Cơ sở khoa học để hoạch định chính sách thương mại hai chiều (cung ứng vật tư, hàng hóa và thu mua nông sản hàng hóa) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía bắc - Pdf 13


Uỷ ban dân tộc Đề tài cấp bộ năm 2010

cơ sở khoa học để hoạch định chính sách thơng mại
hai chiều( cung ứng vật t, hàng hoá và thu mua nông
sản hàng hoá) ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc
(Báo cáo tổng hợp) Cơ quan quản lý đề tài: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện đề tài: Trờng Cán bộ dân tộc
Chủ nhiệm đề tài: ThS NCS. Nguyễn Văn Dũng
Th ký Đề tài: ThS. Phạm Thị Kim Cơng
Hà Nội, tháng 12 năm 2010

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết
. Những năm vừa qua, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với chính sách
cải cách, mở cửa và hội nhập, với sự cố gắng nỗ lực của đồng bào dân tộc thiểu số
,
kinh tế xã hội nói chung và thương mại, thị trường miền núi đã có nhiều khởi sắc,
giao lưu hàng hoá ngày một phát triển. Thế mạnh tiềm năng của đất rừng, tài
nguyên rừng đang từng bước đưa miền núi trở thành nền kinh tế hàng hoá gắn với

Hàng xuất khẩu có trên 100 mặt hàng, chủ yếu là nguyên liệu thô (chiếm
40%), nông sản, hải sản, lâm sản (chiếm 30%), hàng công nghiệp 30%. Hàng nhậ
p
khẩu gần 200 mặt hàng, trong đó nguyên liệu và thiết bị công nghiệp (chiếm 35%),
hàng tiêu dùng (chiếm 65%).

2
Bên cạnh các loại hình thương nghiệp, chợ được xem là bộ phận cấu thành
quan trọng của mạng lưới thương nghiệp xã hội ở mỗi vùng, địa phương, nhất là ở
các tỉnh miền núi vùng cao. Mặc dù hơn 60% cụm xã đã có chợ, song nhìn chung ở
các tỉnh miền núi, nhất là vùng cao, mạng lưới chợ còn rất thưa thớt, quy mô nhỏ,
cơ sở vật chất còn nghèo nàn.
Theo kết quả điề
u tra tính đến năm 2005, trên địa bàn cả nước có 7.719 chợ
các loại. chợ tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng (chiếm 19,1%). Vùng Tây Bắc
Bộ (chiếm 3,1%), Tây Nguyên (chiếm 4,9%), số liệu cho thấy vùng dân tộc thiểu
số chiếm tỷ thấp hơn hẳn so với khu vực khác.
Chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu chiếm 1,9% tổng số
chợ trên phạm vi cả nướ
c. Khu vực có chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh
tế cửa khẩu nhiều nhất là vùng Đông Bắc Bộ chiếm 45,6% của cả nước. Nhiều tỉnh
ở vùng Đông Bắc Bộ có đường biên giới rất dài với Trung Quốc, hơn nữa, hoạt
động biên mậu giữa Việt Nam và Trung Quốc đang ngày càng phát triển đã kéo
theo sự phát triển của các chợ tại các xã biên giới. Riêng tỉnh Hà Giang đã có 29
chợ
biên giới, cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu, nhiều nhất trong cả nước.
Bên cạnh kết quả đạt được, việc cung ứng vật tư, hàng hoá thiết yếu cho
đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế nhất định; hệ thống chợ nông thôn còn
nhiều bất cập (mạng lưới, quy mô, phương thức hoạt động v.v…), những hạn chế,
bất cập đó là:

chưa kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc.
Công tác xây dựng chính sách thương mại cho miền núi còn nhiều bất cập,
chưa được quan tâm đúng mức: hơn 20 năm mới có được một Nghị định của Chính
phủ, một Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị Định (Nghị định số 02/2002/NĐ-CP
ngày 03/1/2002 của Chính phủ sửa đổi Nghị định số
20/NĐ-CP về phát triển
thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc; Thông tư liên tịch số
07/2002/TTLT/BTM-UBDTMN-BTC-BKHĐT ngày 12/8/2002 liên tịch giữa Bộ
Thương mại, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 03/01/2002 và Nghị
định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31/3/1998 của Chính phủ về phát triển thương mại
miền núi, hả
i đảo và vùng đồng bào dân tộc); thị trường miền núi, vùng cao nơi tập
trung sự yếu kém sơ khai của nền thương nghiệp nhỏ đang trong giai đoạn quá độ
đi lên sản xuất hàng hoá và vẫn được xem là bộ phận kém phát triển nhất của thị
trường cả nước.
Sự kết hợp 4 nhà: “Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông”
còn chưa được chặt chẽ, thiếu tính lâu dài, bền vững, thiếu nh
ững cơ chế chính sách
kích hoạt cho sự phát triển dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh chưa được cao.
Công tác dự báo nhu cầu thị trường chưa được quan tâm đúng mức. Cung cấp đầy
đủ thông tin về nhu cầu thị trường nông sản trên thể giới và trong nước giúp định
hướng cho đồng bào đầu tư sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường,
tránh hiện tượng sả
n xuất vượt quá khả năng tiêu thụ của thị trường.
Từ sự phân tích trên, việc “cơ sở khoa học để hoạch định chính sách thương
mại 2 chiều (cung ứng vật tư, hàng hoá và thu mua nông sản hàng hoá) ở vùng
đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” là hết sức cấp bách và có nhiều giá trị
cả về lý luận lẫn thực tiễn trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay.
2. M

- Phương pháp điền dã dân tộc học
Ngày 29/10/2010 nhóm tác giả đề tài tổ chức hội thảo khoa học về thương
m
ại miền núi tỉnh Cao Bằng, có 23 đại biểu tham dự và có 9 báo cáo tham luận
trình bày tại hội thảo. Nhóm tác giả đã thu thập được rất nhiều tài liệu phản ánh
thực trạng và các giải pháp về phát triển thương mại miền núi của tỉnh Cao Bằng,
bên cạnh việc tổ chức hội thảo ở Trung ương và địa phương, nhóm tác giả đã điều
tra thông qua phiếu phỏng vấn cán bộ làm công tác dân tộ
c ở Trung ương và địa
phương, các hộ gia đình nông dân tỉnh Cao Bằng.
- Phương pháp kế thừa:
Kế thừa các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến đề tài đã công
bố ở trong và ngoài nước; ở Trung ương và địa phương; nhất là các kết quả điều
tra, các đề tài, dự án nghiên cứu do Uỷ ban Dân tộc, các Bộ ngành đã thực hiện
trong những năm gần đây.
- Phương pháp chuyên gia:
+ Ký hợp đồng vi
ết chuyên đề và các báo cáo khoa học với các nhà khoa học
và các nhà quản lý, các chuyên gia
+ Tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm tranh thủ các ý tưởng của các nhà khoa
học phục vụ cho đề tài.
5. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài kết cấu gồm 3 phần chính:

5
Chương1: Một số vấn đề lý luận về thương mại và các chính sách thương mại của
Đảng và Nhà nước trong thời gian qua.
Chương2: Thực trạng thương mại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
Chương3: Giải pháp và kiến nghị về thương mại vùng dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc.

tính hai mặt của hàng hóa để xem xét chức năng thuần túy của thương nghiệp, đó là
mua và bán. Ngày nay các nhà kinh tế học hiện đại cũng coi thương mại hoạt động
với chức năng chủ yếu là mua và bán hàng hóa và các dịch vụ mua bán kèm theo.
Thương nhân là cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức kinh tế hoạt động th
ương
mại một cách độc lập và thường xuyên, nhằm mục tiêu là đạt được lợi nhuận.
Như vậy, thương mại là hình thức trao đổi hàng hóa giữa cá nhân và nhóm,
thông qua việc mua và bán (trong nước và quốc tế) và dịch vụ thương mại. Công
thức chung trao đổi hàng hóa của thương mại là: “T - H - T”. Thương mại ứng tiền
trước để mua, dự trữ trong lưu thông, bán hàng và các dịch vụ để thu tiền về (trong
đó có các lo
ại chi phí và lợi nhuận thu được từ bán hàng).
Thương mại là ngành độc lập trong nền kinh tế quốc dân, nó không trực tiếp
sản xuất ra của cải vật chất, nhưng lại phục vụ cho quá trình sản xuất và tái sản
xuất. Trong toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân, người ta chia thành ba lĩnh
vực, đó là: sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp cà các hoạt động dịch vụ
.

7
Theo nghĩa rộng thì toàn bộ các ngành nghề hoạt động trong lĩnh vực lưu thông
hàng hóa như: thương mại, ngân hàng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, đầu tư;
các hoạt động phục vụ cho đời sống nhân dân như y tế, giao dục, nghệ thuật, bảo
hiểm vv đều thuộc về lĩnh vực dịch vụ. Theo nghĩa hẹp thì dịch vụ là những hoạt
động phục vụ cho một ngành, một lĩ
nh vực cụ thể nào đấy, dịch vụ ngân hàng, dịch
vụ du lịch, dịch vụ đầu tư…Như vậy, thương mại là một ngành trong lĩnh vực dịch
vụ. Đối tượng của thương mại là hàng hóa. Hàng hóa được phân theo tính chất của
sản phẩm, theo tiêu thức này người ta chia hàng hóa ra làm hai loại, một vật tư –
hàng hóa phục vụ cho sản xuất và hai là, hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng.
Vật tư, là những sả

trong một phạm vi hẹp.
Giữa những năm 30 của thế k
ỷ XX, hai nhà kinh tế người Thụy Điển là Eli
Heckscher và Bertil Ohlin dựa vào sự phong phú của nguồn lực từng quốc gia và

8
đưa ra kết luận: mỗi nước sẽ xuất khẩu loại hàng hóa, mà việc xuất khẩu nó cần sử
dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó; và ngược lại nhập khẩu hàng
hóa, mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và khan hiếm ở nước đó. Có thể giải
thích bản chất cơ bản của học thuy
ết như sau: nếu nước giầu về vốn thì sản xuất và
xuất khẩu các sản phẩm cần nhiều vốn hơn, và ngược lại, nước có lao động với giá
nhân công rẻ thì sản xuất và xuất khẩu nhiều sản phẩm sử dụng nhiều lao động.
Ngày nay, một số nhà kinh tế học hiện đại như P.A. Samuelson, W.
Stolper…cũng rất đề cao vai trò của thương mại (đặc biệ
t là thương mại quốc tế),
gắn hoạt động thương mại với tăng trưởng và phát triển kinh tế của từng quốc gia,
gắn thương mại với phân phối thu nhập, gắn thương mại với bảo vệ môi trường…
Những lý thuyết ít nhiều đã giải thích được vai trò, lợi thế của các quốc gia.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một lý thuyết nào giải thích đầy đủ và thấu
đáo về
khái niệm, bản chất của thương mại trong nước và thương mại quốc tế . Do đó, đây
là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và cần phải vận dụng vào những điều kiện
nhất định của từng quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Nước ta chuyển
từ nền kinh tế hành chính quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trườ
ng định hướng xã
hội chủ nghĩa, thì thương mại, nhất là thương mại quốc tế càng cần được nghiên
cứu và vận dụng đầy đủ hơn.
Sự tồn tại và phát triển của thương mại được xây dựng trên cơ sở sản xuất
hàng hóa và phân công lao động xã hội. Do đó, trình độ phát triển của sản xuất và

Thương mại, tiếng Anh là Trade, vừa có ý nghĩa là kinh doanh, vừa có ý
nghĩa là trao đổi hàng hóa dịch vụ. Ngoài ra, tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ
nữa là Business hoặc Commerce (tương đương với từ Business, Trade của tiếng
Anh) là sự buôn bán, mậu dịch hàng hóa dịch vụ. Tiếng La tinh, thương mại là
“Commercium” vừa có ý nghĩa mua bán hàng hóa, vừa có ý nghĩa hoạt động kinh
doanh. Theo từ đi
ển Nga-Việt xuất bản năm 1977 thì thương mại (TOPROBLR)
cũng được hiểu là mua bán kinh doanh hàng hóa. Như vậy, khái niệm thương mại
cần được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các loại hoạt động kinh doanh trên
thị trường. Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động
kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các ch
ủ thể kinh doanh trên thị trường. Theo
Pháp lệnh trọng tài thương mại, ngày 25/5/2002 thì hoạt động thương mại là việc
thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao
gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện; đại lý thương mại;
ký gửi; thuê và cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài
chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách
bằng
đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương
mại khác theo quy định của pháp luật.
Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị
trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng
hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi là ngoại
thương (kinh doanh quốc tế). Với cách tiếp cận này, theo luật Thương mại-1998,
thì các hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa; đạ
i diện cho thương nhân;
môi giới thương mại; ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công
thương mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa;
khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển

- Theo đối tượng tác động của chính sách, có các chính sách khác nhau về
thương mại đối với từng thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh
tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nướ
c ngoài); các chính
sách thương mại đặc thù đối với một số sản phẩm hoặc những khu vực đặc biệt (ví
dụ chính sách thương mại đối với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa)
- Theo cơ chế quản lý, có chính sách bảo hộ mậu dịch (ngăn sông cấm chợ);
chính sách tự do hóa thương mại.
- Theo các công cụ của chính sách thương mại, có các chính sách thuế quan,
phi thuế quan.
Đến lượt mình, các công cụ của chính sách thương mại th
ường được phân
loại thành các nhóm cụ thể khác.
Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối bởi vì các đối tượng quản lý
khác nhau đều chịu tác động của chính sách thương mại chung, đồng thời chịu tác
động của các chính sách thương mại đặc thù. Đặc biệt, trong điều kiện toàn cầu hóa
kinh tế hiện nay, chính sách thương mại nội địa và chính sách thương mại quốc tế
có mối quan hệ ch
ặt chẽ, tác động qua lại với nhau, rất khó phân biệt một cách rạch
ròi. Chính sách thương mại có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô

11
khác như chính sách đầu tư, chính sách tài chính…Chính sách thương mại quốc tế
nếu tách ra, gộp với chính sách đầu tư và hợp tác quốc tế sẽ thành nhóm chính sách
kinh tế đối ngoại của quốc gia. Còn chính sách thương mại nội địa nếu ghép với
các thể chế hoạt động của doanh nghiệp sẽ thành thể chế, chính sách quản lý của
doanh nghiệp.
Hơn nữa, bản thân chính sách thương mại là công cụ quản lý của nhà nướ
c
đối với hoạt động thương mại nhưng trong chính sách thương mại lại phải sử dụng

hàng hóa và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào thì thị trườ
ng cũng phát
triển theo trình độ đó.
Đối chiếu với những khái niệm này, có thể thấy trong nhiều năm trước đây, ở
miền núi luôn tồn tại nhận thức hàng hóa là những sản phẩm dùng không hết, được
đưa bán ở ngoài chợ, vì vậy nền nông nghiệp không thể thoát khỏi tình trạng manh

12
mún, kém hiệu quả và người dân miền núi chỉ có thể thỏa mãn được nhu cầu tối
thiểu ở trình độ thấp với mức nghèo hoặc thoát nghèo chứ không thể làm giàu trong
điều kiện hạn hẹp về nguồn lực. Mặc dù những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp
ở miền núi nước ta có những biến chuyển tích cực theo tính chất nền kinh tế thị
trường, chuyển từ s
ản xuất mang tính tự cung tự cấp, hoặc sản xuất hàng hóa nhỏ
sang phát triển sản xuất hàng hóa với việc bước đầu hình thành vùng sản xuất tập
trung, chuyên canh lớn trên cơ sở khai thác lợi thế của từng vùng; Từ mở rộng sản
xuất theo số lượng sang từng bước coi trọng chất lượng phục vụ nhu cầu tiêu dùng
ngày càng cao; Từ tính toán chủ yếu bằng hiện vật sang tính toán giá trị, nâng cao
thu nh
ập, hiệu quả sử dụng đất đai. Những kết quả bước đầu ở một số vùng miền
núi đã gợi mở những cách thức làm ăn mới cho người dân miền núi trong cơ chế thị
trường và để giúp đỡ những người nông dân miền núi phát triển sản xuất hàng hóa,
một trong những vấn đề quan trọng cần phải tính đến trong quá trình phát triển sản
xuất hàng hóa ở
miền núi là thị trường tiêu thụ. Đây là vướng mắc lớn nhất lâu nay
chưa được giải quyết một cách căn bản. Nguyên lý cơ bản của nền kinh tế thị
trường là ‘‘ sản xuất và đưa ra thị trường cái mà thị trường cần, chứ không phải đưa
ra thị trường cái mà mình sẵn có’’. Trong thời gian qua, những khó khăn trong tiêu
thụ nhiều loại nông sản ở miền núi có nguyên nhân chủ yếu t
ừ chỗ sản xuất theo

không thể xem nhẹ việc hỗ trợ tạo lập và phát triển các loại thị trường như trên.
Do vậy, có thể thấy để phát triển thị trường tiêu thụ hàng nông sản cho miền
núi một cách bền vững, c
ần phải quan tâm đồng bộ đến khía cạnh phát triển của
cung, cầu và môi trường kinh tế với những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản
xuất, mua bán hàng hóa.
1.1.4. Mục tiêu, nội dung, công cụ của chính sách thương mại
* Mục tiêu chính sách thương mại
Mục tiêu tổng quát của chính sách thương mại là phát triển thị trường trong
nước gắn với mở rộng thị trường quốc tế, cuối cùng
để thúc đẩy sản xuất trong
nước phát triển, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước
trong từng giai đoạn.
Mục tiêu cụ thể của chính sách thương mại bao gồm:
- Phát triển hoạt động thương mại tương xứng với yêu cầu sản xuất và tiêu
dùng, mở rộng giao lưu quốc tế, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế;
- Phát triển thị trường ngày càng vă
n minh, hiện đại, giảm dần các tiêu cực
của cơ chế thị trường;
- Bảo vệ lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường bao gồm người sản xuất,
người buôn bán, người tiêu dùng, nhà nước, cộng đồng;
- Tăng quy mô và hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách thương m
ại thường được coi là
phương cách, đường lối hoặc tiến trình dẫn dắt hành động trong khi phân bổ sử
dụng các nguồn lực của doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân. Nó được coi như là
phương tiện để đạt được các mục tiêu. Chính sách bao gồm: Những hướng dẫn, các
quy tắc, quy định và thủ tục được thiết lập để hậu thuẫn cho các nỗ lực hành động.
Như vậy, chính sách th

nghiệp sản xuất hàng thay thế nhập khẩu cho thị trường trong nước. cạnh tranh với
hàng nhập, bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải giảm phí, tăng năng suất và
nâng cao chất lượng sản phẩm và có sức cạnh tranh tốt hơn.
Chính sách thương mạ
i được coi là một trong các yếu tố cấu thành của một
chiến lược tổng hợp, nhằm khuyến khích xuất khẩu và phát triển công nghiệp.
Cùng với các chính sách khác có liên quan, chính sách thương mại tác động đồng
bộ đến việc tạo lập môi trường vĩ mô ổn định, cơ sở hạ tầng tốt, lực lượng lao động
có học vấn và được đào tạo ở trình độ cao, hệ thố
ng tài chính nhạy bén; Chính sách
thương mại khuyến khích việc tiếp nhận công nghệ mới và thúc đẩy cạnh tranh.
Như vậy, nhiệm vụ của chính sách thương mại có thể thay đổi qua mỗi thời
kỳ, nhưng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động thương mại theo
hướng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mục tiêu chính
của chính sách thương mạ
i xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của Đảng và nhà nước và bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu ấy.
* Nội dung chính sách thương mại ở Việt Nam
- Chính sách thương nhân
Đây là chính sách rất quan trọng của nhà nước trong lĩnh vực thương mại.
Chính sách này quy định các điều kiện, thủ tục đăng ký kinh doanh và phạm vi hoạt
động của thương nhân.

15
Chính sách thương nhân quy định việc đăng ký kinh doanh được thực hiện
tại các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Theo
quy định của Chính phủ, cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) và huyện, quận, thị xã, thành phố
trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), bao gồm: phòng đăng ký kinh doanh
trong sở kế hoạ

vệ môi trường, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nơi doanh nghiệp
hoạt động; thành lập quỹ dự trữ theo quy định của Nhà nước; thực hiện đầy đủ và
trung thực chế độ kế toán thống kê theo pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước.
Chính sách thương nhân còn quy định những lĩnh v
ực và ngành hàng thương nhân
không được kinh doanh.

16
Đối với thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam phải
theo đúng pháp luật của Việt Nam đã quy định. Thương nhân nước ngoài có đủ
điều kiện theo quy định pháp luật Việt Nam được phép đặt văn phòng đại diện, chi
nhánh tại Việt Nam. Tổ chức và hoạt động của văn phòng đại diện, chi nhánh của
thương nhân nước ngoài tại Việt Nam được quy định tại Lu
ật Thương mại năm
2005 và các văn bản pháp luật của Chính phủ và Bộ Công Thương.
- Chính sách thị trường
Chính sách thị trường có tầm quan trọng đặc biệt cho sự phát triển của nền
kinh tế và dẫn dắt các doanh nghiệp hoạt động, hạn chế các rủi ro. Chính sách thị
trường của Nhà nước đặt ra những nhiệm vụ ở cấp Chính Phủ, cấp Bộ nhằm khai
thông những c
ản trở trên thị trường.
Đối với thị trường trong nước phải bảo đảm tập trung nguồn lực để thúc đẩy
sản xuất hàng hóa, quy hoạch và cơ cấu lại để có những vùng chuyên canh sản xuất
hàng hóa lớn; bảo đảm hệ thống lưu thông hàng hóa thông suốt giữa các vùng, các
địa phương. Chính sách thị trường trong nước phải bảo đảm cho sản xuất lưu thông
và tiêu dùng hàng hóa cân đối, tránh những khủ
ng hoảng, bất ổn trên thị trường.
Chính sách thị trường trong nước còn phải thúc đẩy để hình thành đồng bộ
các loại thị trường, thực hiện chính sách nhất quán, ổn định để các chủ thể kinh
doanh chủ động với các tình thế trên thị trường. Xây dựng thị trường thống nhất

trọng đưa vào cân đố
i của nhà nước và do nhà nước quản lý tập trung. Danh mục
mặt hàng này bao gồm tư liệu sản xuất và mặt hàng tiêu dùng có ý nghĩa quyết định
đến an ninh quốc gia, những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của đất nước, các mặt
hàng cạnh tranh cấp quốc gia. Các vùng, các địa phương, các bộ ngành cùng xây
dựng chính sách mặt hàng của cấp mình. Chính sách mặt hàng bao gồm nhiều tầng,
vừa bảo đảm tính đa dạng, phong phú về ch
ủng loại, vừa có mũi nhọn, chiều sâu ở
cấp quốc gia, cũng như các cấp, các đơn vị của nền kinh tế quốc dân. Chính sách
mặt hàng quốc gia phải bảo đảm được cơ cấu mặt hàng hợp lý. Cơ cấu mặt hàng
phải phù hợp với nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. Cơ cấu mặt hàng là quan
hệ tỷ lệ giữa các mặ
t hàng, nhóm hàng so với tổng số. Mặt hàng đi vào lưu thông
phải có chất lượng, mặt hàng qua chế biến phải chiếm tỷ trọng ngày càng cao.
Nội dung chủ yếu thứ hai của chính sách mặt hàng là chính sách thay thế mặt
hàng nhập khẩu. Đây là những mặt hàng mà sản xuất trong nước đã đáp ứng được
yêu cầu về số lượng, chất lượng và đủ sức cạnh tranh. Những mặt hàng này dựa
trên lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lao động và công nghệ sản xuất tiên tiến. Đây
cũng là những mặt hàng chiếm ưu thế trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu trên thị
trường trong nước. Nhà nước có chính sách hợp lý để phát triển các mặt hàng thay
thế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu.
Chính sách mặt hàng còn quy định các mặt hàng lưu thông có điều kiện và mặt
hàng cấm lưu thông trên thị trường trong nước, cấ
m xuất khẩu, nhập khẩu. Danh
mục mặt hàng này do Chính phủ quy định. Đây là những mặt hàng có ảnh hưởng
lớn đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Các mặt hàng bị cấm buôn bán
theo quy định của công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia…
- Chính sách đầu tư phát triển thương mại
Phát triển thị trường và thương mại từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp
theo, cần có chính sách và giải pháp phát triển v

nghiệp thương mại bình quân thấp. Do đó, đi đôi với tổ chức lại doanh nghiệp thương
mại nhà nước phải tập trung đầu tư vốn để hình thành các doanh nghiệp thương mại nhà
nước có quy mô lớn đủ sức cạnh tranh cả trên thị trường trong và ngoài nước, tăng
cườ
ng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp thương mại.
Cần áp dụng tổng hợp các chính sách và giải pháp tạo vốn, sử dụng vốn, tăng
cường khả năng tài chính cho doanh nghiệp thương mại; tạo điều kiện tái đầu tư phát
triển kinh doanh; tăng cường phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt
động thương mại có hiệu quả
cũng là nhằm mục tiêu thúc đẩy sự hình thành và phát
triển các thị trường hàng hóa, tăng trưởng nhanh nền kinh tế đất nước.
- Công cụ chủ yếu của chính sách thương mại
+ Công cụ thuế:
Thuế là công cụ phổ biến nhất của chính sách thương mại. Thuế đánh vào
hàng hóa được chia ra thành hai loại – thuế nội địa và thuế quan.
Thuế nội địa: là thuế đánh vào hàng hóa được buôn bán trên thị trường nội
địa bao gồm cả hàng hóa sản xuất trong nước và nhập khẩu. Thuế nội địa mang tính
chất gián thu, có tác động ảnh hưởng làm tăng giá thị trường và làm hạn chế mức
tiêu dùng, qua đó điều tiết sản xuất và thương mại.
Thuế quan: là thuế đánh vào hàng hóa khi di chuyển qua biên giới giữa hai
nước. Nếu nhập khẩu phải chịu thuế thì được gọi là thuế nhập khẩu, khi xuất khẩ
u
hàng hóa phải chịu thuế thì được gọi là thuế xuất khẩu. Ngoài ra, hàng quá cảnh
phải chịu thuế quá cảnh. Mục đích của thuế quan có thể rất khác nhau; tăng thu
ngân sách nhà nước, bảo hộ thị trường nội địa, điều tiết cung cầu, giá cả trên thị

19
trường nội địa… Hiện nay, trong xu thế tự do hóa thương mại, công cụ thuế quan
được ưu tiên sử dụng nhưng thuế ngày càng giảm để khuyến khích xuất nhập khẩu.
+ Các công cụ không mang tính chất thuế quan (phi thuế quan)

chế hay khuyến khích xuấ
t nhập khẩu.
+ Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ nước này tính theo đồng tiền của
nước khác. Tỷ giá hối đoái tác động mạnh tới cán cân thanh toán quốc tế do nó có
tác động trực tiếp đến xuất, nhập khẩu và đến đầu tư của một quốc gia. Trong hoạt
động xuất, nhập khẩu, tỷ giá hối đoái tác
động trực tiếp tới sức cạnh tranh của hàng
hóa. Khi tỷ giá tăng sẽ khuyến khích xuất khẩu, tỷ giá giảm sẽ khuyến khích nhập
khẩu. Do đó, nhà nước có thể phá giá đồng nội tệ để khuyến khích xuất khẩu. Tuy
nhiên, sử dụng công cụ tỷ giá để điều tiết xuất, nhập khẩu có thể gây tác động tiêu

20
cực tới những cân đối vĩ mô khác của nền kinh tế nên chính phủ phải rất thận trọng
khi sử dụng.
1.1.5. Chức năng, nhiệm vụ của thương mại
- Chức năng của thương mại
Thương mại được tổ chức thành một ngành kinh tế có những chức năng cơ
bản sau đây:
+ Quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong nước và với nước ngoài. Với
chức năng này, ngành thương mại phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu thị
trường hàng hóa, dịch vụ; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhằm thỏa
mãn tốt mọi nhu cầu của xã hội; thiết lập hợp lý các mối quan hệ kinh tế trong nền
kinh tế quốc dân và thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ trong quá trình
kinh doanh. Để thực hiện chức năng này, ngành thương m
ại phải có đội ngũ lao
động chuyên nghiệp, có hệ thống quản lý kinh doanh và có tài sản cố định và tài
sản lưu động riêng.
+ Thông qua quá trình lưu thông hàng hóa, Chức năng của thương mại thực
hiện tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông. Thực hiện chức năng này,

mại-dịch vụ, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế.
1.1.6. Đặc điểm cơ bản của thương mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Thương mại là một lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó các chủ thể thực
hi
ện việc mua bán, trao đổi hàng hóa bằng các phương thức khác nhau. Thương
mại ra đời cùng với nền kinh tế hàng hóa và ngày càng phát triển. Cho đến nay,
thương mại là một ngành kinh tế phát triển ở trình độ cao với quy mô rộng lớn
trong nền kinh tế quốc dân của các nước, chiếm tỷ trọng đáng kể trong cấu thành
khu vực dịch vụ.
Thương mại tuy không phải là một ngành sản xuất vật chất độc lập, nh
ưng
lại có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất
và quá trình chuyên môn hóa, giải quyết vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước.
Thương mại trong điều kiện hiện nay chịu ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu
hóa kinh tế và phát triển nền kinh tế tri thức. Nó không chỉ đóng vai trò cung cấp
đầu vào và giải quyết đầu ra cho sản xuấ
t, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng
hóa của toàn xã hội mà còn đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc góp phần
khai thác tiềm năng và lợi thế so với từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia;
phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và có hiệu quả; thúc đẩy tiến bộ khoa học và
công nghệ để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế
, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Chính vì thế, hoạt
động thương mại ngày càng không hạn chế ở việc buôn bán các hàng hóa vật thể
truyền thống mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới như cả thương mại dịch vụ,
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ… Ở nhiều nước phát triển,
thương mại thường được hiểu rộ
ng đến mức nhiều khi rất khó phân biệt gianh giới
hoạt động thương mại với các hoạt động khác.
Ở nước ta, Điều 5 Luật thương mại ban hành năm 1997 qui định: “Hoạt động

gia trên toàn thế giới.
1.1.7. Vai trò, chính sách của thương mại
- Vai trò của thương mại:
Là một ngành của nền kinh tế quốc dân, thương mại có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta. Xác định rõ vai trò củ
a thương mại cho phép tác
động đúng hướng và tạo được những điều kiện cho thương mại phát triển. Vai trò
của thương mại được biểu hiện như sau:
Phát triển thương mại là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.
Thông qua hoạt động thương mại trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua bán
được các hàng hóa, dịch vụ. Điều đó bảo đảm cho quá trình tái sả
n xuất được tiến
hành bình thường, lưu thông hàng hóa dịch vụ thông suốt. Vì vậy, không có hoạt
động thương mại phát triển thì sản xuất hàng hóa không thể phát triển.
Thông qua việc mua bán hàng hóa dịch vụ trên thị trường, thương mại có vai trò
quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức hưởng thụ của
các cá nhân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất và mở rộng phân công
lao động xã hội, thực hiện cách mạng khoa họ
c công nghệ trong các ngành của nền
kinh tế quốc dân.
Trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thị trường trong
nước có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường ngoài nước thông qua hoạt động thương
mại. Sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương sẽ bảo đảm mở rộng thị trường các
yếu tố đầu vào, đầ
u ra của thị trường trong nước và bảo đảm sự cân bằng giữa hai
thị trường đó. Vì vậy, thương mại có vai trò là cầu nối gắn kết nền kinh tế trong
nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mở cửa.
Thương mại tăng cường mối liên kết kinh tế trong nước và quốc tế, giữa thành
thị và nông thôn, giữa các vùng trong cả nước. Trong xu thế toàn cầu hóa, m
ở cửa

mại càng phát triể
n sẽ thúc đẩy sản xuất càng mở rộng, thương mại tạo điệu kiện
cho sản xuất sử dụng có hiệu quả lợi thế và tiềm năng của từng địa phương, từng
quốc gia. C.Mác quan niệm rằng: khi thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng
ra, thì quy mô sản xuất cũng sẽ tăng lên, sự phân công trong sản xuất cũng trở nên
sâu s
ắc hơn.
Nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp rất cần máy móc, phân
bón, thuốc trừ sâu của công nghiệp và ngược lại, công nghiệp phát triển rất cần
nguyên liệu, lương thực do nông nghiệp sản xuất ra. Như vậy, thương mại có chức
năng vô cùng quan trọng là cầu nối thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời phục vụ
sản xuất. Ở đây, th
ương mại không chỉ bán tư liệu, nguyên liệu sản xuất, mà còn
làm nhiệm vụ môi giới để tiêu thụ sản phẩm của những người sản xuất hàng hóa,
góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Thương mại, ngoài vai trò phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển, còn
hướng dẫn sản xuất làm cho sản xuất ngày càng đa dạng, phù hợp vớ
i nhu cầu và
thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng. Thương mại (nội thương) tìm hiểu nhu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status