PHN M U
1. Lí DO CHN TI.
a bn khu vc min nỳi phớa Bc l ni cú nhiu dõn tc c trỳ. Ni
õy khụng ch cú v trớ quan trng v kinh t, chớnh tr, an ninh v quc phũng
m gn õy cũn l mt trong nhng a bn phc tp v tụn giỏo. Bờn cnh mt
s tụn giỏo, tớn ngng truyn thng ca cỏc dõn tc cũn cú cỏc tụn giỏo ngoi
lai c du nhp vo vi nhng lý do v hon cnh lch s rt khỏc nhau. Cụng
giỏo v Tin lnh l hai tụn giỏo ó c du nhp vo mt s tnh phớa Bc t
lõu, tuy khụng phỏt trin mnh nhng ó bỏm r mt s dõn tc ớt ngi (nht
l Cụng giỏo). T sau nm 1954 v nht l sau nm 1975 vi nhiu lý do khỏc
nhau, cỏc tụn giỏo ny li cú s suy gim. Nhng nm gn õy, trờn a bn ny
li cú s phỏt trin ca o Tin lnh khụng bỡnh thng do nhng hot ng
truyn o trỏi phộp, s phỏt trin o trỏi phộp tp trung ch yu vo ng bo
dõn tc Hmụng v cú s lan rng vo mt s dõn tc khỏc nh dõn tc Dao, dõn
tc Thỏi. õy l vn rt ỏng c quan tõm bi s du nhp v phỏt trin ca
o Tin lnh trong vựng ng bo dõn tc Hmụng v mt s tnh min nỳi phớa
Bc nc ta. Do vy, tụi ó chn ti S du nhp v nh hng ca o Tin
lnh trong ng bo dõn tc Hmụng mt s tnh min nỳi phớa Bc nc ta
hin nay nghiờn cu.
2. MC TIấU NGHIấN CU CA TI.
- Trờn c s nghiờn cu du nhp v phỏt trin ca o Tin lnh trong ng
bo dõn tc Hmụng mt s tnh min nỳi phớa Bc, t ú rỳt ra c nhng
nguyờn nhõn ca tỡnh hỡnh ú.
- Ch ra nhng tỏc ng nh hng ca o Tin lnh i vi cỏc mt trong
i sng xó hi ca ng bo dõn tc Hmụng, ni cú o Tin lnh hot ng.
- T ú a ra mt s kin ngh trong vic gii quyt nhm gúp phn hn
ch n mc thp nht tỡnh hỡnh phỏt trin o Tin lnh hin nay trong ng bo
dõn tc Hmụng mt s tnh min nỳi phớa Bc nc ta.
3. PHM VI V PHNG PHP NGHIấN CU.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
hội Cơ đốc và truyền giáo (CMA) khi đến Việt Nam tiếng Việt còn chưa trôi
chảy, chỉ mới dịch được 01 sách duy nhất của Kinh thánh “Tin lành theo Thành
Gioan” để truyền đạo. Do vậy, giới chức pháp ở đây gọi họ là “La Mission
Evangelique”, từ đó các phòng giảng trụ sở, truyền giáo đều phải theo bảng chữ
“La Mission Evangelique” hoặc “Eglise Evangelique” để xin hoạt động, các tín
đồ người Việt đã dịch ra là: “Hội Thánh Tin Lành” [19.20].
a) Tiền đề xã hội của đạo Tin lành:
Vào thế kỷ thứ XV, XVI là thời kỳ đang lên của giai cấp tư sản, trong xã
hội diễn ra trận quyết chiến của giai cấp tư sản Châu Âu, đấu tranh chống lại
giai cấp phong kiến đương thời. Giai cấp tư sản lúc này là giai cấp tiêu biểu, tiên
tiến của thời đại đã giành được những thắng lợi đầu tiên trong cuộc đấu tranh
chống giai cấp phong kiến đã trở lên lỗi thời, lạc hậu và chỗ dựa tư tưởng của nó
là Công giáo. Để phù hợp với sự lớn mạnh và phát triển ngày càng mạnh mẽ của
mình, giai cấp tư sản muốn có riêng một hệ tư tưởng, một tôn giáo cho giai cấp
mình. Hệ tư tưởng đó, tôn giáo đó phải đáp ứng được những yêu cầu của thời
đại, của giai cấp. Tôn giáo mà giai cấp tư sản sẽ xây dựng phải là một tôn giáo
đơn giản, đỡ phức tạp, mềm dẻo, đỡ tốn kém hơn so với thứ tôn giáo mà họ đã
kịch liệt phê phán cần phải loại bỏ thay thế; tôn giáo đó chính là đạo Công giáo.
Theo họ, đó là một tôn giáo rườm rà, cứng nhắc, phức tạp, rất tốn kém cả về mặt
thời gian và tiền của, nó không phù hợp với thời đại công nghiệp. Mặt khác giai
cấp tư sản rất đề cao sự tự do cá nhân
b) Nguồn gốc nhận thức và tâm lý của sự ra đời đạo Tin lành:
Đó là sự lúng túng, bế tắc của Thần học kinh viện thời Trung cổ. Sự
khủng hoảng về vai trò ảnh hưởng, uy tín của Giáo hội Công giáo và quyền lực
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
của Giáo hồng. Thời Giáo hồng Leon X, hàng giáo phẩm xa hoa, trần tục, lợi
dụng danh Thánh nhằm mục đích kinh tế, điển hình là: Vào năm 1511, với sự ra
đời của sắc lệnh “Ban ơn xố tội” do Giáo hồng Leon X quyết định cho những
ai dâng tiền cho Giáo hội với việc mua, bán bùa xố tội, với lời truyền ai mua sẽ
được xố mọi tội lỗi, dù là đã phạm tội, đang phạm tội thì sẽ được xố tội, khi
giờ. Tuy nhiên, những tầng lớp dưới của xã hội đã khơng thoả mãn sự cải cách
này của Luther, họ đã đi xa hơn, triệt để hơn. Đại diện cho xu hướng này là
Thomas Muntzer (1940-1525), đại biểu của phái nơng dân nghèo cách mạng.
Ơng là người có tư tưởng tiến bộ vừa chống thần quyền, vừa chống thế quyền.
Lúc đầu ơng nhiệt liệt ủng hộ cuộc cải cách của Luther, hoan nghênh “95 luận
đề”, nhưng khi Luther phản bội thì ơng kiên quyết chống lại tư tưởng ơn hồ,
thoả hiệp, tách khỏi tư tưởng cải lương tư sản và trực tiếp vận động cách mạng.
Ơng cơng kích tất cả những quan điểm cơ bản và tồn bộ triết học tư tưởng của
Luther về thần học cơ đốc giáo. Ơng cho rằng: “Khơng có thiên đường cũng
chẳng có địa ngục để đầy đoạ con người, khơng có quỷ thần mà chẳng qua là
dục vọng sâu sa của con người” [10.132]. Ơng kêu gọi những nơng dân Đức
đứng lên khởi nghĩa xây dựng xã hội mới khơng có giai cấp, khơng có tư hữu,
khơng có chế độ riêng, khơng có chính quyền đối lập với nhân dân xã hội đó là:
“Thiên đường của trần gian, vương quốc của thần thánh” [10.123]. Quan điểm
đó đã trở thành quan điểm xã hội khơng tưởng, chính quan điểm này đã làm cho
giai cấp phong kiến và giáo sĩ chống lại mạnh mẽ.
Cũng trong nửa đầu thế kỷ XVI, phong trào cải cách tơn giáo đã phát triển
ra các quốc gia khác bên ngồi nước Đức, như ở Áo, ở các nước Bắc Âu, Ba
Lan, Hungari… Cũng trong thời gian này, tại Thụy Sỹ và sau đó là Hà Lan, Anh
đã xuất hiện những trung tâm mới của phong trào cải cách tại Thụy Sỹ. Phong
trào này tập trung ở Duyrich và Giơnevơ. Ở thành phố Duyrich xuất hiện Ubric
Zwingli (1484-1531) đã lãnh đạo vùng Đơng bắc Thụy Sỹ tiến hành cải cách
Ubric Zwingli chịu ảnh hưởng rất lớn của chủ nghĩa nhân văn, rất ủng hộ đối với
tư tưởng của một số người như: Wicliffe và Huss… Tháng 1 năm 1523 đã đề ra
“67 điều luận cương” nhấn mạnh quyền uy tối cao của Kinh thánh, chủ trương
cứu vớt chỉ cần dựa vào niềm tin, mở cửa trường học, đơn giản hố nghi thức
truyền bá… Năm 1517 ơng phản ứng mạnh mẽ việc chuộc tội nhờ hành hương
đến thánh Phi-e-zơ và Phao lơ, ơng phủ nhận tồ thánh La mã, phủ nhận tầng
lớp trung gian giữa chúa trời và con chiên của linh mục, ơng nói: “Duy chỉ có
một mình chúa Jesus là xứng đáng cho ta tơn vinh, thờ kính, ấy vậy mà phẩm
giảm bớt các ngày lễ, các trò tiêu khiển nhằm tiết kiệm thời gian và tiền của.
Như vậy, quan điểm của ơng rất phù hợp với giai cấp tư sản trong q trình tích
lũy tư bản. Chính vì vậy, Ph.Ăngghen nói: “Cải cách của Calvin đã đáp ứng nhu
cầu của giai cấp tư sản tiên tiến hồi đó” [24.161.163]. Ơng chủ trương tổ chức
Giáo hội theo ngun tắc dân chủ, khơng lệ thuộc vào Giáo hồng như Giáo hội
cơng giáo, cũng khơng lệ thuộc vào vương cơng như Giáo hội Luther.
Ph.Ăngghen cho rằng: “Chế độ giáo hội học thuyết của Calvin đã chống lại giáo
hội Roma và chống lại sự đòi hỏi trong cuộc cải cách của quần chúng nhân dân.
Qua quan điểm của Calvin tỏ ra đáp ứng được u cầu của giai cấp tư sản đang
lên. Nhận định về ý nghĩa và tính chất của Calvin, Ph.Ăngghen nhận xét:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
“Calvin đã để lên hàng đầu tính chất tư sản của cuộc cải cách và làm cho nhà thờ
có một vẻ mặt cộng hồ và dân chủ” [25.650].
Bên cạnh cuộc cải cách ở Thụy Sĩ thì ở Anh phong trào cải cách cũng
đang được phát triển. Cuộc cải cách bắt đầu Anh tun bố xố bỏ giáo quyền
Roma đối với giáo hội Anh, ban hành luật “Quyền tối thượng” đưa vua Herry
VIII lên đứng đầu giáo hội Anh, có quyền bính như Giáo hồng thâu tóm cả thế
quyền và thần quyền. Sau đó vua Herry VIII cho đóng tất cả nhà thờ và tất cả tài
sản cho chung vào quỹ nhà vua. Sau khi vủa Herry VIII qua đời, nữ hồng Mary
lên ngơi, đưa giáo hội Anh trở lại đầu phụ Giáo hồng Anh và Giáo hội Roma.
Từ năm 1547 đến 1603, dưới thời trị vì của Elizabeth và Edward, phong trào cải
cách tơn giáo ở Anh mới có điều kiện phát triển. Cuộc cải cách tơn giáo ở Anh
về giáo thuyết chủ yếu dựa vào quan điểm thần học của Calvin, còn về cách thức
hành đạo theo nghi lễ Cơng giáo và tổ chức Anh giáo thành lập giáo hội riềng,
duy trì cơ cấu tổ chức và hàng giáo phẩm theo đạo Cơng giáo.
Phong trào cải cách tơn giáo lan rộng sang nhiều quốc gia khác như:
Pháp, Đan Mạch, Nauy, Scotland, Tiệp Khắc, Ba Lan… Đến cuối thế kỷ thứ
XVI ở Châu Âu đã xuất hiện một tơn giáo mới gọi là đạo Tin lành, đạo này được
tách ra từ đạo Cơng giáo.
1.2. Những đặc điểm chung của đạo Tin lành:
tớch Ra ti v bi tớch Thỏnh th (hay l l tic thỏnh). Jean Calvin li ch cụng
nhn cú mt bi tớch, ú l bi tớch Ra ti. Quan im ca ụng cho rng phộp
thỏnh th cng c c hnh nh h, ú ch l k nim v cỏi cht, vỡ s cu
chuc ca Thiờn chỳa cho con ngi m thụi. V b Maria, ụng cho rng: B
khụng phi l m ca Thiờn chỳa v ch ng trinh khi sinh Thiờn chỳa. Thm
chớ mt s giỏo phỏi cũn cho rng, sau khi sinh chỳa Jesus b cũn sinh cho ụng
Juise mt s ngi con khỏc mt cỏch bỡnh thng. o Tin lnh tin cú thiờn s,
cỏc thỏnh tụng , thỏnh t o v cỏc thỏnh khỏc nhng khụng sựng bỏi v th
li. o Tin lnh khụng th tranh nh, hỡnh tng v cỏc di vt, thm chớ cỏc
bc tranh phự iờu trang trớ trờn tng cng b gt b, khụng tụn sựng v thc
hin hnh hng n cỏc thỏnh a, b c Gie-ru-xa-lem nỳi Xi-nai.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH
TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC H’MÔNG Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA
2.1. Quá trình phát triển đạo Tin lành ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta.
Cho đến nay mọi hiện tượng tôn giáo được truyền vào đồng bào dân tộc
thiểu số ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta là đạo Tin lành hay đạo Vàng
chứ có nhiều ý kiến khác nhau.
Khi đạo Tin lành mới vào vùng đồng bào dân tộc H’mông thì tôn giáo này
được gọi với tên “Vàng chứ”, vì nó gắn bó mật thiết với tín ngưỡng truyền thống
của đồng bào. Nhưng càng về sau thì nội dung của Tin lành càng biểu hiện rõ rệt
về đối tượng tôn thờ, kinh thánh, nghi lễ của đạo Tin lành… Điều đó có nghĩa
là, về bản chất “Vàng chứ” chính là Tin lành. Vì vậy, trong niên luận này chúng
tôi mạnh dạn gọi là đạo Tin lành, đúng như quan điểm của Đảng ta về vấn đề
này trong kế hoạch 184B (1999), thông báo 255/TW (1999) tổng kết nghị quyết
24 số 01BC/BCD của Bộ Chính trị về sự phân chia các giai đoạn phát triển của
đạo Tin lành trong đồng bào H’mông ở một số tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay
qua truyn ming gõy tõm lý hoang mang, lo s ng bo tp hp qun chỳng
phỏt trin tớn . Ni dung truyn o giai on ny xung quanh ngun tin:
n nm 2000 trỏi t s n tung, tri s sp v mi ngi s cht. Lỳc ú nu
ai theo Vng ch thỡ s c cu sng. Chỳng cũn núi: Khi no vua sp ra tt c
khụng ai c ra khi nh, phi chun b mang qun ỏo trng ra ún vua. Lỳc ú
tri s ti ba ngy ba ờm, sau ú xut hin by con rng phun nc xung khu
vc huyn Xỡ H. ú l lỳc Vng ch ún ngi Hmụng lờn tri. Chỳng tung
tin hỳ do, nm 2000 s cú nn hng thu, ai theo o s c Chỳa cu vt.
Ni dung nh vy tht s l hoang ng, mờ tớn, xong do ng bo Hmụng
vn dõn trớ thp, nhiu phong tc lc hu, nng u úc, mờ tớn v i sng cú
nhiu khú khn nờn h ó tin theo.
- Vic truyn o ch yu thụng qua phng thc truyn ming, va bớ
mt, va cụng khai, truyn o thụng qua i FEBC. Nhng ngi truyn o
Tin lnh giai on ny va bớ mt cho b con, gi kớn i vi cỏn b, nht l
cỏn b xó, huyn. Chỳng truyn o cụng khai thng vo ban ờm, t 9 gi n
1-2 gi sỏng.
Th on truyn o l: Mt s ngi cm u t chc nghe chng trỡnh
phỏt thanh ca i FEBC ri ghi õm, sau ú i ti cỏc bn m cho nhiu ngi
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
nghe, kt hp vi truyn ming, tung tin la bp e do lm cho nhõn dõn na
nghi, na ng nờn nờn nhiu ngi do s nghe theo.
b) Giai on th hai (T 1988 n 1991):
c im chớnh ca giai on ny l s phỏt trin ca o Tin lnh lan
rng ra hu ht cỏc tnh min nỳi phớa Bc, ng thi xy ra tỡnh trng ng
bo khng hong nim tin v tỡm n nh th Cụng giỏo.
Nm 1988, o Vng ch tip tc c truyn vo hai xó ng T v
Mng Thớn ca huyn Tun Giỏo Lai Chõu. Tip ú nm 1989, o ny phỏt
trin rt nhanh, cựng mt lỳc vo 3 huyn Sỡn H, Mng Tố v Phong Th. Ch
trong vũng 3 tun l ca thỏng 10/1989, huyn Sỡn H ó cú 11 xó vi 29 bn
v 533 h theo Vng ch. n 1990, o Vng ch phỏt trin sang huyn
khong 2.000 ngi Hmụng theo o, 12 xó, 5 huyn trong tnh [8.4].
Nhng nm 1989-1990, hot ng truyn o tin lnh trỏi phộp ó xut
hin cỏc huyn Bc Quang, Xớn Mn, Bc Mờ (H Giang). n cui 1991 o
Tin lnh ó lan rng ra nhiu xó ca cỏc huyn Bc Quang, Hong Su Phỡ, Xớn
Mn.
Cng nh mt s tnh khỏc o Tin lnh xut hin Yờn Bỏi vo cui
1989, u nhng nm 1990 do s du nhp o t tnh Lo Cai. S du nhp ú
gn lin vi quỏ trỡnh di dch di dõn ca ngi Hmụng theo o Tin lnh
huyn Bo Yờn Lo Cai n xó Lang Thớt v Chõu Qu thuc huyn Vn Yờn
Yờn Bỏi. Khi mi n Vn Yờn h khai bỏo l theo o Cụng giỏo, nhng n
nm 1992 h lm n xin theo o Tin lnh v c i din xung hi thỏnh Tin
lnh min Bc xin kinh sỏch, bng ghi õm v hc o.
c im ch yu ca giai on ny:
- Vic truyn o Vng ch gn vi cỏc hin tng thiờn tai xy ra vo
thi im ny cựng vi truyn thng Vua ra, ún vua ca ngi Hmụng.
Nm 1990, th xó Lai Chõu v huyn Mng Lay ó xy ra mt trn l ln
nm 1991 ti th xó Sn La, huyn Mai Sn, Mng La, Sụng Mó (Sn La) ó
xy ra trn l quột lch s, ó li hu qu ht sc nghiờm trng. Li dng
nhng thiờn tai ny lc lng truyn o Vng ch tuyờn truyn: nu ai khụng
tin theo o ny s b nc cun trụi, b h n tht nh mi ngi ó tng chng
kin.
Xng vua, vua ra l hin tng va mang tớnh th tc, li va mang
tớnh tụn giỏo din ra trong xó hi truyn thng ca ngi Hmụng. Vic truyn
o Vng ch giai on ny ging nh cỏc v Xng vua, ún vua vựng cao
trc õy bi tớnh cht mờ tớn, lc hu ca nú, song cú im khỏc nhau l hin
tng mờ tớn ó bt u c gn vi tụn giỏo.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
- Hot ng truyn o Vng ch t ch lộn lỳt, va bớ mt, va cụng
khai, gn vi mờ tớn thỡ nay chuyn sang cụng khai vit n, i gp cỏc cp
chớnh quyn xin theo o Thiờn chỳa v o Tin lnh. S chuyn hng ny cú
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
tiếp giảng dạy và cung cấp tài liệu, kinh sách về đạo Tin lành. Theo số liệu của
Ban Dân vận – Dân tộc tỉnh uỷ, số người H’mơng theo đạo ở một số thời điểm
của giai đoạn này như sau:
Năm 1993: Có 279 hộ, 2.005 người ở 26 bản, 12 xã, 5 huyện.
Năm 1996: Có 371 hộ, 3.022 người ở 57 bản, 24 xã, 7 huyện.
Năm 1999: Có 523 hộ, 3.719 người ở 77 bản, 28 xã, 7 huyện.
Năm 2000: Có 652 hộ, 4.030 người theo đạo [13.3].
Từ đầu năm 1993, tình hình phát triển đạo Tin lành ở Lai Châu diễn biến
trở lại khá phức tạp và xuất hiện những dấu hiệu gây mất ổn định về an ninh trật
tự. Theo tính tốn sơ bộ, đến cuối năm 1994, tồn tỉnh đã có 1.723 hộ trong 40
xã, 103 bản theo đạo Tin lành. Đến tháng 4/1995, có 2.168 hộ với 14.471 khẩu
theo Tin lành. Từ cuối năm 1995 đến nay, đạo Tin lành khơng chỉ phát triển
trong vùng dân tộc H’mơng nữa mà lan truyền sang cả các dân tộc khác như dân
tộc Dao, dân tộc Thái. Theo báo cáo tổng kết của tỉnh (9/1997), tồn tỉnh có
26.491 nhân khẩu bị lợi dụng theo đạo Tin lành, trong số 8 huyện, 56 xã, 207
bản.
Ở Hà Giang, đến cuối năm 1993, trên địa bàn các huyện Bắc Quang, Vị
Xun, Hồng Su Phì, Xín Mần, Bắc Mê đã có 1.196 hộ, 7.703 khẩu ghi tên
theo đạo Tin lành. Theo thống kê của Ban Dân vận Trung ương, đến năm 1994 ở
Hà Giang có 62.000 người theo đạo Tin lành.
Năm 1997-1998, hoạt động truyền đạo lại nổi lên ở các xã Thượng Tân,
Phiêng Lng, Giáp Trung, Minh Sơn (huyện Bắc Mê); xã Sủng Thài, Sủng
Tráng, Thắng Mố, n Minh, Bạch Đích (huyện n Minh); xã Bạch Ngọc và
Minh Ngọc (huyện Vị Xun). Gần đây, đạo Tin lành vẫn tiếp tục phát triển ở
một số xã của 9/10 huyện thị của tỉnh Hà Giang.
Sự phát triển của đạo Tin lành ở n Bái cũng diễn ra tương đối nhanh
chóng. Số lượng ban đầu chỉ có 5 hộ với 30 nhân khẩu, sau đó tăng lên 15 hộ
với 88 nhân khẩu năm 1992. Hiện nay, đạo Tin lành phát triển rộng hơn ở một
số địa bàn khác trong tỉnh như An Bình (Văn n), huyện Trạm Tấu và thị xã
ng du lch, thm ving ngi thõn thc hin truyn o ó gia tng v cú
nhiu biu hin phc tp.
- S phỏt trin ca o Tin lnh khụng ch dng li dõn tc Hmụng m
ó lan sang c cỏc dõn tc khỏc nh dõn tc Dao, dõn tc Thỏi, dõn tc P
Thn
Nh vy, ch trong vũng mt thi gian ngn o Tin lnh ó xõm nhp v
phỏt trin nhiu tnh ca min nỳi phớa Bc nc ta, trc ht l Sn La, Lai
Chõu, sau ú l Lo Cai, Yờn Bỏi iu ỏng quan tõm l tỡnh hỡnh phỏt trin
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
của đạo Tin lành ở đây diễn ra rất nhanh chóng và để lại những hậu quả xã hơi
tiêu cực.
2.2. Ảnh hưởng của đạo Tin lành trong đồng bào dân tộc H’mơng ở một
số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
Mặc dù vẫn còn có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về ảnh hưởng của
đạo Tin lành trong đồng bào H’mơng, nhưng nhìn chung sự phát triển của đạo
Tin lành ở khu vực này đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống văn hố, kinh tế và
sinh hoạt của xã hội nói chung của đồng bào.
- Sự phát triển của đạo Tin lành ảnh hưởng tiêu cực đến văn hố, tín
ngưỡng truyền thống, phong tục tập qn của đồng bào H’mơng.
Cũng như nhiều dân tộc khác ở nước ta, dân tộc H’mơng đã có một nền
văn hố lâu đời, đặc sắc. Trước hết, đồng bào H’mơng là cộng đồng có bản lĩnh
và ý chí vượt lên mọi điều kiện hồn cảnh để tồn tại và khẳng định mình; họ cần
cù, chịu khó, kiên trì, bền bỉ, dễ tin và khi đã tin thường tìm mọi cách để theo
đuổi mục đích đã định. Truyền thống văn hố của người H’mơng rất đa dạng và
cũng rất độc đáo, biểu hiện qua các lễ hội, những câu chuyện cổ, dân ca, âm
nhạc, múa… Nhưng khi đạo Tin lành xuất hiện, những sinh hoạt văn hố truyền
thống đã và đang bị phá vỡ. Những tràng trai, cơ gái khơng còn những dịp để
thổi khèn, thổi sáo, khi có người chết khơng được khóc, khơng được thăm viếng,
chào hỏi người ngoại đạo, tết khơng đi ném còn, các lễ hội truyền thống cũng
mai một dần…
3 xã đòi tách, 2 xã trong 2 huyện có mâu thuẫn trong nội bộ Đảng về dòng họ, 9
xã trong 5 huyện có tranh chấp đất đai. Một điều đáng lưu ý là các sự việc trên
đều nằm trong vùng có đạo [16.72].
- Sự phát triển của đạo Tin lành làm cho đời sống kinh tế của đồng bào đã
khó khăn càng khó khăn hơn.
Từ năm 1987 trở lại đây, hiện tượng cúng đón vua Vàng chứ trong đồng
bào dân tộc H’mơng ở một số tỉnh liên tục diễn ra đã gây nên sự tốn kém tiền
của, cơng sức, thời gian của đồng bào. Để cúng đón Vàng chứ người dân phải
nộp tiền, phải bán thóc lúa, trâu, ngựa, lợn, gà, bạc trắng. Khi theo đạo bà con
cũng phải nộp “lệ phí theo đạo”, “tiền từ thiện”… Số tiền đó có thể là 10.000
đồng một hộ, 20.000 đồng hoặc có thể là 50.000 đồng một hộ tuỳ theo từng địa
phương [15]. Chỉ tính riêng ở huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai, tính đến năm 1999,
nhân dân đã bán đi 86 con trâu, ngựa, 800 đồng bạc trắng và nộp hàng chục triệu
đồng cho lực lượng truyền đạo. Ở tỉnh Sơn La năm 1996, đồng bào đã phải nộp
“quĩ đạo” là 20.000 đồng mỗi hộ để làm lễ nhúng nước, năm 1997 tại xã Chiềng
Ân (Mương La), bà con phải nộp 10.000 đồng để làm lễ Noel…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Nguy hiểm hơn, việc theo đạo Tin lành làm mất rất nhiều thời gian để sản
xuất và sinh hoạt của đồng bào. Cả tin theo những lời lẽ hoang đường của những
tên truyền đạo rằng “theo chúa Giê su thì có cuộc sống sung sướng, khơng làm
cũng có ăn”, “Theo Vàng chứ thì cái gì cũng có”, “cả nhà sẽ được bay lên trời
khơng phải làm nương” [35.35]. Từ đó một số người bỏ cả sản xuất, mổ trâu, bò,
lợn, gà và ngồi đợi sự cứu giúp của chúa. Thời gian lãng phí vào việc cầu
nguyện, nghe đài Manila, ở nhà ngày thứ năm và chủ nhật để đọc kinh thánh…
Sự xâm nhập và phát triển của đạo Tin lành cũng là ngun nhân của hiện
tượng di dân tự do của đồng bào H’mơng, bọn xấu tun truyền: “Muốn có vua
H’mơng, có tổ quốc riêng, thì bà con phải đi về phía Tây nơi mặt trời lặn”
[36.27]. Lời kêu gọi đó đánh trúng vào tâm lý của người H’mơng, gây nên tình
trạng di dịch cư hết sức phức tạp, từ đó gây nên những xáo trộn trong đời sống
đồng bào, tạo ra khó khăn cho việc quản lý xã hội của các cấp chính quyền, gây