Thực trạng niềm tin đối với đạo Tin lành của các tín đồ người Hmông ở một số tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam hiện nay - Pdf 25

Đại học học Quốc gia hà nội
Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
***

Tô Thúy Hạnh
Thực trạng niềm tin đối với Đạo Tin lành
của các tín đồ người Hmông ở một số tỉnh
miền núi Tây Bắc Việt Nam hiện nay Luận văn thạc sĩ tâm lý học Giáo viên hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Trần Quốc Thành Hà nội - 2009
1

Mục lục Mở đầu
Trang
1. Lý do chọn đề tài
3
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
4. Đối t-ợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4
5. Giả thuyết nghiên cứu
5
6. Ph-ơng pháp nghiên cứu
5
7. Cấu trúc của luận văn

24
1.4.1. Thành tố nhận thức
26
1.4.2. Thành tố xúc cảm, tình cảm
26
2

1.4.3. Thành tố ý chí hành động
26
1.5. Một số đặc điểm tâm lý của ng-ời Hmông
26
1.5.1. Tâm lý cộng đồng dân tộc, dòng họ truyền thống
27
1.5.2. Về nhận thức của dân tộc Hmông

1.5.3. Niềm tin, tín ng-ỡng tôn giáo của ng-ời Hmông rất phong phú,
đa dạng, phức tạp
27
1.6. Hiện t-ợng Vàng Trứ xuất hiện ở các tín đồ ng-ời Hmông
30
1.6.1. Vài nét sơ lợc về hiện tợng xng vua
31
1.6.2. Sự ra đời và phát triển hiện t-ợng Vàng Trứ
32
1.7. Đặc điểm niềm tin của các tín đồ đối với đạo Vàng Trứ - Tin lành
32
1.7.1. Niềm tin vào vàng Trứ- Đức Chúa Trời
33
1.7.2. Niềm tin vào sự tồn tại một thế giới khác, thế giới thứ hai
34


2.2.5. Ph-ơng pháp mô phỏng thống kê toán học
44
2.3. Tiểu kết ch-ơng 2
44
Ch-ơng 3. Kết quả nghiên cứu
45
3.1.Vài nét về đặc điểm đời sống tâm linh và sự chuyển đạo của ng-ời
Hmông
45
3.1.1. Dân tộc Hmông ở khu vực phía Bắc n-ớc ta dân số và các đặc
điểm kinh tế - xã hội
45
3.1.2. Đời sống tâm linh và sự chuyển đạo của dân tộc Hmông phía
Bắc n-ớc ta
51
3.2. Thực trạng niềm tin tôn giáo của ng-ời Hmông ở một số tỉnh phía
Bắc n-ớc ta hiện nay
67
3.2.1. Niềm tin vào Đức chúa trời Vàng Trứ
68
3.2.2. Niềm tin của các tín đồ Hmông vào sự tồn tại một thế giới khác
81
3.2.3. Niềm tin vào con ng-ời
88
3.3. Tiểu kết ch-ơng 3
89
Kết luận và kiến nghị

1. Kết luận

và có ý nghĩa thực tiễn cao hiện nay.
Một yếu tố quan trọng hàng đầu tác động đến sự phát triển đạo Tin lành là niềm
tin tôn giáo. Đây là thành tố tâm lý chủ yếu nhất của các tín đồ và của các tôn
giáo. Do vậy, việc nghiên cứu niềm tin tôn giáo của người Hmông sẽ giúp ta hiểu
được đời sống tâm lý tôn giáo của họ, lý giải được sự phát triển và ảnh hưởng của
đạo Tin lành đối với dân tộc này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực
trạng niềm tin đối với với đạo Tin lành của các tín đồ người Hmông ở một số tỉnh
miền núi Tây Bắc Việt Nam hiện nay”.

2. Mục đích nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng về niềm tin đối với đạo Tin lành của người
Hmông ở Tây Bắc đề xuất một số kiến nghị nhằm tạo niềm tin đúng đắn của tín đồ
người Hmông đối với đạo Tin lành, đồng thời phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt
tiêu cực của đạo Tin lành đối với họ.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về niềm tin đối với đạo Tin lành của các
tín đồ tôn giáo.
3.2. Nghiên cứu thực trạng về niềm tin đối với đạo Tin lành của người Hmông ở
khu vực phía Bắc nước ta hiện nay.
3.3. Đề xuất một số kiến nghị góp phần quản lý đạo Tin lành có hiệu quả hơn và
giúp cho các tín đồ không bị tác động tiêu cực của tôn giáo này.

4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng niềm tin đối với đạo Tin lành của người Hmông ở một số tỉnh miền
núi Tây Bắc Việt Nam.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
- Các tín đồ đạo Tin lành người Hmông: 200 người

- Phương pháp quan sát có tham dự.
- Phương pháp mô phỏng thông kê toán học.

7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phần
phụ lục, đề tài nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu.

Chương 1
Cơ sở lý luận của niềm tin đối với đạo tin lành
1.1. Tổng quan Lịch sử nghiên cứu về niềm tin tôn giáo
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Niềm tin tôn giáo được các tác giả phương Tây tìm hiểu từ nhiều góc độ khác
nhau. Có thể nêu ra một số quan niệm theo các khuynh hướng khác nhau về niềm
tin tôn giáo.
Có thể nói tôn giáo nói chung và niềm tin tôn giáo nói riêng được các nhà triết
học rất quan tâm. Họ đã nghiên cứu nguồn gốc nảy sinh niềm tin tôn giáo, cho rằng
tôn giáo là do các trạng thái tâm lý con người gây nên, với những nghiên cứu của
Đêmôcrit (460-370 TCN), Lútvích Phơbách (1804-1872). Các nhà triết học này
cho rằng: do điều kiện sống khó khăn và sự bế tắc đã tạo cho con người những
trạng thái tâm lý hoang mang, lo lắng và sợ hãi. Họ đã tin vào các lực lượng thần
thánh để giúp đỡ và che chở [7, tr.15]. Như vậy ngoài việc giải thích nguồn gốc
của niềm tin tôn giáo là do tác động của điều kiện xã hội, các nhà triết học còn đề
cập đến đối tượng của niềm tin tôn giáo hướng tới là các lực lượng thần thánh.
Trong các nghiên cứu của mình về tôn giáo, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -
Lê nin đều cho rằng niềm tin tôn giáo là niềm tin vào những đối tượng hư ảo,
không tồn tại trong thực tế. Niềm tin đó là do những bất lực của con người trước
cuộc đấu tranh chống thiên nhiên và trong cuộc đấu tranh chống giai cấp bóc lột.

truyền thống sang ki tô giáo. Trong khi phân tích các nguyên nhân này các tác giả
đã phân tích niềm tin của các tín đồ đối với đạo Tin lành như một yếu tố quan
trọng của việc chuyển đối tín ngưỡng.
Là một khía cạnh tâm lý đặc biệt của con người, niềm tin tôn giáo được nhiều
nhà tâm lý học quan tâm. P. Johnson, nhà Tâm lý học người Mĩ (1957), trong cuốn
“Tâm lý học tôn giáo”, theo tác giả, yếu tố quan trọng nhất dẫn đến nguồn gốc tâm
lý nảy sinh tôn giáo là sự sợ hãi, đặc biệt là sự sợ hãi trước cái chết [7, tr.16].
Năm 1914-1933, nhà Tâm lý học Mĩ, gốc Thụy Sĩ J.H. Leuba (1868-1946) đã
tiến hành nghiên cứu niềm tin tôn giáo của các nhà khoa học Mĩ và cho thấy tỷ lệ
đáng kể các nhà khoa học được hỏi tin vào Chúa. Năm 1916, tác giả viết cuốn
sách: “Niềm tin vào Chúa và sự bất tử”, trong đó đề cập đến nguồn gốc của niềm
tin tôn giáo. Niềm tin này được phát sinh từ hai nguồn: nhu cầu giải thích (do con
người muốn giải thích về các hiện tượng bí ẩn về cuộc sống) và nhu cầu tìm kiếm
sự giúp đỡ trong cuộc sống [7, tr.16].
Ngoài ra, nhà tâm lý học Nga D.M.Ugrinovich (1986) còn chỉ ra các đặc điểm
của nềm tin tôn giáo - đó là niềm tin hư ảo, niềm tin không có tính lôgíc và niềm
tin bền vững ở các tín đồ [7, tr.17].
Như vậy, các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã trình bày một số vấn
đề về tâm lý học tôn giáo, niềm tin tôn giáo. Khi lý giải các khía cạnh của niềm tin
tôn giáo, các nghiên cứu cũng đã đề cập tới đối tượng niềm tin tôn giáo hướng tới
là các lực lượng siêu nhiên (thần thánh, Thượng đế, Chúa Trời…). Tuy nhiên, các
công trình này mới chủ yếu đề cập đến nguồn gốc hình thành, nguyên nhân của
niềm tin tôn giáo.
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước
ở Việt Nam, trong hơn 10 năm qua đã có một số tác giả như Vương Duy Quang,
Trần Hữu Sơn, Trần Thanh Tâm, Vi Hoàng Bắc, Đặng Nghiêm Vạn… nghiên cứu
về việc ảnh hưởng của đạo Tin lành trong cộng đồng người Hmông ở phía Bắc
Việt Nam và sự chuyển đổi từ tín ngưỡng truyền thống của họ sang đạo Tin lành.
Năm 1996, Vương Duy Quang, khi nghiên cứu thực trạng vấn đề người Hmông
theo đạo ở tỉnh Lào Cai đã cho rằng niềm tin đối với đạo Tin lành của dân tộc

các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên [3]. Từ kết quả nghiên cứu của hai đề tài này,
tác giả đã chỉ ra một số vấn đề tâm lý của các tín đồ Tin lành ở Tây Nguyên như
nhận thức về đạo Tin lành của các dân tộc thiểu số là còn hạn chế, đưa ra các
nguyên nhân tâm lý dẫn các tín đồ đến với đạo Tin lành. Ngoài ra, trong nghiên
cứu của mình, tác giả còn phân tích một số hành vi tôn giáo phản ánh niềm tin tôn
giáo của các tín đồ.
Một số tác giả như Trương Ngôn, Phan Viết Phong, Hoàng Minh Đô đã
nghiên cứu nhận thức của các tín đồ đạo Tin lành, thực trạng tuyên truyền đạo Tin
lành vào Việt Nam trong thời gian qua.
Vương Kim Oanh đã tìm hiểu nhận thức và niềm tin đối với đạo Tin lành của
các dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai, khu vực Tây Nguyên.
Nhìn chung, các nghiên cứu về niềm tin tôn giáo đối với các dân tộc thiểu số ở
nước ta còn ít ỏi về cả mặt lý luận và thực tiễn, chỉ có ít một số công trình nghiên
cứu từ góc độ tâm lý học. Đồng thời, các công trình nghiên cứu trên cũng chưa đề
cập một cách hệ thống về lý luận và thực trạng niềm tin tôn giáo nói chung cũng
như niềm tin đối với đạo Tin lành của các tín đồ nói riêng.

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Tôn giáo
Tôn giáo là một trong những hiện tượng tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử xã hội
loài người. ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra các quan niệm
khác nhau về tôn giáo.

1.2.1.1. Dưới góc độ của các nhà nghiên cứu tôn giáo
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.ăngghen đã quan niệm về tôn giáo như
sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của
con người - của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ,
chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những lực lượng
siêu trần thế” [13, tr. 68-69]. Như vậy, tôn giáo được hiểu như là sự phản ánh hư
ảo những lực lượng không tồn tại trong cuộc sống thực tế của con người.

chí, nhiều khi cụm từ “tín ngưỡng tôn giáo” được dùng để nói về một tôn giáo nào
đó. Tuy nhiên, khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm không thể đồng
nhất những cũng có những điểm giao thoa.
Khái niệm tín ngưỡng có thể được hiểu như sau: Tín ngưỡng là niềm tin và
sự ngưỡng mộ về một lực lượng siêu nhiên hoặc một đối tượng nào đó mà cá nhân,
nhóm hoặc cộng đồng tôn thờ.
Như vậy, cả tôn giáo và tín ngưỡng đều nói tới niềm tin vào một lực lượng
siêu nhiên. Tuy nhiên, chúng có hai điểm khác nhau cơ bản:
- Thứ nhất, đối tượng của niềm tin trong tín ngưỡng rộng hơn trong tôn giáo.
Đối tượng của niềm tin trong tín ngưỡng có thể là lực lượng siêu nhiên (thần,
thánh…) như đối tượng của niềm tin tôn giáo nhưng ngoài ra, nó có thể là những
đối tượng khác như: người có công đối với đất nước, người có công sinh thành (tổ
tiên, cụ, ông bà, cha mẹ…).
- Thứ hai, niềm tin trong tín ngưỡng không bắt buộc phải tuân thủ theo những
quy định chặt chẽ như niềm tin trong tôn giáo (buộc các tín đồ phải chấp hành
nghiêm các luật lệ, nghi lễ của một tổ chức tôn giáo nhất định). Chẳng hạn như thờ
cúng tổ tiên, các vị vua hùng, anh hùng của dân tộc là tín ngưỡng. Việc thờ cúng
này không bắt buộc phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt. Nhưng với niềm
tin vào Đức Phật, Đức Chúa Trời… là niềm tin tôn giáo, đòi hỏi các tín đồ phải tự
giác tuân theo những quy định của tổ chức tôn giáo đó.
1.2.1.2. Dưới góc độ của nghiên cứu tâm lý học
Khi nghiên cứu về tâm lý học tôn giáo, nhà tâm lý học người Mỹ Paul E. John
cho rằng nguồn gốc chủ yếu của tôn giáo là do con người có nhu cầu bảo tồn các
giá trị. Từ đó, tác giả đưa ra bản chất của tôn giáo: thứ nhất là sự ham muốn các
giá trị, thứ hai là ý thức phụ quyền vào quyền lợi của các cá nhân mà có thể chấp
nhận các giá trị, thứ ba là phản ứng trong việc xem xét một cách chính đáng sự
thực hiện các giá trị bằng quyền lực. Với cách hiểu này, tôn giáo được xem như là
sự phản ảnh mối quan hệ giữa con người và Thượng đế, nguồn gốc tôn giáo là do
cảm xúc sợ hãi và sự tin tưởng vào Thượng đế của con người [7, tr. 27].
Tác giả Vũ Dũng đã phân tích sâu hơn tôn giáo dưới góc độ tâm lý tôn giáo -

1.2.3. Niềm tin tôn giáo
G.Gephund nghiên cứu niềm tin tôn giáo từ góc độ các thành phần tâm lý
cấu thành niềm tin. Ông cho rằng, tình cảm là đặc điểm cơ bản nhất của mọi tôn
giáo và là cơ sở của niềm tin tôn giáo [5, tr.54].
Theo E.Ôđôgerti, niềm tin tôn giáo là niềm tin hướng vào các lực lượng siêu
nhiên, tồn tại bên ngoài không gian, thời gian và không thể đạt được bằng kinh
nghiệm con người. Niềm tin đó không phải là kết quả của hoạt động nhận thức, mà
là tiền đề, điểm khởi đầu của hoạt động này, nguồn gốc của nó bắt nguồn từ “sự
ban phát của Thượng đế”. ở đây, tác giả đề cập đến đối tượng của niềm tin tôn
giáo, đối tượng đó không tồn tại trong hiện thực, đồng thời tác giả cũng giải thích
nguồn gốc của niềm tin đó, cũng nằm ngoài hiện thực [5, tr 54].
D.M. Ugrinôvich (1986) cho rằng, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào cái siêu
nhiên, chúng là những khách thể ảo tưởng, được tạo ra bởi trí tưởng tượng của con
người. Như vậy, với Ugrinôvich, ông đã giải thích rõ hơn quá trình nhận thức của
con người tham gia để tạo nên niềm tin tôn giáo, đó chính là tưởng tượng [5, tr.
54].
ở nước ta, vấn đề niềm tin tôn giáo cũng được một số các nhà nghiên cứu quan
tâm:
Vũ Dũng cho rằng niềm tin tôn giáo là niềm tin hư ảo, đó là niềm tin vào
các lực lượng siêu nhiên, vào một thế giới khác, niềm tin đó rất bền vững và không
có lôgic [1, tr.56 ].
Theo Đặng Nghiêm Vạn, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào một thế giới vô
hình, đến những siêu linh, mà chính con người tưởng tưọng, sáng tạo ra chúng, rồi
để chúng chi phối và tác động ngược trở lại đến đời sống trần tục [13].
Mai Xuân Hải cho rằng niềm tin tôn giáo là niềm tin vào một đấng siêu
nhiên là có thật, hằng hữu và vĩnh cửu. Nó không có, không thể và không cần tìm
thấy từ phép suy diễn lôgic hoặc từ các số liệu khoa học [4, tr.453].
Như vậy, các tác giả đều đã nêu lên những khía cạnh, đặc điểm nổi bật của
niềm tin tôn giáo. Với những quan niệm được đánh giá như trên, chúng tôi xin đưa
ra 2 điểm chung:

đồ (Đỗ Quang Hưng, 2006). Theo Tạp chí Operation World năm 1998 thì số
lượng tín đồ đạo Tin lành ở nước ta là 600.000 người. Số liệu này được giới chức
Tin lành Việt Nam cho là chính xác. Thực tế khó có thể thống kê chính xác số
lượng tín đồ của đạo Tin lành ở nước ta, vì số người theo đạo và bỏ đạo thay đổi
liên tục ở các địa phương. Các con số thống kê có được chỉ là tương đối ở một thời
điểm nhất định.
Các nhà nghiên cứu đều thấy rằng đạo Tin lành là một tôn giáo có đường
hướng và cách thức hoạt động rất linh hoạt, năng động, luôn đổi mới cho phù hợp
với hoàn cảnh xã hội. Tương tự, tác giả Nguyễn Hồng Dương cũng cho rằng đạo
Tin lành có đặc điểm là nghi lễ đơn giản, chủ trương tiết kiệm, khuyến khích làm
giàu và chống tệ nạn xã hội. Tuy trong quá trình truyền bá và phát triển của nó
cũng huỷ diệt nhiều nền văn hoá bản địa, gây nên không ít những thảm hoạ nhưng
Tin lành cũng tạo ra lối sống đạo đức lành mạnh [5, tr.27].
Dưới góc độ của tâm lý học xã hội, có thể đưa ra quan niệm về đạo Tin lành
như sau: “Đạo Tin lành là cộng đồng của các tín đồ mà từ nhận thức, niềm tin,
tình cảm và hành vi tôn giáo của họ đều hướng đến Đức Chúa Trời”.
Niềm tin trong giáo lý đạo Tin lành được hiểu theo thuyết Thiên Chúa ba ngôi
(Cha, Con và Thánh linh). Tin lành cho rằng Thiên Chúa tự tỏ lòng mình cho mỗi
người bằng Kinh thánh, tin là có Thiên đường, Địa ngục, tin là có Thánh nhưng
không thờ lạy họ.
Cách thức hoạt động của Tin lành luôn có đường hướng, lấy các hoạt động xã
hội làm phương tiện để thu hút các tín đồ. Tôn giáo này rất chú ý hướng công tác
truyền giáo đến những người dân các dân tộc thiểu số, nơi chưa có tôn giáo chính
thống. Khi truyền giáo ở những vùng này, Tin lành không những tôn trọng phong
tục, tập quán địa phương mà còn sẵn sàng đổi mới theo cách thức đơn giản hoá các
luật tục, lễ nghi để dễ hoà nhập vào môi trường xã hội, tâm lý, lối sống người dân.
Chính điều này đã làm cho Tin lành có khả năng duy trì tín ngưỡng trong điều kiện
không có giáo sỹ, không có nhà thờ…
ở Việt Nam hiện nay có hai hệ phái được công nhận với tư cách pháp nhân, đó
là Hội thánh Tin lành miền Bắc Việt Nam và Hội thánh Tin lành miền Nam Việt

được làm lễ Báp têm) và tín đồ chưa chính thức (chưa được làm lễ Báp têm).
Nói một cách khái quát, Tín đồ đạo Tin lành là những người từ 15 tuổi trở
lên, có niềm tin vào đạo Tin lành và được tổ chức giáo hội Tin lành thừa nhận.

1.2.6. Dân tộc thiểu số
Trong từ điển bách khoa, khái niệm dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít, cư
trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số
dân đông.
Như vậy, Dân tộc thiểu số là các dân tộc có số dân chiếm số ít so với một dân
tộc có số dân chiếm số đông nhất trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc.
Nước ta là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số và
có 53 dân tộc thiểu số như Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao, Bana, Êđê, Jarai, Brâu,
Hmông, Vân Kiều, Khơ mú…

1.3. Đặc điểm của niềm tin tôn giáo
1.3.1. Niềm tin tôn giáo là niềm tin hư ảo
Niềm tin tôn giáo là niềm tin vào các đối tượng không tồn tại trong hiện thực
nên con người không thể dùng những tri thức khách quan để nhận biết được. Niềm
tin đó mang tính chủ quan, không cần lý giải một cách khoa học. Tính hư ảo của
niềm tin tôn giáo thể hiện ở chỗ những người theo tôn giáo hướng đến các lực
lượng siêu nhiên, tìm kiếm sự che chở và giúp đỡ của các lực lượng này, ngoài ra
họ còn tin và hướng tới một cuộc sống ở thế giới khác, thế giới mà chỉ là ước vọng
của con người.
Hành động của các tín đồ diễn ra không theo các giai đoạn của hành động ý
chí. Cá nhân không có sự phân tích để tìm ra mặt hợp lý hay không hợp lý, không
có đấu tranh động cơ để đi đến một quyết định hành động đúng đắn. Các lực lượng
siêu nhiên, thế giới hư ảo do con người tự tạo nên bằng sự nhận thức và tình cảm
của mình hay do con người tự tưởng tượng ra. Đặng Nghiêm Vạn đã từng nhận
xét: “ Có thể nói rằng, con người tạo ra thần thánh để mà tin, không phải chỉ vì
cảm nhận thấy sự bất lực, sự kém cỏi mà còn xuất phát từ một nhu cầu muốn được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status