Đánh giá nguồn lực sinh kế và đề xuất mô hình sinh kế bền vững cho các hộ nghèo là dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông - Pdf 41

1
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SINH KẾ VÀ MÔ HÌNH SINH KẾ BỀN VỮNG
1.1. SINH KẾ VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG CHO HỘ NGHÈO
1.1.1. Các khái niệm và tiêu chí đánh giá nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với
các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Tình trạng thiếu thốn thể hiện trên nhiều
phương diện như: thu nhập thiếu do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những
nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc
xảy ra và dễ bị tổn thương trước những mất mát.
Bản thân khái niệm nghèo cũng bao hàm các mức độ khác nhau, vì trong
các nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa bị rơi vào tình trạng
đói kém. Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá,
đó là lòng tin và lòng tự trọng. Do đó, với cách tiếp cận khác nhau về tình trạng
thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau. Thước đo các tiêu chuẩn về
nghèo thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian.
Ví dụ, Tổ chức Y tế Thế giới (world health organization: WHO) định
nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm
ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita
Incomme, PCI) của quốc gia.
Một cách tiếp cận khác về nghèo dựa trên tình trạng sống, trong đó lưu ý
đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập khi định nghĩa “nghèo con người”, thí
dụ như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả
năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh
khác. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cũng đã đưa ra chỉ số phát triển
con người (tiếng Anh: human development index–HDI). Các chỉ báo của HDI
bao gồm tuổi thọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức
mua thực trên đầu người và nhiều chỉ báo khác. Trong “Báo cáo phát triển thế
giới 2000” của Ngân hàng Thế giới (World Bank: WB) đã đưa ra bên cạnh các
yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm
chất và tự trọng.

1752/CT-TTg ngày 21-9-2010 của Thủ tướng Chính phủ cho giai đoạn 2011 –
2015, theo đó mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định, những hộ có thu
nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực
nông thôn), đối với khu vực thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập
bình quân 500.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu
nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng (khu vực nông
thôn), đối với khu vực thành thị là từ 501.000 đồng đến 650.000
đồng/người/tháng.


3
- Nghèo tương đối (Relative Poverty)
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa
vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc
cung cấp không đầy đủ các điều kiện vật chất và phi vật chất cho những người
thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với các điều kiện được xem là sung
túc của chính xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác
định khách quan. Bên cạnh sự thiếu thốn trong việc đảm bảo điều kiện vật chất,
việc thiếu thốn các tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn đối
với tình trạng nghèo tương đối. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham
gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính được các nhà xã hội học xem là
một thách thức xã hội nghiêm trọng hiện nay.
- Nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty)
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để
tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn,
đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để
trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp
cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng
đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn
nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản
phục vụ tiếp cận thông tin.
1.1.2. Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững
a.Khái niệm sinh kế
“Sinh kế” là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể
tạo ra thu nhập hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ.
Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp
với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như
để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ.
Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: (1) Vốn con người; (2)
Vốn vật chất; (3) Vốn tự nhiên; (5) vốn tài chính; (6) Vốn xã hội, cụ thể:
- Vốn con người: Bao gồm sức mạnh thể lực, năng lực trí tuệ biểu hiện ở
kỹ năng, kiến thức làm kinh tế, khả năng quản lý gia đình của người dân. Có thể
người dân cố gắng làm việc siêng năng nhưng do sức khỏe không đảm bảo, năng
lực hạn chế nên không có khả năng tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống do
năng suất lao động thấp. Đối với người nghèo, do đời sống khó khăn, cô lập với
bên ngoài nên trình độ học vấn thường rất hạn chế. Cụ thể:
• Tỷ lệ người sống phụ thuộc cao.
• Trình độ học vấn thấp


5
• Sức khoẻ không đảm bảo, hay bị ốm đau
• Năng lực quản lí thấp
• Quĩ thời gian lớn nhưng sử dụng không có có hiệu quả
• Phân công lao động chưa hợp lý, thiếu cân bằng về giới


6
- Vốn vật chất: Thể hiện ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống, sinh
hoạt cũng như làm ăn của người dân như hệ thống đường sá, điện nước, chợ
búa, trường học, thông tin liên lạc cùng các tài sản sinh hoạt như tivi, xe máy và
các vật dụng cần thiết khác trong gia đình như giường, tủ, bàn... được xem là
nguồn vốn vật chất. Tuy nhiên, đối với các hộ nghèo, những vật dụng này vẫn
đang là đồ xa xỉ.
b.Sinh kế bền vững
Ý tưởng sinh kế bền vững lần đầu tiên được giới thiệu bởi Ủy ban
Brundtland về Môi trường và Phát triển, và năm 1992 Hội nghị của Liên Hiệp quốc
về Môi trường và Phát triển mở rộng khái niệm thúc đẩy việc đạt được sinh kế bền
vững như là một mục tiêu rộng hơn của xóa đói nghèo. Trên cơ sở ý tưởng đó,
Chambers và Gordon (1992) đã đưa ra khái niệm về sinh kế bền vững ở cấp hộ gia
đình đó là: “Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú
sốc, duy trì và tăng cường khả năng và tài sản; đồng thời cung cấp các cơ hội sinh
kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phương
và toàn cầu và trong ngắn hạn và dài hạn. Sinh kế bền vững cung cấp một phương
pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói”.
Theo các tác giả trên, sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế
sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản là
tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi
nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc
vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội
khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp
cho thế hệ tương lai.
Nội hàm của sinh kế bền vững, đồng thời cũng là tiêu chí quan trọng nhất
cần hướng đến của sinh kế bền vững là giải quyết các yêu cầu sau đây:
• Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng tạo ra thu
nhập, của cải đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng tốt hơn cho con người trong

b.Đặc điểm sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Do có dân số ít, phân bố khu vực cư trú của các cộng đồng DTTS Tây
Nguyên khá biệt lập với cộng đồng người Kinh, trình độ sản xuất và trình độ
văn hóa của các DTTS có nhiều nét đặc thù, điều này đã làm cho hoạt động sinh
kế của đồng bào DTTS có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động sinh kế lệ thuộc vào tự nhiên, chưa quen với sản xuất kinh tế
hàng hóa. Do đặc điểm sống của đồng bào DTTS là cố kết cộng đồng, gắn với
những luật tục theo kiểu bộ tộc, khép kín. Hoạt động sinh kế chính của họ là sản
xuất nông nghiệp truyền thống tự cấp tụ túc gắn với tự nhiên với trình độ sản
xuất rất thấp. Việc sản xuất chỉ để đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống đơn giản
2

Nghị định số: 05/2011/NĐ-CP


8
hàng ngày của gia đình, không có ý thức sản xuất để bán do đó trình độ tiếp cận
với kinh tế thị trường vẫn còn rất thấp.
- Cách tổ chức sản xuất lệ thuộc nhiều vào thiết chế tự quản: buôn làng của
đồng bào DTTS Tây Nguyên thường là những đơn vị cơ sở xã hội duy nhất và
cao nhất, gắn liền vơi nơi cư trú và nơi canh tác. Do đó, hoạt động sinh kế
truyền thống của đồng bào DTTS thường gắn chặt với thiết chế buôn, làng đó,
hầu như ít có hoạt động sinh kế truyền thống vượt ra khỏi khuôn khổ này.
- Hoạt động sinh kế phụ thuộc nhiều vào các luật tục: Đây là một dạng
thức văn hóa pháp luật có tính lịch sử nhất định nhưng cho đến nay vẫn còn giá
trị, nó thấm đẫm trong mọi hành xử của cả cộng đồng của đồng bào DTTS Tây
Nguyên. Trong xã hội cổ truyền thì luật tục có hiệu lực như một sức mạnh để
chế ước xã hội. Mọi hoạt động sinh kế của người dân như trồng tỉa, chăn nuôi,
săn bắt… đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các luật tục đó.
- Tập quán du canh, du cư: Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực của Chính phủ

hóa, phong tục tập quán của người dân và cộng đồng dân tộc bản địa hay không.
Sự gắn kết với văn hóa, lịch sử là chất keo kết nối người dân với nhau và đã thể
hiện sự vững chắc qua nhiều thế hệ trong suốt quá trình lịch sử. Chính nó là một
nhân tố để duy trì tính ổn định của xã hội, tiền đề cho việc ổn định về kinh tế. Tất
nhiên, điều này không có nghĩa là bảo thủ, chỉ nhăm nhăm giữ lấy những truyền
thống cũ vốn đã lạc hậu, nhiều khi là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói. Nhưng nếu
chỉ quan tâm đến sự cách tân, sự đổi mới mà tiến hành thay đổi toàn diện các
truyền thống văn hóa, lịch sử cũng sẽ dẫn đến người dân nghèo, vốn dĩ khả năng
thích ứng kém có thể bị sốc, làm tổn hại bến tính bền vững của sinh kế.
b. Kết nối được với hoạt động kinh tế của cộng đồng
Việc khu trú hóa, cục bộ hóa trong kinh tế theo hướng tự cấp, tự túc mặc
dù là cách tốt để bảo đảm sinh kế ổn định cho người nghèo, ngăn chặn các tác
động tiêu cực từ bên ngoài. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chỉ đúng trong điều
kiện nền kinh tế nguyên thủy, khi nhu cầu cho cuộc sống không cao, khi nguồn
tài nguyên thiên nhiên còn phong phú và không bị cạnh tranh. Ngược lại, trong
điều kiện nền kinh tế thị trường dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay thì việc
ổn định sinh kế của người dân nghèo cần phải được đánh giá qua khả năng kết
nối thành công của nó với hoạt động kinh tế của cộng đồng. Chính điều này giúp
cho người nghèo nhận được hơi ấm của cộng đồng, nhận được lợi ích từ sức
mạnh cộng đồng, giảm được rủi ro bất trắc đồng thời rèn luyện, học tập được từ
kinh nghiệm của người khác. Sự khác biệt hóa là tốt, tuy nhiên nó có vẻ không
phải là lựa chọn tốt cho mục tiêu sinh kế bền vững.
c.Phải thích ứng với điều kiện trình độ của người nghèo
Như đã phân tích ở phần trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo, trong đó
có nhiều lý do nội tại của chính hộ gia đình đó là do thiếu nguồn lực vật chất,
nguồn lực tài chính, thiếu kiến thức, thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng... Vì vậy, một
mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo cần phải tương thích với những điều


10

đều đặn có khả năng duy trì được cuộc sống cho các thành viên của gia đình suốt
trong cả năm. Vì vậy, khi đánh giá một mô hình sinh kế phù hợp hay không trước
hết ta phải xem xét khả năng này của mô hình.


11
f.Phải có khả năng chống chọi được với các “cú sốc” bất lợi từ môi trường
Muốn cấu trúc xã hội ổn định, bền vững thì trước hết cấu trúc của mỗi gia
đình (tế bào của xã hội) cũng phải có được thuộc tính đó. Trong cấu trúc hộ gia
đình, cấu trúc kinh tế đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì tính ổn
định của nó. Mô hình sinh kế quyết định cấu trúc kinh tế vì nó bao hàm các
nguồn lực kinh tế và năng lực dòng chảy của cải của hộ gia đình đó. Trong điều
kiện nền kinh tế luôn chịu sự tác động của rất nhiều biến số ảnh hưởng bên
ngoài khó kiểm soát dẫn đến xuất hiện các cú sốc bất lợi từ môi trường như
thiên tai, dịch bệnh, biến động của thị trường... làm cho hoạt động sinh kế của
gia đình bị ảnh hưởng tiêu cực. Một mô hình sinh kế tốt phải là một mô hình
sinh kế có khả năng chống chịu trước các cú sốc đó. Tức là vẫn có khả năng tạo
ra được thu nhập hoặc huy động từ các nguồn bù đắp khác để duy trì cuộc sống
của gia đình trong những khoảng thời gian nhất định.
g. Phải gắn kết được với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc
phòng chung của đất nước
Kinh tế của hộ gia đình muốn bền vững thường phải có khả năng thích ứng
với sự thay đổi của nền kinh tế nói chung. Sự thích ứng này có thể thuận chiều
hay nghịch chiều. Tuy nhiên, nều một người dân không có được khả năng thích
ứng này, tức là không gắn kết được với xu hướng phát triển kinh tế xã hội, an
ninh quốc phòng của địa phương và đất nước thì chắc chắn nó sẽ gặp rất nhiều
rủi ro vì không được hưởng lợi từ các chính sách của Nhà nước, một điều kiện
rất cần thiết để ổn định sinh kế cho người nghèo. Ngược lại, sinh kế cho người
nghèo mà không gắn với yêu cầu chung của phát triển kinh tế, xã hội, an ninh
quốc phòng của địa phương thì nhà nước cũng rất khó để hỗ trợ vì không thể

có để tạo ra thu nhập
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo, trong đó lý do quan trọng là thiếu
nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, thiếu kiến thức, thiếu sự nỗ lực vươn
lên... Vì vậy, một mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo cần phải tương
thích với các điều kiện cụ thể đó. Cùng với sự quan tâm của cộng đồng, của
chính phủ, các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình có khả năng được cải thiện
theo thời gian. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất thường gặp phải của người DTTS là
thiếu kiến thức nên việc khắc phục nhược điểm này đòi hỏi rất lâu dài và khó
khăn. Do đó, một mô hình sinh kế tốt sẽ tạo ra khả năng giúp hộ nghèo thích
ứng tốt hơn với trình độ, năng lực thực tế của người chủ gia đình và các thành
viên. Nhờ đó, giúp cho họ làm chủ được sinh kế, phát huy được các nguồn lực
để đảm bảo nguồn sống ổn định cho gia đình. Kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều
mô hình sinh kế rất thành công ở các nơi, song khi áp dụng cho người nghèo thì
lại không thành công chính là vì không phát huy được vai trò này.
d.Giúp khai thác được các nguồn lực hỗ trợ của xã hội
Giải quyết vấn đề đói nghèo ở Việt Nam là trách nhiệm, là nghĩa vụ của cả
cộng đồng chứ không chỉ riêng của người nghèo. Tuy nhiên, việc huy động


13
nguồn lực của cộng đồng sẽ rất khó nếu họ không biết được nguồn lực mà họ
đóng góp sẽ được sử dụng vào việc gì? Việc sử dụng liệu có hiệu quả hay
không? Lúc này việc xây dựng được các mô hình sinh kế bền vững cho người
nghèo sẽ là minh chứng quan trọng cho tính hiệu quả mà những nỗ lực của cộng
đồng nên hướng đến. Vì vậy, việc xây dựng mô hình sinh kế bền vững có vai trò
trong việc định hướng và tập hợp các nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu
xóa đói nghèo cho người dân.
e.Giúp Nhà nước hoạch định các chính sách hỗ trợ hợp lý
Nhà nước, với tư cách là người bảo trợ xã hội. Là người giữ trọng trách
quan trọng nhất trong sứ mệnh xóa đói giảm nghèo, trong sứ mệnh đảm bảo

Con người
(Khả năng
sinh kế)

Tài sản Xã
hội
(Nhu cầu và
Tiếp cận)

Nguồn vốn
kinh tế
(Dự trữ và
nguồn lực)

Đảm bảo:
- Lương thực
- Dinh dưỡng
- Sức khỏe
- Nước
- Nhà ở
- Giáo dục
Sự tham gia
của cộng đồng
Sự an toàn
của cá nhân

Cơ sở hạ
tầng
Môi trường
Kinh tế, văn

(xem Hình 1.2).
CON NGƯỜI

Các khả năng
sinh kế

Sinh kế
Các khả năng
sinh kế
CÁC TÀI SẢN HỮU HÌNH

Các khả năng
sinh kế
CÁC TÀI SẢN VÔ HÌNH

Hình 1.2. Cách tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP
Nguồn: Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP)


15
Mặc dù nguyên tắc này nhấn mạnh đến việc ứng dụng các công nghệ cải
tiến cũng như tăng cường đầu tư cho kinh tế và xã hội. Các vấn đề về chính sách
và quản lý có ảnh hưởng đến sinh kế cũng phải được giải quyết. Các hoạt động
hỗ trợ khác nhau được tổ chức và thực hiện ở cấp quận, huyện, hệ thống các cơ
sở ở cấp cộng đồng và hộ gia đình.
1.2.3. Cấu trúc sinh kế hộ nghèo theo cách tiếp cận của DFID
Năm 1997, DFID đưa ra khái niệm sinh kế dựa trên việc phát triển khái niệm
sinh kế của IDS: Sinh kế bao gồm khả năng, tài sản (kể cả nguồn lực vật chất và
nguồn lực xã hội), và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống. Một sinh kế được xem
là bền vững khi nó có thể đối phó và tự hồi phục trước những cú sốc hay khủng


Đầu ra sinh kế
- Tăng thu nhập
- Cải thiện phúc lợi
- Giảm tình trạng dễ
bị tổn thương
- Cải thiện an ninh
lương thực-thực
phẩm
- Sử dụng tài nguyên
bền vững

Chiến lược
sinh kế

Hình 1.3. Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID)
Cách tiếp cận sinh kế bền vững của DFID với mục đích nhằm tăng cường
tính hiệu quả của các tổ chức trong giảm nghèo theo 02 cách sau:
Thứ nhất, là thông qua cách lồng ghép, tập hợp các nguyên tắc cốt lõi nhằm
xác định hoạt động phát triển tập trung vào đối tượng nghèo nên được thực hiện


16
bằng cách lấy con người làm trung tâm, có sự tham gia và phản hồi liên quan đến
nhiều cấp, được tiến hành một cách hợp tác, bền vững và năng động.
Thứ hai, cần phải sử dụng quan điểm tổng thể trong việc đưa ra các chương
trình hành động hỗ trợ nhằm đảm bảo rằng những hoạt động này phù hợp với các
vấn đề hay các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến cải thiện sinh kế cho người nghèo.
Yếu tố trọng tâm trong cách tiếp cận sinh kế bền vững của DFID là khung

kiến thức và kỹ năng, khả năng làm việc và khả năng thích ứng); Vốn tài chính
(tiết kiệm, tín dụng, tiền lương, tiền chuyển); Vốn vật chất (cơ sở hạ tầng, công
cụ, dụng cụ, công nghệ sản xuất); Vốn xã hội (hệ thống mạng lưới và quan hệ xã
hội, sự tin cậy, hỗ trợ và thấu hiểu lẫn nhau, các nhóm chính thức và phi chính
thức, các giá trị và hành vi được chia sẻ, các phong tục và qui tắc chung, cơ chế
tham gia vào quá trình quyết định).
- Chiến lược sinh kế: Các kế hoạch hoạt động, sản xuất - kinh doanh dài hạn
của cộng đồng để kiếm sống. Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động
và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình.


17
- Kết quả sinh kế: Là những thay đổi có lợi cho sinh kế của người dân,
cộng đồng, nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn,
cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm, và sử
dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.2.4. Khung sinh kế bền vững của IFAD
Trên cơ sở khung phân tích sinh kế bền vững được giới thiệu của DFID,
Quỹ phát triển nông nghiệp Liên hiệp quốc (IFAD: International Fund for
Agricultural Development) đã phát triển sơ đồ mới về phân tích sinh kế. Trong
quá trình phân tích, những người tham gia phát hiện ra rằng cách xây dựng
khung logic vô cùng quan trọng: bắt đầu bằng chính người nghèo và các nguồn
vốn sinh kế của họ là điều cần thiết khi họ tham gia vào việc phân tích lấy “con
người làm trung tâm”. Tuy nhiên, cách xây dựng khung sinh kế bền vững ban
đầu không đưa ra cách tiếp cận này. Bản thân người nghèo có xu hướng dễ bị
mất 05 nguồn sinh kế trong đời sống; mặt khác, khi nhìn vào khung phân tích,
người tham gia nhiều khi tập trung quá vào các tài sản và các yếu tố khác hơn là
bản thân những người nghèo. Do chưa đặt người nghèo làm trung tâm của
khung sinh kế, các yếu tố quan trọng trong sinh kế của họ, chẳng hạn như
nguyện vọng của họ; những cơ hội để họ nhận thức sự thay đổi…cũng là một

những hành động và sự thay đổi sinh kế.
- Các yếu tố như chính sách thể chế, văn hóa, thị trường: Các yếu tố
này được đặt như những yếu tố có tác động qua lại với yếu tố trung tâm là người
nghèo và các nguồn vốn sinh kế. Quy trình này phân biệt giữa “những người có
thẩm quyền”, “các nhà cung cấp dịch vụ” và “những người sử dụng”, xem xét
mối quan hệ nào tồn tại giữa các nhóm khác nhau và những yếu tố ảnh hưởng
nào đến những mối quan hệ đó nhằm giúp người tham gia đánh giá hiểu rõ
những phức tạp xung quanh các chính sách và các tổ chức và nhận ra những gì
mà họ đang cần. Mô hình này tập trung vào vai trò tổ chức, và các mối quan hệ
giữa các tổ chức khác nhau và người nghèo.
Trong mô hình này, nhân tố thị trường được đề cập đến vì tầm quan trọng
của nó trong việc chỉ ra cách thức mà người nghèo chuyển đổi các nguồn lực họ
định bỏ qua vào các tài sản sinh kế. Sự tham gia của các thể chế thị trường có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác định các cơ hội đối với chiến lược sinh
kế mà người nghèo tạo ra, mức độ mà họ có khả năng thực hiện.
Văn hóa cũng là một yếu tố được nhấn mạnh trong mô hình. Văn hóa bao
gồm một loạt các “quy tắc của trò chơi”, chuẩn mực xã hội và văn hóa có khả
năng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách người nghèo có thể tiếp xúc với các tổ chức
có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.


19
Quyền để người nghèo được lựa chọn người đại diện là rất quan trọng, nó
được thực hiện tùy thuộc môi trường thể chế gắn với một cấu trúc chính trị và xã
hội của một quốc gia cụ thể.
Tất cả các ảnh hưởng này có thể gây khó khăn cho bản thân người nghèo
để thực hiện các hoạt động, nhưng chúng không phải là bất biến và cần phải
được phân biệt với những yếu tố đại diện cho bối cảnh “dễ bị tổn thương”, đó là
khó khăn hoặc là không thể để thay đổi và phải được “đối phó” để thay thế.
Khung phân tích sinh kế bền vững mới được IFAD đưa ra với đầy đủ các

đã tạo ra các cú sốc khiến gia đình họ phải di dời đi nơi khác, nhà cửa bị phá
hủy, đất đai bị thu hồi, sinh kế bị đảo lộn.
Những dự đoán của con người về trạng thái tương lai của môi trường sống
có ảnh hưởng đặc biệt đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế của người dân. Đối
với người dân nghèo, tương lai môi trường sống thường bị tác động của rất
nhiều yếu tố không kiểm soát được nên việc lựa chọn chiến lược sinh kế đúng
đắn không phải là chuyện dễ dàng.
Vấn đề biến động về giá cả, cơ hội việc làm và nguồn lương thực, thực
phẩm theo mùa vụ là một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng lớn đến khả
năng sinh kế của người dân, đặc biệt là dân nghèo.
Chính vì vậy, việc tăng cường khả năng nhận thức và kiểm soát sự thay
đổi của môi trường sinh kế của người dân sẽ góp phần không nhỏ trong việc
đảm bảo được nguồn tài sản cũng như giảm bớt sự bấp bênh trong mô hình sinh
kế của họ.
1.3.2. Khả năng các nguồn lực và cơ hội tiếp cận thành công các nguồn
lực sinh kế
Nguồn lực sinh kế là hạt nhân của mọi mô hình sinh kế, là điều kiện tiên
quyết trong việc tạo ra của cải, thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho người dân.
Quy mô hiện có các nguồn lực của hộ gia đình là sự đảm bảo quan trọng cho các
hoạt động sinh kế của họ. Bên cạnh đó, việc tiếp cận được các nguồn lực sinh kế
chung của xã hội như: đất đai, tiền vốn, tài nguyên rừng, tài nguyên biển… của
người nghèo là rất cần thiết trong quá trình giải quyết sinh kế bền vững. Trong
quá trình hoạt động sinh kế, các nguồn lực sinh kế có tác động qua lại với các
nhân tố còn lại trong mô hình sinh kế. Cụ thể:
- Trong bối cảnh tổn thương, nguồn lực sinh kế có thể bị phá hủy hoặc
được tạo ra bởi những xu hướng, những cú sốc hoặc tính thời vụ.
- Đối với thể chế và chính sách có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng tiếp
cận các nguồn vốn sinh kế của người dân như: tạo ra nguồn vốn (chính phủ đầu
tư cơ sở hạ tầng); khả năng tiếp cận nguồn vốn (các chính sách cho phép hoặc


dân và cộng đồng giảm thiểu được các tổn thương và sử dụng hợp lý bền vững
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tuy nhiên, nếu chỉ có chính sách và thể chế thì chưa thể có một sinh kế
bền vững mà điều kiện quan trọng là khả năng chuyển tải của các chính sách,
thể chế này đến người dân, và khả năng tiếp cận các cơ hội đó của người dân. Vì


22
vậy, cần khuyến khích, vận động được người dân tích cực tham gia vào mọi quá
trình phát triển, đồng thời huy động sự tích cực tham gia của nhiều bên có liên
quan từ chính quyền các cấp, các tổ chức, các đoàn thể xã hội...
1.3.5. Sự nỗ lực vươn lên của bản thân hộ gia đình
Khi có những biến động xảy ra phải thay đổi chỗ ở cũng như điều kiện sản
xuất thì cũng có nghĩa là có một biến động to lớn đến hoạt động sinh kế của hộ
dân cũng như của cộng đồng bị ảnh hưởng. Việc xáo trộn sẽ làm thay đổi môi
trường sống, tác động mạnh mẽ đến lối sống, điều kiện sản xuất, sinh hoạt và các
nguồn lực, tài sản khác của hộ gia đình và cộng đồng. Do đó, để tồn tại, người
dân cũng như cộng đồng đó sẽ phải có những nỗ lực để duy trì những hoạt động
sinh kế cũ cũng như cố gắng tiếp nhận những cách thức hoạt động sinh kế mới
phù hợp với nơi ở mới, đó là những hoạt động khôi phục sinh kế. Để khôi phục
sinh kế, bản thân hộ gia đình phải đặt ra chiến lược sinh kế riêng cho mình phù
hợp với chiến lược sinh kế chung của cả cộng đồng đã bị ảnh hưởng.
Tất cả những yếu tố trên đều nhằm đạt được mục tiêu sinh kế, đảm bảo đời
sống của cá nhân cũng như của cả hộ gia đình và cao hơn là của cả cộng đồng.
Và mọi nỗ lực cố gắng đều phải có yếu tố con người và sự nỗ lực vươn lên của
chính bản thân những hộ gia đình bị biến động. Do đó có thể khẳng định một
điều rằng, sự nỗ lực vươn lên của con người luôn là yếu tố then chốt để góp
phần cho sự thành công của bất kỳ mô hình sinh kế nào.
1.3.6. Các nhân tố ngoại sinh khác
Trên thực tế, sự thành công của mô hình sinh kế còn phụ thuộc vào một

Người nghèo thường bị hạn chế về năng lực, về tài chính và đặc biệt là
thiếu tự tin khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là các mối quan hệ
kinh tế với các chương trình, dự án của chính phủ mà ở đó có khả năng cải thiện
lực nguồn sinh kế cho gia đình họ. Lúc này, chính mối quan hệ cộng đồng
(người dân trong khu vực, các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức tôn giáo…)
được hình thành một cách tích cực, có trách nhiệm và thân thiện sẽ đóng vai trò
là cầu nối giúp người nghèo kết nối thành công với các nguồn lực đó. Trong
thực tế, vì không nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng nên nhiều người nghèo đã
phải dựa vào một số thế lực khác như “cò” hoặc các “đầu nậu”, thậm chí là các
băng đảng “xã hội đen” cho vay nặng lãi khi cần tiếp cận với nguồn lực tài
chính, việc làm hoặc tiêu thụ nông sản… Qua đó, họ tự biến thành người lệ
thuộc, bị lợi dụng và bóc lột bởi các thế lực trên khiến cho việc xóa đói giảm
nghèo càng trở nên khó khăn.
Ngoài ra, chính vai trò tích cực của cộng đồng sẽ giúp người nghèo có đủ
sự tự tin để hội nhập tốt hơn với các hoạt động khác của xã hội; giúp họ tự tin có


24
tiếng nói khi tham gia bàn thảo về các chính sách, chương trình mà chính phủ
triển khai để hỗ trợ họ.
Tuy nhiên, để làm được việc này tại các khu vực khó khăn khi trình độ văn
minh chưa cao không phải là việc dễ dàng, nó đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn
của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể xã hội và quyết tâm
rất lớn của cộng đồng.
1.4.2. Vai trò giám sát thực thi các chính sách xã hội
Các nguồn lực xã hội dánh cho các hoạt động giảm nghèo thường rất lớn,
nhưng làm sao để đạt được hiệu quả là điều đáng quan tâm. Kinh nghiệm trên
thế giới cho thấy, các cơ quan cứu trợ xã hội của chính phủ hoặc các tổ chức
tương tự thường hoạt động kém hiệu quả. Sự lãng phí, việc sử dụng các nguồn
lực giảm nghèo không đúng đối tượng, tình trạng tham ô, tham nhũng, thiếu

phát sinh nghèo”[2]. Để đảm bảo duy trì các nguồn hỗ trợ lâu dài nhằm giảm áp
lực cho ngân sách chính phủ, việc lôi kéo cộng đồng tham gia vào các hoạt động
này nhằm thu hút các nguồn lực to lớn của toàn xã hội để cùng chung tay trong
sự nghiệp xóa đói giảm nghèo là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, do các nguồn lực
này thường không thường xuyên nên nó chỉ đóng vai trò là nguồn lực bổ sung.
Điều quan trọng là cần phải có cơ chế, giải pháp phù hợp để khai thác, quản lý
và sử dụng hiệu quả các nguồn lực này, tránh tình trạng chạy theo phong trào.
1.4.4. Vai trò cứu cánh
Nghèo đói và tổn thương bởi rủi ro thường có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Người nghèo thường yếu thế nên rất dễ bị tổn thương bởi các biến cố bất
ngờ như thiên tai bão lũ, hạn hán mất mùa hoặc đau ốm, hoạn nạn…khiến cho
tình trạng đói nghèo càng trở nên trầm trọng. Thậm chí ngay cả các hộ gia đình
đã thoát nghèo, cận nghèo cũng khó chống đỡ với các “cú sốc” này và dễ dàng
đưa họ quay lại với nghèo đói. Lúc này, các quỹ cứu trợ xã hội cần phải phát
huy tác dụng tức thời trước khi những nỗ lực của nhà nước được thực thi. Chính
mối quan hệ cộng đồng, trách nhiệm cộng đồng sẽ giúp giải quyết hiệu quả vấn
đề này. Nhường cơm xẻ áo, là lành đùm lá rách là đạo lý truyền thống tốt đẹp
của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, việc xác lập môi trường mà trong đó lôi kéo
được cộng đồng xã hội tích cực tham gia vào hoạt động cứu trợ xã hội sẽ là công
cụ hữu hiệu để thực hiện vai trò “cứu cánh” trong việc hỗ trợ cho người nghèo,
giúp khắc phục tức thời các tổn thương dó các cú sốc gây ra.
Tất nhiên, vai trò này chỉ có tác dụng nhất thời, ngắn hạn vì khả năng
nguồn lực tại chỗ của cộng đồng có hạn do đa phần người dân tại các khu vực có
tỷ lệ hộ nghèo cao cũng khó khăn.
1.4.5. Vai trò tấm gương
[

2]

Nguyễn Hưng “Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng không vững chắc”, />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status