Hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai - Pdf 33

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống
và diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội một cách sinh động. Hệ thống
chính trị cơ sở có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta, là
cấp trực tiếp tổ chức, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, củng cố và tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi
nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi ở nước ta có những đặc
điểm riêng khác với ở phường, thị trấn và các xã vùng đồng bằng. Bởi vì, nơi
đây có vị trí chiến lược về an ninh - quốc phòng; trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp; tính đa diện trong văn hóa tộc người; trình độ dân trí chưa cao; sự
phức tạp, nhạy cảm trong vấn đề dân tộc, tôn giáo…Chính những đặc điểm ấy
đã làm cho vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc
thiểu số miền núi trở nên đặc biệt quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng của địa phương.
Thời gian qua, với sự quan tâm, lãnh chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, hệ
thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi ở nước ta đã
từng bước được kiện toàn, đạt hiệu quả cao trong tổ chức và hoạt động. Tuy
vậy, hệ thống chính trị vùng này vẫn còn những yếu kém và hạn chế cần khắc
phục như: chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong hệ
thống chính trị cấp xã; nội dung và phương thức hoạt động chưa đáp ứng yêu
cầu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi; trình độ văn
hóa, quản lý và năng lực điều hành công việc thực tiễn của cán bộ cấp xã
vùng dân tộc thiểu số miền núi còn nhiều hạn chế…Điều này càng bộc lộ rõ
hơn trong giai đoạn dân chủ hóa hiện nay, nhất là từ khi thực hiện Quy chế


2
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (1998) và Pháp lệnh thực hiện dân

đổi mới về nội dung và phương thức, bảo đảm thiết thực và hiệu quả
hơn. Nội bộ cấp uỷ đoàn kết, thống nhất, sự đồng thuận trong Đảng,
chính quyền và nhân dân ngày càng tăng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nói trên, hệ thống chính trị cấp xã
vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai vẫn đứng trước những khó khăn,
thách thức không nhỏ: Tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất đoàn kết nội bộ
xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các
bộ phận trong hệ thống chính trị cơ sở chưa được xác định rành mạch, trách
nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới; đội ngũ
cán bộ xã ít được đào tạo, bồi dưỡng… Trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng các
vấn đề dân tộc, tôn giáo, những khó khăn trong đời sống của đồng bào và
những hạn chế, yếu kém của hệ thống chính trị các cấp để nói xấu Đảng, Nhà
nước, hòng làm mất lòng tin của đồng bào vào đường lối chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt
ra đối với hệ thống chính trị ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào
Cai hiện nay là nhiệm vụ hết sức bức thiết. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề
tài: “Hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào
Cai” làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Triết học, chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xuất phát từ vai trò, vị trí, chức năng của hệ thống chính trị trong đời
sống xã hội, việc nghiên cứu hệ thống chính trị nói chung, về hệ thống chính
trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng trên từng khu vực, vùng,
miền, địa phương và vai trò của chúng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu trên những bình diện khác nhau, qua đó hình thành nhiều ấn phẩm có giá
trị ở cả tầm lý luận và thực tiễn. Điển hình là:



5
“Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm ở nước ta
hiện nay” của Nguyễn Đức Ngọc (Luận án tiến sĩ triết học 2009), qua nghiên
cứu hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm, tác giả đã chỉ ra những
thành tựu, hạn chế và yếu kém trong tổ chức và hoạt động của hệ thống này
cũng như nguyên nhân của nó. Từ đó, xác định quan điểm, phương hướng và
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ
sở vùng dân tộc Chăm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
“Đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện xóa đói, giảm nghèo qua Chương
trình 135 giai đoạn II” của Giàng Seo Phử (Tạp chí Cộng sản, số 816/2010),
bài viết khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
vùng đồng bào dân tộc và miền núi (giai đoạn 2006 - 2010) được thực hiện
trên địa bàn 50 tỉnh của đất nước. Từ những con số cụ thể, tác giả đã có
những đánh giá sát thực, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm hết sức
quý giá nhằm tiếp tục thực hiện Chương trình xóa đói, giảm nghèo giai đoạn
II đạt kết quả cao hơn.
“Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, hoàn thành tốt
các mục tiêu, kế hoạch đề ra” của Nguyễn Phú Trọng (Tạp chí Cộng sản, số
829/2011), bài viết đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội đất nước, nguyên
nhân của những khó khăn, thách thức hiện nay và xu hướng phát triển trong
thời gian tới. Từ đó, định hướng các giải pháp chủ yếu mà cả hệ thống chính
trị phải đồng tâm hiệp lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển
biến thực sự trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế,
nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Bên cạnh đó nhấn mạnh định
hướng chính sách, biện pháp bảo đảm an ninh lương thực gắn với bảo vệ môi
trường sinh thái, bảo đảm an ninh năng lượng và giữ vững ổn định chính trị,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Ngoài ra, một số công trình, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí
khoa học chuyên ngành cũng bàn về vấn đề náy dưới nhiều hình thức và mức




7
lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu phát triển
hiện nay.
Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá quan niệm về hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào
dân tộc thiểu số và vai trò của nó đối với sự phát triển.
- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong hoạt động của hệ thống
chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai hiện nay.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số
tỉnh Lào Cai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng và những vấn
đề đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở
tỉnh Lào Cai.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hệ thống chính trị cấp xã
vùng đồng bào dân tộc thiểu số (không bao gồm: các phường, thị trấn) của
tỉnh Lào Cai trong những năm đầu thế kỷ XXI.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam, của tỉnh Lào Cai về những vấn đề liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu: Quá trình giải quyết những nội dung trong
luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp của phép biện chứng duy
vật (như phân tích và tổng hợp, lịch sử và lô gic, hệ thống và cấu trúc…), các
phương pháp so sánh, điều tra, thống kê, nghiên cứu văn bản…
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ thực trạng hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu

của chúng - là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất, là con đẻ của
giai đoạn lịch sử nhất định trong sự phát triển của nền văn minh loài người,
hay nói chính xác hơn là thời gian xuất hiện các giai cấp và mâu thuẫn đối
kháng giai cấp. Và như vậy, từ khi xuất hiện các giai cấp và đối kháng giai
cấp cho tới khi nào mức năng suất lao động của con người còn chưa đạt tới
ranh giới cho phép xóa bỏ những khác biệt giai cấp trong việc thừa hưởng
phúc lợi vật chất, chưa xóa bỏ sự khác biệt giai cấp thì chính trị, hệ thống
chính trị và tổ chức chính trị của xã hội, trước và sau này cũng vậy, vẫn sẽ là
những thuộc tính của đời sống xã hội.
Trong mọi xã hội có giai cấp, đối kháng giai cấp, quyền lực của giai cấp
cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị
nhất định. Đó là hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức trong xã hội bao gồm
các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được
liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình
của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù
hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Như vậy, hệ thống chính trị gắn liền với sự phân chia giai cấp trong xã
hội, nhưng giai cấp không phải là hiện tượng vĩnh hằng. Loài người đã và sẽ
trải qua các thời kỳ khác nhau của xã hội: xã hội chưa có giai cấp và đối


10
kháng giai cấp; xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp; và cuối cùng, lại trở
về xã hội không có giai cấp và đối kháng giai cấp, nhưng ở một trình độ cao
hơn. Từ một xã hội này chuyển sang một xã hội khác phải trải qua những thời
kỳ quá độ khác nhau và để chuyển từ một xã hội có giai cấp và đối kháng giai
cấp sang một xã hội không còn giai cấp và đối kháng giai cấp tất yếu phải trải
qua một thời kỳ quá độ chính trị lâu dài - thời kỳ chuyên chính cách mạng của
giai cấp vô sản, thời kỳ tồn tại hệ thống chính trị của giai cấp công nhân và nhân

và phát triển xã hội. Đây là các tổ chức hợp pháp theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật, được nhà nước bảo trợ, hoạt động công khai, nhằm thực hiện và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Theo chiều dọc, cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các
tổ chức và các quan hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan
hệ về cấp độ nhìn theo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống. Cấp
độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể) được quy
định theo từng cấp với vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền khác nhau, thể hiện
mối quan hệ thứ bậc giữa cấp trên và cấp dưới trong phạm vi một tổ chức. Hệ
thống chính trị ở nước ta được cấu thành bởi các tổ chức nêu trên cũng có các cấp
độ này, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa phương
và cơ sở, phản ánh sự phân cấp về quyền lực trong HTCT.
Theo chiều ngang, hệ thống chính trị được biểu hiện thông qua mối quan
hệ về vị trí, vai trò và quyền hạn giữa các tổ chức khác nhau trong tổng thể
của hệ thống, bao gồm: Đảng chính trị, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức
chính trị - xã hội. Nếu như ở cấp trung ương, đảng chính trị giữ vai trò lãnh
đạo chung, nhà nước giữ vai trò quản lý chung thông qua các hoạt động đặc
thù, Mặt trận và các tổ chức chính trị giữ vai trò tập hợp lực lượng, tạo lập
khối đại đoàn kết, hiệp thương chính trị...; thì, ở cấp địa phương, mỗi chân rết
của các tổ chức nói trên sẽ chịu trách nhiệm chính các nhiệm vụ tương ứng,
song trong một địa bàn và không gian cụ thể.


12
Cơ sở là khái niệm để chỉ một cấp trong hệ thống quản lý hành chính của
Nhà nước chứ không phải là tất cả mọi loại hình cơ sở nói chung, đó chính là
xã, phường, thị trấn. Ở nước ta hiện nay, do số lượng xã chiếm đa số, gắn với
sản xuất và dân cư nông nghiệp nên trong quản lý hành chính hiện hành gọi
chung xã, phường, thị trấn là cấp xã. Đây là cấp cuối cùng trong hệ thống
quản lý hành chính, là cấp gần và sát dân nhất nên còn được gọi là cấp cơ sở.

- Đảng bộ hay Chi bộ cơ sở, mà nòng cốt là Ban Chấp hành Đảng bộ là
hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc ra các
nghị quyết, chỉ thị định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt động quản
lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của các đảng viên trong bộ
máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng việc giới
thiệu đảng viên ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và
các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng công tác tuyên truyền, vận động
thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám
sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật pháp, chính sách của
Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên.
- Chính quyền là trụ cột của HTCT cấp cơ sở, có vai trò quản lý, điều
hành toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp
và pháp luật. Trong chính quyền cơ sở, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở
cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trên địa
bàn, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên đại bàn theo
quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng
nhân dân, là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở. Ủy ban nhân dân thực hiện
những nhiệm vụ theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân, những nhiệm vụ do cơ
quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đôn
đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản của địa phương.
- Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng tuyên
truyền, vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện đường lối, chủ


14
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương của
chính quyền cơ sở; củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chăm lo lợi ích và bên vực quyền lợi chính
đáng của hội viên, đoàn viên; đồng thời thực hiện chức năng giám sát đối với
hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở và

Các xã, phường, thị trấn lại có sự khác nhau về thành phần dân cư; về
tôn giáo, văn hóa; về kinh tế (nông nghiệp, thủ công, công nghiệp, thương
mại, dịch vụ...); khác nhau về mức độ đô thị hóa, kết cấu hạ tầng, trình độ dân
trí, mức sống, trình độ phát triển...
Thậm chí, ngay trong cùng một loại hình cơ sở như ở xã cũng có sự khác
nhau đáng kể. Các xã và cùng với nó là các thôn, bản, làng, ấp, buôn, phum sóc ở nước ta hết sức đa dạng, ở đồng bằng khác với ở trung du, miền núi, hải
đảo; ở miền Bắc khác với miền Trung và miền Nam; ở thành thị khác với
nông thôn; ở vùng đồng bào Kinh khác với vùng dân tộc thiểu số; ở vùng dân
tộc thiểu số này khác với vùng dân tộc thiểu số khác.
Các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là nơi cư trú
và sinh sống của hầu hết các tộc người thiểu số (> 50%). Trong quá trình đổi
mới, phát triển kinh tế - xã hội trên cả nước đã cho chúng ta thấy, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số là vùng có sự phát triển chậm nhất so với sự phát triển
chung của đất nước. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình
trạng trên là do sự yếu kém của HTCT cấp xã. Bởi vậy, nghiên cứu về HTCT
cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là việc làm có ý
nghĩa hết sức quan trọng.
Nghiên cứu HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số không có
nghĩa là tách biệt hệ thống này, mà ngược lại, cần được hiểu là một sự khu
biệt hóa nhằm làm rõ những đặc điểm, vai trò cụ thể của hệ thống này. Từ đó
cung cấp cho chúng ta những cơ sở lý luận, thực tiễn để xây dựng mô hình tổ
chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của HTCT cấp xã, đồng


16
thời giải quyết các vấn đề trong công tác cán bộ cho phù hợp với đặc thù vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay là
một bộ phận nằm trong HTCT cấp xã nói chung (xã, phường, thị trấn), do
vậy, theo quy định, hệ thống này cũng gồm ba bộ phận: Tổ chức đảng ở xã

nối dài’’ là đội ngũ trưởng thôn bản, song thôn, bản không phải là một cấp
hành chính độc lập; cấp thôn không có ngân sách, con dấu, không có tư cách
pháp nhân. Vì vậy, cấp xã vẫn là cấp cuối cùng trong hệ thống quản lý hành
chính nói riêng và trong HTCT Việt Nam nói chung.
Hai là, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là thiết chế,
phương tiện căn bản nhất để thực hiện dân chủ, nâng cao quyền làm chủ của
nhân dân.
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có mối quan hệ chặt chẽ
với đồng bào các dân tộc, cho nên nó vừa là phương tiện căn bản nhất để
đồng bào thực hiện quyền làm chủ của mình, vừa là yếu tố đóng vai trò quyết
định quá trình thực thi dân chủ. Điều này được quy định bởi:
- Đây là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Quy
chế dân chủ ở cơ sở ra đời nhằm phát huy và bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Quyền
làm chủ của đồng bào các dân tộc thiểu số trên những lĩnh vực này muốn
được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống phải thông qua HTCT tại địa
phương.
- Là hệ thống quyền lực của nhân dân nói chung, của đồng bào các dân
tộc thiểu số ở các xã nói riêng, HTCT cấp xã là tổ chức hạt nhân, là thiết chế
tổ chức và thực hiện các quy định, các nguyên tắc theo mục tiêu dân chủ. Mọi
quy chế, chương trình, kế hoạch và hành động do HTCT cấp xã vùng đồng
bào dân tộc thiểu số xây dựng và thực hiện nên đều nhằm cụ thể hóa mục tiêu
dân chủ; đồng thời tạo nên những điều kiện thuận tiện và phương thức hoạt
động phù hợp để các dân tộc thiểu số thực hiện quyền làm chủ của mình tại
cơ sở.


18
- Đây là nơi trực tiếp giải quyết những vướng mắc của nhân dân các dân tộc,
củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước.

Cán bộ chuyên trách ở các xã là những người được bầu cử theo nhiệm kỳ
nên thường xuyên biến động, lại không được ổn định trong suốt nhiệm kỳ do
Đại hội Đảng bộ cấp cơ sở giữa nhiệm kỳ dẫn đến sự thay đổi cán bộ cơ sở
khoảng 30% - 40%, thậm chí có nơi là 50%.
Tính biến động, vị trí công tác, vấn đề đãi ngộ, lợi ích... không ổn định
nên khó khăn cho việc thu hút những người có học vấn cao ở lại hoặc về làm
cán bộ tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tế hiện nay phần lớn
đội ngũ cán bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta là những người
trưởng thành từ các phong trào địa phương, số còn lại là những người đã trải
qua thời gian quân ngũ trở về địa phương tham gia công tác Đảng, chính
quyền và các tổ chức chính trị - xã hội. Họ không phải là những người được
đào tạo chính quy, chuyên nghiệp để trở thành những người làm công tác
quản lý, tổ chức và lãnh đạo. Đây là lý do giải thích tại sao trong đội ngũ cán
bộ cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở
nước ta hiện nay vẫn còn cán bộ chưa biết chữ, số cán bộ có trình độ học vấn
tiểu học, trung học cơ sở chiếm tỷ lệ tương đối cao.
Bốn là, đây là nơi chịu sự tác động, ảnh hưởng rất lớn từ các thiết chế xã
hội cổ truyền cũng như phương thức tự quản của cộng đồng dân cư.
Đây là nét đặc thù do đặc điểm dân tộc và truyền thống lịch sử nước ta.
Ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, các thiết chế xã hội cổ truyền vẫn còn có
những ảnh hưởng và tác động rất lớn đến đời sống của cộng đồng dân cư nói
chung, đến tổ chức và hoạt động của HTCT cấp xã nói riêng.
Ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thiết chế xã hội cổ truyền
tồn tại hết sức đa dạng, tùy thuộc vào lịch sử và trình độ phát triển kinh tế - xã
hội ở từng dân tộc khác nhau, đó là bản - mường - chiềng (ở các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc), buôn - plei - bon (ở các dân tộc thiểu số Trường Sơn Tây Nguyên), phum - sóc (ở dân tộc Khmer Nam Bộ)...


20
Nói đến các thiết chế xã hội cổ truyền là nói đến những cộng đồng có

bào các dân tộc, đồng thời nó cũng là nhân tố quan trọng chi phối hoạt động
của HTCT các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mặt khác, do địa bàn rộng, cư dân ở phân tán, nên các tổ chức đoàn thể
chính trị - xã hội hoạt động hết sức khó khăn; phải tốn nhiều thời gian và công
sức hơn so với các xã vùng đồng bằng, vùng tộc người kinh, nếu xét cùng tiến
hành một công việc cụ thể.
1.2.2. Vai trò của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở
nước ta hiện nay
Trải qua gần 25 năm đổi mới đất nước, Đảng và nhân dân ta đã đạt được
những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy
nhiên, những kết quả đó không giống nhau giữa các vùng, tỉnh, giữa các dân
tộc. Đến nay, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn được coi là vùng chậm phát
triển nhất so với sự phát triển chung của cả nước. Tình trạng trên do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có một phần không nhỏ xuất
phát từ sự yếu kém của HTCT nơi đây. Điều này cho thấy, một mặt, Đảng và
Nhà nước cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác củng cố, kiện toàn
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số; mặt khác, cũng cho thấy vai
trò đặc biệt quan trọng của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện
nay. Đó là:
Thứ nhất: Đây là cấp trực tiếp đưa đường lối, chủ trương và chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc trong vùng.
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có chức năng, nhiệm vụ
thông tin, tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước đến đồng bào các dân tộc trên địa bàn; làm cho người dân hiểu
rõ chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước và từ đó có ý thức tự giác thực hiện.
Ngoài ra, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn là nơi cụ thể
hóa các Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thành các





23
Ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số thường có ít nhất từ hai dân tộc
trở lên cùng chung sống. Sự cư trú đan xen giữa các dân tộc có thể dẫn đến
hai khuynh hướng đối lập nhau.
Một là, đoàn kết, đùm bọc, che chở lẫn nhau được hình thành do phải
chung sức chống chọi thiên tai, phát triển sản xuất, chống giặc ngoại xâm, bảo
vệ quê hương, làng bản. Vì vậy, đoàn kết là ý thức thường trực và là khuynh
hướng chủ đạo, mang tính phổ biến, xuyên suốt trong quan hệ giữa các dân
tộc ở nước ta.
Hai là, do các dân tộc sống đan xen nhau, có nhiều điểm khác nhau về
văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tâm lý tộc người, về lợi ích cụ thể
nên xét ở khả năng nào đó, lại dễ đưa đến việc mất đoàn kết dân tộc. Đặc biệt,
trước sức ép về dân số ngày một tăng, đất canh tác giảm dần, những nguồn lợi
thu được từ tự nhiên bị thu hẹp và ngày càng cạn kiệt, thì mầm mống xung
đột dân tộc vẫn là yếu tố tiềm ẩn. Trong điều kiện nêu trên, nếu HTCT cấp xã
vùng đồng bào dân tộc thiểu số không vững mạnh, không kịp thời giải quyết
dứt điểm các vướng mắc trong nội bộ nhân dân thì tình trạng mâu thuẫn dân
tộc dễ nảy sinh, nhất là khi các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn lợi
dụng điều này nhằm kích động gây chia rẽ dân tộc. Đây là vấn đề đã từng xảy
ra ở một số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta.
Do vậy, nếu HTCT cấp xã vùng đồng bào các dân tộc giải quyết tốt
những vấn đề trên ngay từ địa bàn của mình, sẽ góp phần củng cố mối quan
hệ vững chắc giữa quần chúng nhân dân với Đảng và chính quyền, tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo lập sự ổn định tích cực, vững chắc
để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới và phát triển ở địa phương.
Thứ tư: Đây là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổ biến và thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc tham gia quản lý nhà
nước và xã hội.

HTCT cấp trên.


25
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là cấp tổ chức và quản lý
trên địa bàn có đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, mang tính đặc thù
cao. Thông qua công tác tổ chức thực tiễn, năng lực của cán bộ sẽ được lượng
hóa một cách cụ thể qua hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Mặc dù công tác tại đây đội ngũ cán bộ sẽ gặp nhiều khó khăn, thử thách hơn
các vùng khác, song cũng chính nơi đây lại giúp cho cán bộ có thêm nhiều
kinh nghiệm thực tiễn, dần hoàn thiện năng lực và kỹ năng lãnh đạo, quản lý,
điều hành. Những kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động, từ sự góp ý, phản biện
của nhân dân sẽ giúp cho đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành nhanh chóng
về mọi mặt.
Thứ bảy, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có vai trò quan
trọng trong việc xây dựng nông thôn mới.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010
- 2020 là chương trình lớn và toàn diện lần đầu tiên được thực hiện tại nước ta
trên quy mô cả nước. Đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết “tam nông” (Nông
nghiệp, nông dân, nông thôn) của Đảng trong tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội, chính trị và quốc phòng - an ninh thông qua các chỉ tiêu phát triển cụ thể
cho từng lĩnh vực.
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương, phải xây dựng
nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi
trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status