền kinh tế, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, hạn chế
tiêu cực trong các hoạt động kinh tế.
Tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được quy định tại Chương XVI Bộ luật
Hình sự năm 1999 bao gồm các tội được quy định từ Điều 153 đến Điều 181cụ thể
một số tội như: Buôn lậu ( Điều 153); Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua
biên giới ( Điều 154); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (Điều
155); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả ( Điều 156)…, với việc quy định cụ thể từng
loại tội phạm đã cho thấy thái độ nghiêm khắc của Nhà nước ta đối với loại tội phạm
11


không thể khắc phục được chính là sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng.
1.1.2.3. Mặt chủ thể của tội phạm
Pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành xác định chủ thể của tội phạm chỉ có thể
là cá nhân con người, tuy nhiên không phải bất kỳ cá nhân nào cũng trở thành chủ thể
của tội phạm nếu như không đủ năng lực trách nhiệm hình sự vì vậy cho nên chỉ
1
2

Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2010, tr .164.
Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Phần chung, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2010, Tr. 175.

12


người nào có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể trở thành chủ thể của tội
phạm, nó được rút ra từ “Tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý”3, cũng có nghĩa là về mặt chủ thể của tội phạm chính là bất kỳ ai
có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự điều có thể trở thành chủ thể của loại tội phạm
này. Trong một số tội, chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong
các cơ quan, các tổ chức kinh tế ( còn gọi là chủ thể đặc biệt).
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Như chúng ta đã biết thì tội phạm chính là sự thống nhất giữa hai mặt khách
quan và chủ quan, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan,
nghĩa là việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ căn cứ vào những biểu hiện của hành vi
gây nguy hiểm cho xã hội mà không kể hành vi đó bắt nguồn từ đâu, diễn biến tâm lý
của người thực hiện hành vi đó ra sao. Chúng ta cần xem xét rõ ràng mặt chủ quan của
hành vi đó biểu hiện như thế nào trong khi người phạm tội thực hiện những hành vi
gây nguy hiểm. Mặt chủ quan biểu hiện thông qua ba yếu tố: yếu tố lỗi, động cơ phạm
tội và mục đích phạm tội mỗi yếu tố điều có ý nghĩa khác nhau trong việc chủ thể thực

lệnh số 07 năm 1982 nhưng Điều 167 của Bộ luật Hình sự năm 1985 không đưa ra
định nghĩa về hàng giả. Văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm hàng giả là Nghị
định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về kiểm tra, xử lý
hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả. Tính từ thời điểm Nghị định 140/HĐBT ban
hành, khái niệm hàng giả tiếp tục được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật khác từ
các văn bản về xử lý vi phạm hành chính, hình sự,5 đến các văn bản về kinh doanh,
thương mại,6 bảo hộ sở hữu trí tuệ,7 hải quan,8 bao gồm cả các văn bản chỉ đạo, điều
hành của Chính phủ.9 Nhìn chung các quy định tại các văn bản này đều nói lên hàng
giả bao gồm: giả về nội dung, giả về hình thức, giả mạo về sở hữu trí tuệ và các sản
phẩm là tem, nhãn, bao bì giả.
Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng
cấm và bảo vệ người tiêu dùng, khái niệm hàng giả được quy định tại Khoản 8 Điều 3
Nghị định này có mức độ chi tiết cao hơn, khái niệm hàng giả bao gồm bốn trường
hợp: trường hợp giả về nội dung, trường hợp giả về hình thức, trường hợp giả mạo về
sở hữu trí tuệ và trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả cũng được coi là
hàng giả.
Thứ nhất, Giả về nội dung hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá
trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng
hóa; có giá trị sử dụng công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công
bố hoặc đăng ký; hàng hóa có hàm lượng đã định lượng chất chính hoặc trong các chất
dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức 70% trở xuống so với tiêu
chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố, áp dụng hoặc ghi trên

4

Pháp lệnh số 07/LCT/HDNN7 ngày 10/7/1982 Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái

phép năm 1982.
5

bì hàng hóa của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi
chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
Thứ ba, hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ bao gồm: hàng hóa có gắn nhãn hiệu,
dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn đại lý đang được bảo hộ
dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc tổ
chức quản lý chỉ dẫn địa lý; hàng hóa là bản sao được sản xuất mà không được phép
của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan.10
Cuối cùng, là tem, nhãn, bao bì giả, nó gồm: các loại đề can, tem chất lượng,
tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng có hàng hóa có nội dung giả mạo tên, địa
chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa .
Qua đây chúng có thể hiểu khái niệm, hàng giả là “những sản phẩm hàng hóa
được sản xuất ra trái với quy định của pháp luật có hình dáng giống với những sản
phẩm hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị
trường , những sản phẩm hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản
chất tự nhiên, tên gọi công dụng của nó.”
1.2.1.2. Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Sản xuất là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế
bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia,
sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa.11
Hàng hóa chính là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu của con
người thông qua trao đổi mua bán hàng hóa có nhiều dạng, nhưng ở bất cứ dạng nào
nó điều có hai thuộc tính đó là giá và giá trị sử dụng.

10
11

Điều 213, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.
Khoản 1, Điều 3, Nghị định 185/2013/NĐ-CP.

15

xuất trong nước mà chúng còn được nhập khẩu dưới dạng nguyên chiếc hoặc ở dạng
linh kiện nên rất khó có thể phát hiện, có những sản phẩm được làm nhái, làm giả do
các công ty cung cấp tới 90% hàng giả là sản phẩm nhập khẩu giống đến mức những
doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa đó bằng những biện pháp nghiệp vụ riêng mới phát
hiện ra được.13
12

Khoản 2, Điều 3, Nghị định 185/2013/NĐ-CP.
Thùy Dung, Việt Nam đang dần trở thành điểm nóng sản xuất hàng giả, Kinh tế Sài Gòn Online,
/>[ Ngày truy cập 9/8/2014]
13

16


Theo Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày
24/4/2000 về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả do Bộ Thương mại, Bộ
Công an và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường thì những đặc điểm của hàng hóa
được coi là hàng giả:
Hàng giả chất lượng hoặc công dụng nó không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử
dụng của nó không đúng với bản chất tự nhiên tên gọi và công dụng của nó, những
loại hàng hóa này được người sản xuất ra nó đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không
được phép sử dụng làm thay đổi chất lượng của nó, có thể người sản xuất sử dụng một
số nguyên liệu sản xuất có ít dược chất, hoàn toàn không có dược chất hoặc dược chất
khác với tên dược chất được ghi trên nhãn, bao bì. Nhằm mục đích thu lợi với mong
muốn bỏ ra ít vốn mà thu được lợi nhuận nhiều người sản xuất không ngại cho ra đời
những sản phẩm hàng hóa không có đầy đủ thành phần nguyên liệu, có thể thay thế
nguyên liệu chính bằng những nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng
so với tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa đã công bố, doanh nghiệp sản xuất đưa ra thị
trường những sản phẩm hoàn toàn không được kiểm định phù hợp tiêu chuẩn và

môi trường.
1.2.3. Hậu quả của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Việc sản xuất, buôn bán hàng giả gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển sản xuất,
lưu thông hàng hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế của đất nước.
Không những thế tác hại của hàng giả còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính
mạng và lòng tin của người tiêu dùng, chẳng hạn một số loại hàng giả ảnh hưởng đến
sức khỏe tính mạng người tiêu dùng như thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, lương
thực, thực phẩm. Trong khi đó người tiêu dùng phải được đảm bảo an toàn tính mạng,
sức khỏe, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng
hóa, dịch vụ...,đã được quy định cụ thể trong luật.14 Ngoài ra vấn nạn sản xuất, buôn
bán hàng giả còn gây ra những hậu quả phức tạp, nặng nề về đạo đức xã hội. Yếu tố
phi pháp đã làm gia tăng sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo. Lợi nhuận phi
pháp thu lại từ việc sản xuất, buôn bán hàng giả làm cho đạo đức bị tha hóa bởi muốn
thu lại nguồn lợi đó người sản xuất buôn bán hàng giả sẽ không từ bất cứ thủ đoạn
nào, kể cả việc làm đó sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe tính mạng của người khác, kèm
theo đó là nguy cơ các tệ nạn khác có cơ hộ phát triển bởi sự tha hóa về đạo đức.
Những năm gần đây nạn làm giả hàng hóa, sản phẩm, văn bản giấy tờ, tiền bạc,
gia tăng tới mức báo động ở phần lớn các nước Châu Âu và Châu Á, xâm hại đến sức
khỏe và cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân, xâm hại đến lợi ích của các nhà
sản xuất, gây thất thu thuế tổn hại lớn cho nhà nước, làm nhức nhối cho toàn xã hội.
Bọn tội phạm sử dụng kỹ thuật sao, in hiện đại và các phương tiện kỹ thuật mới nhất
trong việc làm giả. Siêu lợi nhuận của việc tiêu thụ hàng giả, giấy tờ giả đã cuốn hút
bọn buôn lậu và thế giới tội phạm. Việc sản xuất và lưu hành hàng giả, giấy tờ giả
ngày càng gia tăng trở thành một vấn nạn, nhất là khi có dấu hiệu xuất xứ tác động từ
bên ngoài thì rõ ràng nó liên quan trực tiếp đến an ninh của đất nước. (theo số liệu điều
tra, thiệt hại trực tiếp đối với Hoa kỳ do việc làm giả đô la gây ra ước tính hơn 10 tỉ,do

14

Khoản 1, Điều 8, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

đầu tiên của Đông Nam Á, Nhà nước và bộ máy Nhà nước mới thành lập đã phải
đương đầu với bao khó khăn và thử thách “ giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm…” để
bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, để bảo vệ quyền và lợi ích
của giai cấp mình, nhiệm vụ quan trọng và đặt lên hàng đầu đó chính là giữ vững an
ninh quốc gia, đảm bảo phát triển kinh tế ổn định đời sống cho nhân dân. Nhiều chính
sách luật đã ra đời (Sắc luật) nhưng chưa thể cho ra đời một chính sách Hình sự được
pháp điển hóa vì hoàn cảnh Đất Nước lúc bấy giờ chưa cho phép.

15

Nguyên Dũng, Công nghệ chống làm giả hàng hóa, sản phẩm và văn bản, Hội vô tuyến – Điện tử Việt Nam,
[ Truy cập ngày 20/10/2014].

19


Trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1975 Đất nước ta liên tục có chiến
tranh, cả nước tập trung toàn bộ sinh lực vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Đất
nước, các văn bản pháp luật mang tính Hình sự ra đời cũng chỉ tập trung vào các tội
phạm có liên quan đến cuộc chiến như: tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản xã
hội chủ nghĩa, tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tội đầu cơ, tội buôn bán hàng
cấm…, các tội này có ảnh hưởng nhiều đến cuộc chiến tranh. Tội sản xuất, buôn bán
hàng giả trong giai đoạn này không hề được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật
mang tính hình sự nào.
Do trong giai đoạn này nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế bao cấp mặc khác
cả nước tập trung toàn bộ sinh lực vào cuộc đấu tranh, hàng hóa lưu thông trên thị
trường điều do các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất hoặc do các nước khác viện trợ vì
vậy mà hàng giả gần như không có môi trường để phát triển.
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đem lại sự hòa bình cho miền Nam, thống
nhất nước nhà. Tuy độc lập nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế của Đất

chung thân hoặc xử tử hình và tịch thu một phần hoặc toàn bộ sản”.
Việc quy định về tội sản xuất hàng giả trong sắc luật số 03-SL đã phần nào đáp
ứng được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về hàng giả trong các tội phạm về kinh tế.
Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất hàng giả và đã
cho thấy thái độ của Nhà nước đối với loại tội phạm này là rất nghiêm khắc.
Bên cạnh những ý nghĩa tích cực thì Sắc luật số 03-SL cũng còn bộc lộ một số
hạn chế nhất định và việc quy định về tội sản xuất hàng giả cũng vậy. Sắc luật chưa
phân hóa rõ ràng các tội phạm về kinh tế nói chung và tội sản xuất hàng giả nói riêng.
Điều 6 của Sắc luật chỉ quy định “ Sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ” mà
không có quy định hành vi buôn bán hàng giả cũng là tội phạm, không đưa ra đối
tượng nào là hàng giả ví dụ như: hàng giả là lương thực, thực phẩm, là thuốc chữa
bệnh…, mà chỉ định chung chung về hàng giả, thậm chí ngoài Sắc luật này ra thì
không có bất kỳ văn bản nào hướng dẫn như thế nào là hàng giả, hàng giả bao gồm
những loại hàng hóa nào? Việc quy định như vậy có thể nói là chưa rõ ràng, chưa cụ
thể. Về vấn đề hình phạt, nội dung của Sắc luật quy định mức hình phạt chung cho
các tội phạm, việc quy định áp dụng chung hình phạt này chưa cho ta thấy rõ mức độ
và tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm, cũng như chế tài được áp dụng
với tội phạm đó. Là một văn bản pháp luật đầu tiên có quy định về các tội phạm thuộc
lĩnh vực kinh tế việc có một số thiếu sót trong nội dung là không thể tránh khỏi, việc
thiếu sót này đã gây ra một số khó khăn trong việc áp dụng vào thực tiễn, tuy nhiên do
hoàn cảnh lịch sử nên Sắc luật này vẫn được áp dụng trong cả nước từ năm 1976 đến
năm 1982.
Nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Sắc luật số 03-SL/76 và phù hợp
hơn với tình hình mới của nền kinh tế, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, Pháp lệnh
số 07-LCT/HĐNN ban hành ngày 10/7/1982 pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu,
làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về tội
làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời.
Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 5 của Pháp
lệnh:
“ Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì bị

luật bị xử phạt vi phạm hành chính cụ thể như sau:
“Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép thuộc loại vi
phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự điều bị xử lý bằng các biện
pháp hành chính theo quy định của Nghị định này.”
Vi phạm nhỏ là vi phạm trong trường hợp giá trị hàng phạm pháp dưới hai vạn
đồng, tính chất việc vi phạm không nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời
sống nhân dân, trật tự và an toàn xã hội là không nhiều, người vi phạm không có tiền
án, tiền sự, khi bị phát hiện không có hành vi chống đối lại cán bộ, nhân viên làm
nhiệm vụ. Mặc khác Nghị định này có quy định “ hàng giả thuộc loại lương thực,
thực phẩm, thuốc chữa bệnh thì bất cứ trường hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm
hình sự” vì do loại hàng giả này có mức độ nguy hiểm cao hơn so với các loại hàng
giả khác. Trên thực tế, khi áp dụng pháp luật để xử lý một hành vi làm hoặc buôn bán
hàng giả thì các cơ quan chức năng phải căn cứ vào cả hai văn bản này để xác định có
22


truy cứu trách nhiệm hình sự hay chỉ áp dụng xử lý vi phạm bằng biện pháp hành
chính việc áp dụng này phần nào đã gây ra những trở ngại nhất định, không thuận tiện.
Việc cho ra đời Bộ luật Hình sự là vấn đề cần thiết để quy định cụ thể và khoa học về
tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng và các tội phạm hình sự nói chung.
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi ban
hành Bộ luật Hình sự năm 1999
Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả.
Năm 1985, Bộ luật Hình sự Việt Nam đầu tiên và cũng là bộ luật đầu tiên của nước ta
được ban hành. Đây được coi là một móc son lịch sử lập pháp của nước ta. Từ đây các
tội phạm không còn được quy định riêng lẻ trong các văn bản pháp luật, văn bản dưới
luật nữa mà tất cả sẽ được tập hợp lại vào một quyển Bộ luật Hình sự. Mỗi một tội
phạm và hình phạt dôid với tội phạm đó được quy định trong một điều luật riêng và
được sắp xếp vào từng nhóm tội khác nhau. “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả”
thuộc nhóm “ Các tội kinh tế” quy định tại Điều 167 của Bộ luật:

phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường , những sản phẩm hàng hóa
không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi công dụng
của nó”.17
Theo Điều 4 của Nghi định này cũng có quy định những dấu hiệu để nhận biết
như thế nào là hàng giả. Sản phẩm, hàng hóa có một trong những dấu hiệu sau đây
được coi là hàng giả:
Thứ nhất, sản phẩm, hàng hóa ( kể cả hàng nhập khẩu) có nhãn sản phẩm giả
mạo hoặc nhãn của sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không được chủ của
nhãn sản phẩm đó đồng ý.
Thứ hai, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc tương tự
có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của cơ sở sản
xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ( Cục
sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Thứ ba, sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với sản phẩm đã đăng ký
với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
Thứ tư, sản phẩm, hàng hóa ghi dấu phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng Việt
Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam.
Thứ năm, sản phẩm hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ
quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng
tối thiểu cho phép.
Cuối cùng, là sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc,
bản chất tự nhiên và tên gọi công dụng của nó.
Qua đây, ta có thể thấy rõ ràng hàng giả được chia ra thành hai loại: hàng giả về
hình thức và hàng giả về nội dung.
Hàng giả về hình thức tức là chúng được sản xuất, sử dụng nhãn giả và bao bì
mang nhãn giả hoặc sử dụng nhãn của người khác, của cơ sở sản xuất khác mà không
được sự cho phép của chủ nhãn hiệu nó bao gồm nhãn sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa
và dấu hiệu phù hợp chất lượng tiêu chuẩn Việt Nam.
17


hàng giả mới là “ Vật liệu xây dựng, phân bón thuốc trừ sâu”. Sau lần sửa đổi, bổ
sung này thì ta thấy được các loại hàng giả càng ngày càng đa dạng hơn và việc tăng
hình phạt lên mức cao hơn càng cho thấy thái độ của Nhà nước ngày càng nghiêm
khắc hơn đối với loại tội phạm này.
Mặc dù đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung nhưng Điều 167 vẫn còn tồn tại nhiều mặt
hạn chế, nó đã tạo ra những khó khăn nhất định trong việc áp dụng pháp luật như: việc
không đưa ra các tiêu chuẩn để định lượng cũng như định tính để xác định một hành
vi làm, buôn bán hàng giả là tội phạm hay vi phạm pháp luật khác do vậy một người
có hành vi làm, buôn bán hàng giả sẽ có 3 khả năng có thể xảy ra: người đó có thể bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 167 Bộ luật Hình sự, người đó có thể bị xử
phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 57/CP ngày 31/5/1997 quy định về việc xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường chất lượng hàng hóa hoặc có thể bị
xử phạt bằng các biện pháp khác như cảnh cáo, tịch thu tài sản.
25


Trích đoạn Nguyên nhân dẫn đến tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả trên thị trƣờng Xung đột quan điểm trong quá trình định danh Một số biện pháp phòng chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status