MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Quảng Nam được tái lập theo Nghị định số 01/2005/NĐCP ngày 05 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ, gồm 18 huyện, thị xã,
thành phố, diện tích tự nhiên 10,480 km2, dân số 1,4 triệu người, mật
độ dân số 312 người/ km2. Với điều kiện tự nhiên đa dạng, Quảng Nam
có nhiều mỏ khoáng sản quí với trữ lượng lớn như vàng, than, sắt,
đồng… trong đó có 2 mỏ vàng lớn nhất nước là Phước Sơn và Bồng
Miêu. Trong khoảng 5 năm gần đây, tình trạng khai thác vàng trái phép
trên địa bàn tỉnh diễn biến rất phức tạp. Trong khi tình trạng này chưa
được kiểm soát, xử lý thì sự kiện công ty Bersa Việt Nam (chủ đầu tư
2 mỏ vàng) kinh doanh thua lỗ, nợ thuế kéo theo hệ lụy công tác quản
lý, bảo vệ tài nguyên vàng bị buông lỏng. Tình trạng khai thác vàng
trái phép bằng Natry Cyanua (NaCN- một loại hóa chất cực độc để
tách vàng) diễn ra phức tạp, kéo dài. Nếu kể từ giai đoạn 2008- 2012,
trung bình hàng năm có khoảng 750 lượt người tham gia khai thác
vàng trái phép thì từ năm 2012 đến nay hàng năm tăng lên từ 7.000 –
8.000 người tham gia. Sự gia tăng đột biến nêu trên dẫn đến hệ lụy
hàng loạt vấn đề: tình hình an ninh trật tự, an sinh xã hội, ô nhiễm môi
trường… ngày càng diễn biến hết sức phúc tạp. Đặc biệt, tình hình tội
phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép
chất độc (chất độc ở đây chủ yếu là NaCN), có xu hướng gia tăng cả về
số vụ, số lượng. Tuy nhiên, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc
còn nhiều vướng mắc, chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan có thẩm
quyền về vấn đề định lượng, định khung hình phạt tăng nặng, quyết
định hình phạt. Bất cập này đòi hỏi khoa học pháp lý phải giải quyết
1
một cách đầy đủ.
Việc nghiên cứu tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng
tiễn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong năm năm qua (từ năm 2012
đến năm 2016). Đồng thời, tác giả cũng làm rõ thực tiễn định tội
danh và quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này tại địa
phương góp phần giúp cơ quan thực thi pháp luật hình sự, cơ quan
quản lý nhà nước có cái nhìn đa chiều về loại tội phạm này cũng như
những vấn đề lý luận có liên quan. Đề tài mà tác giả lựa chọn nghiên
cứu khá mới, không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất
cháy, chất độc theo pháp luật hình sự Việt Nam, thực tiễn áp dụng
pháp luật hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc
mua bán trái phép chất cháy, chất độc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam,
rút ra những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, luận
văn đề xuất giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về tội nói trên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn thực
hiện những nhiệm vụ dưới đây:
- Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép cất cháy,
chất độc theo pháp luật hình sự Việt Nam.
- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép
chất cháy, chất độc.
- Khái quát những vấn đề lý luận về định tội danh và đánh
giá thực tiễn định tội danh đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc từ thực tiễn tỉnh
3
4
như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
thống kê, phương pháp vụ án điển hình, phương pháp lịch sử và
nghiên cứu thực tiễn…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận góp phần làm
nguồn tư liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa
học pháp lý hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp người tiến
hành tố tụng ở tỉnh Quảng Nam nói riêng và địa phương khác nói
chung trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép
chất cháy, chất độc được chính xác hơn nhằm thực hiện hiệu quả
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu; Phần kết luận; Danh mục tài liệu tham
khảo; Danh mục các chữ viết tắt và Danh mục các bảng biểu, nội
dung luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc
mua bán trái phép chất cháy, chất độc
Chương 2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép
chất cháy, chất độc tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng
các quy định của pháp luật hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận
mua bán trái phép chất cháy, chất độc.
6
Tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố:
1.1.1.1. Khách thể của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
1.1.1.2. Mặt khách quan của tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
1.1.1.3. Chủ thể của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
1.1.1.4. Mặt chủ quan của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
1.1.2. Phân biệt tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng
hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc với một số tội phạm
khác.
Do được tách từ tội “chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất
phóng xạ” nên tác giả phân biệt tội này với tội “chế tạo, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
vật liệu nổ” quy định tại Điều 305 và tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân quy định tại Điều 309 Bộ luật
hình sự năm 2015.
1.1.2.1. Những điểm giống nhau
Chủ thể của các tội phạm này giống nhau về độ tuổi là từ đủ
16 tuổi trở lên mới phải chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm đã thực hiện.
2.1. Thực tiễn định tội danh tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
2.1.1. Cách tiếp cận để nhận diện thực tiễn định tội danh
tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép
chất cháy, chất độc
Định tội danh là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm
hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng
thời làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định
thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố
tụng…góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ
pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mọi công dân.
Quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự diễn ra
phức tạp và đa dạng, được thể hiện ở 3 giai đoạn: Định tội danh, định
khung hình phạt và quyết định hình phạt. Trong đó, định tội danh là
một giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên của toàn bộ quá
trình áp dụng pháp luật hình sự. Bởi vì, định tội danh được tiến hành
thực hiện ở tất cả các giai đoạn của cả quá trình tố tụng hình sự từ
giai đoạn khởi tố đến giai đoạn thi hành án. Trong khi đó bước quyết
định hình phạt chỉ được tiến hành thực hiện ở giai đoạn xét xử. Định
tội danh là một trong những biện pháp đưa Bộ luật hình sự vào đời
9
sống xã hội, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm, qua đó góp phần thực hiện đường lối chính
sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Định tội danh là sự xác nhận
về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã
thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu hiệu trong cấu thành
12.08% 6.2%
2013 173
364
23
45
13.2% 12.3%
2014 221
414
43
87
19.4% 39.3%
2015 346
524
73
145
21%
27.6%
2016 360
602
88
72
24.4% 11.9%
(Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam)
10
Bảng 2.2. Cơ cấu của tội sản xuất, tàng trữ,vận chuyển, sử dụng
hoặc mua bán trái phép chất độc trong tổng số các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng đã bị xét xử trong thời gian từ năm
18
40
53
137
23
45
83
127
43
87
126
237
73
145
136
122
88
72
Tỷ lệ
3/1
4/2
47.3%
43.3%
51.8%
57.9%
64.7%
87
73
145
88
172
245
489
11
Kết quả khảo sát bảng 2.3 cho thấy trong 5 năm từ năm 2012
đến năm 2016, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã xét xử sơ thẩm
245 vụ trên 489 bị cáo phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng hoặc mua bán trái phép chất độc. Như vậy, trung bình mỗi năm
có khoảng 49 vụ sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán
trái phép chất độc với khoảng 97,8 người phạm tội bị đưa ra xét xử.
2.1.2.2. Thực tiễn định tội danh tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam
Cấu thành tội phạm cơ bản là tổng hợp những dấu hiệu
chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong
Bộ luật hình sự. Do đó, CTTP cơ bản của tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc là tổng hợp những
dấu hiệu đặc trưng bắt buộc đối với tội phạm được quy định tại
khoản 1 Điều 238 Bộ luật hình sự năm 1999. Các dấu hiệu đặc trưng
đó phản ảnh bản chất của loại tội phạm và cho phép phân biệt nó với
loại tội phạm khác.
Định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản của tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc
chính là xác định những dấu hiệu đặc trưng bắt buộc phản ánh bản
phức tạp, nhiều mặt, được tiến hành qua những giai đoạn nhất định,
giải thích đạo luật hình sự, xác định hiệu lực của đạo luật hình sự về
không gian và thời gian, định tội danh, quyết định hình phạt, miễn
trách nhiệm hình sự và hình phát, xóa án tích” [23, tr. 383].
Quyết định hình phạt là thẩm quyền chỉ thuộc về Tòa án.
Quyết định hình phạt thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức
hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản, điều luật) theo
một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện
trong bản án buộc tội [28, tr.386].
13
Khi quyết định hình phạt, Tóa án (Hội đồng xét xử) phải tuân
thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt vốn được hiểu “là những tư
tưởng được thể hiện trong luật hoặc được làm sáng tỏ bắt nguồn từ
việc giải thích pháp luật. Đó là những nguyên lý quan trọng nhất chỉ
đạo, xác định và định hướng hoạt động của Tóa án khi áp dụng các
chế tài luật hình sự đối với người thực hiện tội phạm” [28, tr.387].
Những nguyên tắc mà khi quyết định hình phạt, Tòa án (Hội đồng xét
xử) cần phải tuân thủ bao gồm: (1) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa; (2) Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; (3) Nguyên tắc cá
thể hóa hình phạt; (4) Nguyên tắc công bằng. Mỗi một nguyên tắc đó
có nội dung riêng của mình, nhưng trong một tổng thể cho phép
quyết định được một hình phạt cần và đủ, công bằng, dân chủ, nhân
đạo, tiền đề đạt được mục đích của hình phạt.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án (Hội đồng xét xử) còn phải
tuân thủ các căn cứ quyết định hình phạt. Các căn cứ quyết định hình
phạt “là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy
định hoặc do giải thích luật mà có, buộc Tòa án phải tuân theo khi
quyết định hình phạt đối với người thuộc diện tội phạm” (23; Tr
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Thực tiễn quyết định hình phạt trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
(thực chất là sự phán quyết của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam) đối với các bị cáo phạm tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc
xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong năm năm, từ năm 2012 đến
năm 2016, đa số đúng quy định pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh
phòng chống tội phạm này ở địa phương.
Dựa trên số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Nam về số người phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng
15
hoặc mua bán trái phép chất độc đã bị xét xử trong 5 năm, từ năm
2012 đến năm 2016, cho thấy cơ cấu về hình phạt được áp dụng như
sau:
Bảng 2.4. Cơ cấu về loại và mức hình phạt được áp dụng
Tổng số
Năm
người
phạm tội
Các hình phạt áp dụng
Hình phạt dưới 3 năm
Trên 3
Trên 7
15
9
1
5
0
2015
15
10
2
3
0
2016
15
10
1
Khảo sát bảng 2.4 ta thấy loại hình phạt chính được áp dụng
chủ yếu là hình phạt tù dưới ba năm, áp dụng với 54 người phạm tội,
chiếm tỷ lệ cao nhất (69,2 %) và hình phạt tù trên 3 năm dưới 7 năm
đứng thứ hai áp dụng với 16 người phạm tội, chiếm tỷ lệ (20,5 %);
hầu hết tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái
phép chất độc được xử theo Khoản 1 Điều 238 BLHS năm 1999.
Thực tiễn xét xử án hình sự sơ thẩm, những sai sót hạn chế
trong việc quyết định hình phạt thường là trong việc áp dụng pháp
luật Tòa án đã so sánh, đánh giá không đúng về những tình tiết của
vụ án với những căn cứ quyết định hình phạt, những hậu quả này mặc
dù không gây hậu quả nặng nề như việc kết án oan người vô tội
nhưng điều đó không có nghĩa là nó không nghiêm trọng mà nhất là
những trường hợp hình phạt được áp dụng khi đã thi hành rồi thì
16
không thể thay đổi được.
Quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ của Tòa án
chính là quyết định hình phạt không tương xứng với tội phạm đã thực
hiện. Loại sai sót này ảnh hưởng tiêu cự c đến dư luận xã hội, làm
giảm lòng tin của nhân dân vào sự công bằng của pháp luật và hoạt
động của cơ quan nhà nước. Thực tế trong thời gian qua, trong xét xử
án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân, những sai sót trong quyết
định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ vẫn xảy ra mặc dù không
nhiều nhưng cũng cần phải được khắc phục nhằm bảo đảm đạt được
mục đích của hình phạt.
Khi quyết định hình phạt cân nhắc chưa đúng nhân thân
người phạm tội, điều này thường do nghiên cứu chưa kỹ hồ sơ vụ án
dẫn đến bỏ sót một số tình tiết thuộc về nhân thân có ý nghĩa giảm
nhẹ hoặc tăng nặng hình phạt cho bị cáo.
nguyên nhân không thể không kể đến của các hạn chế trong việc
quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng hoặc mua bán trái phép chất độc.
Thứ hai, về nguyên nhân khách quan:
Mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng thực tế cho
thấy Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự còn bộc lộ những hạn
chế nhất định như: Điều 311 quy định vê mức tối thiểu và mức tối đa
trong khung hình phạt là quá rộng nên trong hoạt động quyết định
hình phạt của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân còn mang tính tùy
nghi, có khi là hình phạt quá nhẹ và cũng có khi là hình phạt quá
nặng.
Liên ngành trung ương chưa có một văn bản hướng dẫn cụ
thể về định lượng vật phạm pháp để truy tố, xét xử nên cách hiểu và
vận dụng mang tính tùy tiện trong một số trường hợp.
Tình hình tội phạm nói chung, các tội xâm phạm an toàn
18
công cộng và trật tự công cộng nói riêng cũng như tội sản xuất, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất độc trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi của xã
hội đối với hoạt động của ngành Tòa án ngày càng cao trong công tác
chuyên môn. Điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của Tòa án
nhân dân các cấp ở tỉnh Quảng Nam còn thiếu thốn, chật hẹp.
19
CHƯƠNG 3
CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG
- Nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ Hội thẩm nhân dân;
Đổi mới quy định tiêu chuẩn tuyển chọn Hội thẩm nhân dân…
- Nâng cao năng lực đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên,
đào tạo các chức danh này với trình độ ý thức pháp luật cao, hiểu biết
một cách đúng đắn, sâu sắc các quy định của pháp luật, đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước, lợi ích của nhân dân.
3.2.2.2. Bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án
Thứ nhất, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức, lương tâm nghề
nghiệp.
Thứ hai, xây dựng và củng cố các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư
pháp vững mạnh.
Thứ ba, tăng cường vai trò giám sát của các Đoàn đại biểu
Quốc hội, của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa
án. Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động của các phương tiện
thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về
hoạt động xét xử.
3.2.2.3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
Thứ nhất, rà soát toàn bộ hệ thống giáo trình, tài liệu, sách
giáo khoa giảng dạy trong các cơ sở giáo dục có nội dung liên quan
đến BLHS năm 2015 để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Thứ hai, Tổ chức biên soạn tài liệu phục công tác phổ biến
giáo dục pháp luật ở cấp trung ương và địa phương.
Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật
như Họp báo, thông cáo báo chí; phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn,
hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật;...
21
3.2.2.4. Tăng cường các giải pháp công tác quản lý Nhà
Kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu của luận văn:
Một là, Luận văn phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và
các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc,
từ đó giúp cho người làm công tác nghiên cứu pháp luật và người làm
công tác áp dụng pháp luật nhận thức đúng và đầy đủ những vấn đề
pháp lý về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán
trái phép chất cháy, chất độc. Luận văn đã đi sâu phân tích và làm rõ
những điểm tiến bộ và hạn chế của các văn bản pháp luật hình sự qua
từng thời kỳ, đặc biệt tác giả đã có những phân tích chi tiết về điểm
mới của BLHS 2015, đây là cơ sở khoa học để áp dụng BLHS năm
2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở lý luận và pháp lý quan trọng để
định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
23
Hai là, Luận văn đi sâu phân tích, làm rõ những yêu cầu bảo
đảm xác định đúng pháp luật trong định tội danh và quyết định hình
phạt đối với tội danh này; từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn
thiện pháp luật trong định tội danh và quyết định hình phạt.
Ba là, Luận văn tập trung đi sâu phân tích các yêu cầu và giải
pháp đảm bảo áp dụng đúng các qui định của pháp luật hình sự về tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất
cháy, chất độc. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc áp dụng Bộ
luật hình đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc
mua bán trái phép chất độc trong thực tiễn khi Bộ luật hình sự năm
2015 chính thức có hiệu lực thi hành, mà còn có ý nghĩa rất quan