ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN VĂN LAI
ĐẠO TIN LÀNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một hình thái ý thức xã hội, trong suốt quá trình phát triển của
lịch sử nhân loại, tôn giáo luôn chứng tỏ là một hiện tượng xã hội đặc
biệt, đa dạng, phức tạp, có liên quan chặt chẽ đến những biến động xã hội,
sắc tộc và không ngừng tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì
thế, chính phủ của các quốc gia trên thế giới nói chung, Đảng và Nhà
nước Việt Nam nói riêng luôn coi việc giải quyết vấn đề dân tộc và tôn
giáo là một nhiệm vụ có tính chiến lược, ổn định vấn đề dân tộc và tôn
giáo là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy kinh tế - xã hội nước ta phát triển.
Đạo Tin Lành là một trong sáu tôn giáo lớn ở nước ta, có hệ thống
giáo lý, luật lệ, lễ nghi, hệ thống tổ chức khác với các tôn giáo khác và
đóng vai trò nhất định đối với đời sống xã hội. So với các tôn giáo từ
bên ngoài vào Việt Nam, đạo Tin Lành có lịch sử du nhập muộn nhất,
nhưng sau khi du nhập đạo Tin Lành nhanh chóng tìm được chỗ đứng
cho mình trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Đây là địa
bàn chiến lược của nước ta có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, là nơi tồn tại nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và cũng
là nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang cư trú với trình độ sản
xuất còn thấp kém, song đời sống văn hóa tinh thần rất đặc sắc và
phong phú. Trong những năm gần đây, đạo Tin Lành ở Tây Nguyên
phát triển với tốc độ nhanh trên diện rộng, nhiều hệ phái mới được hình
thành, nhiều cơ sở thờ tự được xây mới, sửa sang khang trang hơn.
Đồng bào dân tộc thiểu số sinh hoạt đạo ngày một đông và thường
xuyên hơn. Quan niệm Thiên Chúa quan phòng, sinh hoạt đạo nhẹ
nhàng, dân chủ, đạo Tin Lành đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với đời
sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Đạo Tin Lành bù đắp một phần
những thiếu hụt về tinh thần, đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu
của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Với giáo lý
Bên cạnh đó, công tác dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên thời gian
qua đã bộc lộ những bất cập: cán bộ thiếu về số lượng, hạn chế về chất
lượng, cán bộ chưa thật sự gần dân; các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư,
Pháp lệnh… về tôn giáo chưa hoàn thiện nên đã ảnh hưởng nhất định
đến công tác tôn giáo.
Trước tình hình đó cần phải quan tâm nghiên cứu và có biện pháp
phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực của đạo Tin Lành đối với
quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên. Đó là lý do tác giả chọn: “Đạo Tin Lành và ảnh hưởng
của nó đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ
Triết học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Đạo Tin Lành là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới và ở
Việt Nam nên đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của không ít các nhà
3 khoa học trong và ngoài nước. Các công trình đã công bố có thể khái
quát thành các hướng chính sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về đạo Tin Lành và những đóng góp của đạo
Tin Lành cho xã hội, phải kể đến các công trình sau: Max Weber
(2010), Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản (Bùi Văn
Nam Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng, Trần Hữu Quang dịch), Nhà
xuất bản Tri thức, Hà Nội; TS. Trác Tân Bình (2007), Lý giải tôn giáo,
Nhà xuất bản Hà Nội; TS. Đỗ Minh Hợp, TS. Nguyễn Anh Tuấn, TS.
Nguyễn Thanh, Ths. Lê Hải Thanh (2005), Tôn giáo lý luận xưa và
nay, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; Hoàng Tâm
Xuyên (1999), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nhà xuất bản Chính trị
Thứ ba, nghiên cứu về nguyên nhân phát triển cùng các hoạt động
của đạo Tin Lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hoặc
một địa phương của Tây Nguyên, có các công trình tiêu biểu sau: Nông
Văn Lưu (1995), Thực trạng tình hình phục hồi, phát triển đạo Tin Lành
ở các vùng dân tộc thiểu số miền núi nước ta và những vấn đề đặt ra đối
với công tác an ninh, Đề tài khoa học cấp Bộ Công an, Hà Nội; Đỗ Hữu
Nghiêm (1995), Đạo Tin Lành với các dân tộc ít người vùng Nam
Trường Sơn - Tây Nguyên, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh; Trần
Xuân Thu (1994), Nguyên nhân, điều kiện phục hồi và phát triển đạo
Tin Lành trong đồng bào dân tộc Jrai, Bahnar những năm từ 1989-
1994, Đề tài khoa học cấp Bộ Công an, Công an tỉnh Gia Lai thực hiện,
Gia Lai; TS. Nguyễn Văn Nam (2001), Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên đặc
điểm và giải pháp thực hiện chính sách, Công trình nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, Hà Nội; TS. Hoàng Tăng Cường (2004), Các yếu tố ảnh hưởng
đến việc thực hiện chính sách kinh tế văn hóa - xã hội trên địa bàn Tây
Nguyên - những vấn đề đặt ra đối với an ninh trật tự, Đề tài khoa học
cấp Bộ Công an, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại tá Đinh Ngọc Từng
(2005), Đạo Tin Lành ở Đăk Lăk - Những vấn đề đặt ra đối với công tác
an ninh trật tự, Đề tài khoa học cấp Bộ Công an, Nhà xuất bản Công an
nhân dân, Hà Nội; Vương Thị Kim Oanh (2006), Nguyên nhân tâm lý xã
hội của sự phục hồi, phát triển đạo Tin Lành trong đồng bào các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên và những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh,
Đề tài khoa học cấp Bộ Công an, Hà Nội; Đoàn Triệu Long (2006), Hoạt
động truyền đạo Tin Lành trái phép ở Gia Lai – Thực trạng và giải
pháp, Luận văn thạc sĩ khoa học tôn giáo, Hà Nội; Nguyễn Thái Bình
(2010), Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và
việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Tin Lành ở Gia Lai hiện
nay, Luận án tiến sĩ triết học, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về nội dung nhất định
trong Kinh thánh; một số tạp chí, tài liệu, văn bản, nghị quyết, chủ
hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo Tin Lành đến quá trình phát triển
kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án: Luận án nghiên cứu đạo Tin
Lành trên thế giới; quá trình du nhập, phát triển đạo Tin Lành vùng
đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cùng những ảnh hưởng của nó
đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Tuy nhiên, để có tính
liên tục và lôgíc, đề tài sẽ đề cập đến những vấn đề thuộc giai đoạn
trước năm 1986.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về
vấn đề dân tộc và tôn giáo. Ngoài ra, luận án còn sử dụng kết hợp với
6 một số phương pháp cụ thể: phân tích và tổng hợp; so sánh; lôgíc và
lịch sử; phương pháp phỏng vấn; phương pháp điều tra xã hội học; sử
dụng các kết quả nghiên cứu điều tra xã hội học của các công trình đã
công bố ở nước ta có liên quan trực tiếp đến đề tài.
5. Cái mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới về khoa học sau đây:
- Khái quát có hệ thống vai trò của đạo Tin Lành trong đời sống
xã hội.
- Luận án phân tích có hệ thống dưới góc độ triết học ảnh hưởng
của đạo Tin Lành đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong cộng
đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính định hướng nhằm khắc
phục tác động tiêu cực và phát huy ảnh hưởng tích cực của đạo Tin
Lành đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân
ĐẠO TIN LÀNH VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN
LÀNH TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN
1.1. Khái quát về đạo Tin Lành và vai trò của đạo Tin Lành
trong đời sống xã hội
1.1.1. Khái quát về đạo Tin Lành
Đạo Tin Lành ra đời từ phong trào cải cách tôn giáo lần thứ hai tại
châu Âu thế kỷ XVI. Đây là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân,
song nguyên nhân sâu xa là do bối cảnh kinh tế - xã hội châu Âu lúc đó.
Sự ra đời của Tin Lành ở châu Âu là kết quả tổng hợp của những biến
động xã hội cả về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa tư tưởng.
Tư tưởng được coi là chủ đạo, xuyên suốt và chi phối mọi hoạt
động tôn giáo của Tin Lành đó là học thuyết về mối quan hệ trực tiếp
giữa con người và Thiên Chúa nên ở Tin Lành đức tin được đặc biệt đề
cao. Chúa trực tiếp ban lại cho con người mọi điều bình an may mắn.
Đây là một trong những quan niệm đổi mới của Tin Lành, một bước cải
tiến quan trọng trong đời sống đức tin khiến người ta cảm thấy Chúa thật
gần gũi, Chúa thực sự tồn tại trong tâm mỗi người và xét ở góc độ tôn
giáo, Tin Lành đã phần nào đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo
quần chúng nhân dân muốn thoát khỏi xiềng xích phong kiến và hệ
thống lễ giáo hà khắc để vươn tới tự do. Học thuyết này không những
đem lại cho con người một nhận thức mới về đức tin mà còn phá bỏ địa
vị đứng đầu quyền lực Giáo hội đối với chính quyền thế tục và vai trò
thống trị của giáo hội Công giáo và Giáo hoàng La Mã, khiến người ta
cảm thấy niềm tin vào Chúa là ý nguyện tự do ở mỗi cá nhân và Chúa
của Tin Lành thật gần gũi, dễ tiếp nhận.
Do chịu ảnh hưởng của lối sống tư sản, nghi lễ tôn giáo ở Tin Lành
được tiến hành đơn giản, không cầu kỳ, không rườm rà. Tin Lành phản
đối các nghi lễ phức tạp, bày vẽ và nô lệ. Các nghi lễ của Tin Lành không
cần thông qua giáo sĩ. Chính đặc điểm này đã tạo cho Tin Lành một
phong cách tôn giáo riêng, dễ nhận biết đó là sự đơn giản về hình thức. Là
1.2. Những đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội và quá trình du
nhập, phát triển đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên
1.2.1. Những đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên – cơ sở xã hội cho sự du nhập và phát
triển đạo Tin Lành
Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và cơ cấu dân cư của địa
bàn Tây Nguyên. Tây Nguyên (tên gọi tắt vùng cao nguyên thuộc miền
Tây Trung Bộ) có nhiều lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, như tài
9 nguyên đất; tài nguyên nước; tài nguyên rừng; khoáng sản và tài nguyên
khí hậu. Với vị trí trọng yếu về địa kinh tế, chính trị và quốc phòng cho
nên các nhà phân tích và hoạch định chiến lược cho rằng, Tây Nguyên
vừa có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng và an ninh, vừa có điều
kiện để phát triển một nền kinh tế mở, nắm được Tây Nguyên sẽ khống
chế được toàn bộ vùng duyên hải miền Trung cũng như cửa ngõ Sài
Gòn, vùng Đông Nam bộ, khống chế khu vực ngã ba biên giới Việt Nam
- Lào - Campuchia.
Sống trên đất Tây Nguyên ngày nay gồm hai bộ phận dân cư chính:
những cư dân bản địa, tại chỗ và những cư dân nơi khác đến tạo cho Tây
Nguyên đa sắc thái về văn hóa. Việc sống xen kẽ giữa hai khối dân cư
hoặc giữa các tộc người của khối cư dân bản địa có tác động hai mặt vừa
tích cực, vừa tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong cộng
đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Tổ chức xã hội cơ bản truyền thống (làng) của đồng bào các
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên với sự du nhập và phát triển của đạo
Tin Lành. Cơ cấu làng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên làm
cho đồng bào chỉ biết đến làng, chưa biết đến các tổ chức xã hội cao
tại trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; mức độ ảnh hưởng ít
đối với đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, nhiều
người nhạt đạo, bỏ đạo. Tuy nhiên, đạo Tin Lành có những chuyển biến
bất thường, đó là hoạt động truyền đạo trái phép với những phương thức
rất tinh vi, có tính toán cho từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể.
Thứ ba, giai đoạn từ 1986 đến nay. Đạo Tin Lành trong cộng đồng
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đang trở thành vần đề quần chúng rộng
rãi, có nhiều diễn biến phức tạp. Đạo Tin Lành mang tính chất liên kết
chặt chẽ từ cấp chi hội, địa hạt, liên hội, tổng liên hội; từ cấp tỉnh đến
huyện, xã, thôn; liên kết chặt chẽ với các tổ chức Tin Lành trong và
ngoài nước.
1.2.3. Nguyên nhân phát triển đạo Tin Lành trong cộng đồng dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay
Sự phát triển đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân sâu
xa là do sự thay đổi của cơ sở kinh tế, tổ chức xã hội - làng. Nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến sự phát triển của đạo Tin Lành là: Thứ nhất, sự
mất dần của vai trò luật tục, của tổ chức xã hội truyền thống và nền văn
hóa tín ngưỡng cổ truyền, của già làng, trưởng dòng họ, dòng tộc làm
giảm sút đề kháng của văn hóa dân tộc, tập tục là điều kiện thuận lợi để
Tin Lành xâm nhập và phát triển. Bởi vậy, đạo Tin Lành đã kịp thời nắm
bắt nhu cầu, nhanh chóng xâm nhập vào trong đời sống của đồng bào, dễ
dàng gây ra sự phân hóa của cộng đồng dân tộc và một bộ phận không
nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số tìm đến đạo Tin Lành. Thứ hai, trình độ
dân trí thấp, khủng hoảng về tinh thần, tâm lý đã làm thay đổi nhu cầu
nhận thức tín ngưỡng tôn giáo. Với trình độ dân trí thấp nên đồng bào
dân tộc thiểu số dễ bị khủng hoảng tinh thần khi gặp khó khăn, trở ngại
11
, cho nên tôn giáo
Tin Lành lôi kéo con người tin theo sức mạnh, quyền năng của lực lượng
siêu nhiên, suy nghĩ và hoạt động của con người bị phủ mờ trước sức
mạnh của đấng sáng tạo; và lẽ tất nhiên ngăn cản tinh thần đấu tranh
cách mạng của xã hội loài người vượt ra khỏi thế giới thần quyền, điều
này thể hiện rõ ở tính chính trị của tôn giáo nói chung và Tin Lành nói
riêng. Đây chính là mặt hạn chế của đạo Tin Lành.
1
C.Mác & Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1995, tr.570.
12 Quá trình du nhập và phát triển đạo Tin Lành trong cộng đồng dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên gồm nhiều giai đoạn và do nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân từ nhu cầu sinh hoạt đời sống tinh thần
của người dân theo đạo; sự tích cực truyền đạo của các giáo sĩ; yếu kém
trong quản lý của cấp chính quyền cơ sở và âm mưu lợi dụng tôn giáo
trong chiến lược “Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch cùng các
tác nhân khác từ bên ngoài. Từ những nguyên nhân này, đặt ra yêu cầu
các ngành các cấp phải lấy chính sách tôn giáo và dân tộc của Đảng và
Nhà nước ta làm hệ quy chiếu trong việc thực hiện các chính sách kinh tế
- xã hội trên địa bàn Tây Nguyên. Đấu tranh có hiệu quả với các thế lực
thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo nhằm thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa
bình” đối với nước ta.
Những nội dung trên đã khái quát bức tranh tổng thể của đạo Tin
Lành và đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Điều đó làm tiền đề để nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến
quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên.
đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
Các nhà truyền đạo của Tin Lành không những tích cực nhiều lần
truyền đạo mà còn sử dụng nhiều phương tiện và chú ý nghiên cứu
phong tục, tập quán của các đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên, chi
phối và điều khiển người có uy tín, già làng, những người có học để hỗ
trợ cho công cuộc truyền giáo.
2.2.4. Đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên thường bị thế lực thù địch lợi dụng trong hoạt động truyền giáo
Thực tế các thế lực thù địch đang lợi dụng Tin Lành để chống phá
ta, phá hoại cuộc sống bình yên, cản trở sự nghiệp xây dựng một xã hội
xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Đạo Tin Lành không còn
là một hiện tượng tôn giáo thuần túy, mà bị các thế lực thù địch lợi dụng,
làm cho tình hình trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên diễn
biến phức tạp nhằm đạt mưu đồ chính trị của thế lực thù địch chống phá
cách mạng nước ta.
2.2. Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến quá trình phát triển kinh
tế - xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
2.2.1. Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống kinh tế
Người dân Tây Nguyên, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ
kinh tế xã hội ở điểm xuất phát thấp, khai thác tự nhiên còn chiếm vị trí
chủ yếu. Xã hội khép kín và gần như xa lạ với bên ngoài. Khi tiếp nhận
Tin Lành, đời sống kinh tế của họ có nhiều chuyển biến: Giảm thiểu các
lễ cúng thần trong mùa sản xuất và thu hoạch; đồng bào biết đổi mới
công cụ và phương pháp sản xuất; đạo Tin Lành góp phần vào việc
truyền thụ kỹ thuật làm lúa nước; trang bị cho đồng bào cách nghĩ, cách
làm của thành viên trong xã hội công nghiệp; giúp đồng bào dân tộc
14
thuộc tổ chức "Tin Lành Đêga"còn đưa ra những luận điệu kích động
"Các anh theo Tin Lành Việt Nam cũng không được hoạt động công
khai, vẫn phải lén lút như chúng tôi và vẫn bị phân biệt đối xử. Như vậy
thì theo làm gì?"
2
.
2
Ban Dân tộc và tôn giáo tỉnh Gia Lai, Báo cáo tổng kết công tác quản lý tôn giáo, năm 2002, tr. 7-8.
15 Với những nội dung tuyên truyền như trên tất yếu gây nên hậu quả
nghiêm trọng của việc truyền đạo Tin Lành trái phép: làm cho tình hình
an ninh trật tự diễn biến phức tạp và để lại hậu quả nghiêm trọng trên
nhiều mặt, ảnh hưởng xấu đến việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh,
quốc phòng, đoàn kết giữa các dân tộc và xây dựng hệ thống chính trị ở
cơ sở.
2.2.3. Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đạo đức, lối sống
Trải qua quá trình tồn tại lâu dài cùng dân tộc, đạo Tin Lành ở Việt
Nam nói chung và đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên nói riêng có vai trò nhất định trong việc góp phần củng cố đạo
đức xã hội. Những chuẩn mực đạo đức của đạo Tin Lành là các qui tắc
ứng xử của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội, chủ yếu là qui định
những việc phải làm và không được làm. Đó là những lời răn về cách
ứng xử cụ thể của con người với con người. Những lời răn đó tạo thành
một hệ thống qui định, qui phạm mà tín đồ của Tin Lành phải tuân thủ.
Thứ nhất, đạo Tin Lành răn dạy con người tin vào Đức Chúa Trời
trong thực hiện hành vi ứng xử, giúp con người sống hữu ích hơn. Giáo
lý của đạo Tin Lành cùng những hoạt động tôn giáo thuần túy của đồng
lên án những hình thức luyến ái như đồng tính, tiền hôn nhân, ngoại hôn
nhân, đa thê, loạn luân, vô luân…; vợ chồng, cha mẹ, con cái và mọi
người trong gia đình phải có lòng hiếu thảo, vâng phục, thương yêu,
trung tín, thủy chung và tôn trọng nhau”. Tuy có những ảnh hưởng tích
cực, nhưng đạo Tin Lành cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định
trong đạo đức, lối sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Trước hết, đạo Tin Lành gieo rắc trong đồng bào tư tưởng duy tâm. Bài
học đầu tiên để hiểu Tin Lành là gì? Những khắc ghi và theo suốt cuộc
đời của mỗi tín đồ Tin Lành là: Ban đầu Thượng Đế tạo nên thế gian
chúng ta-Núi non, sông biển, cỏ cây, hoa lá và các vật có sự sống đều do
Ngài dựng lên cả. Nhưng điều quí nhất là Ngài tạo một con người hoàn
toàn tốt đẹp và không có tội lỗi. Ngài yêu mến người và muốn người là
bạn của Ngài để thông công vui vẻ với Ngài và coi sóc mọi công cuộc
sáng tạo của Ngài trên trái đất. Trong Hiến chương của Hội thánh Tin
Lành Việt Nam (miền Nam) cũng khẳng định: “Chỉ có một Đức Chúa
Trời hằng sống, vô hạn, Ngài là Đấng tạo hóa” (Điều 56).
Đó chính là những yếu tố duy tâm mà Tin Lành trong quá trình xâm
nhập và phát triển đã gieo rắc trong quần chúng dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên theo đạo Tin Lành. Trong một chừng mực nào đó đã có những
tác động tiêu cực trong đạo đức, lối sống của đồng bào nơi đây. Đôi khi
trong từng gia đình bà con các dân tộc không phải ai cũng có đức tin tuyệt
đối với Chúa, nhất là những thanh niên có học, họ phải miễn cưỡng chấp
nhận, làm cho họ đôi khi mất phương hướng và niềm tin cùng những nỗ
lực ở cuộc sống hiện tại. Có thể khẳng định đồng bào dân tộc thiểu số
chịu ảnh hưởng của những quan niệm của đạo Tin Lành thì họ không phải
là chủ thể sáng tạo trong xây dựng cuộc sống mới. Đấy cũng là một khó
17 khăn trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội cũng như thực hiện
đạo Tin Lành.
Thứ hai, Tin Lành với tín ngưỡng cổ truyền và các tôn giáo khác của
đồng bào ở Tây Nguyên.
Tôn giáo, tín ngưỡng là một thành tố của văn hóa và có vai trò, vị trí
khá quan trọng trong việc hình thành và giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền
18 thống văn hóa. Trong lịch sử, Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo được
người Việt tiếp nhận, chọn lọc những tinh hoa về tư tưởng, đạo đức hòa
trộn với hệ thống tôn giáo tín ngưỡng bản địa để trở thành một bộ phận
khăng khít của truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam. Đạo Tin Lành du
nhập vào Việt Nam nói chung và trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên nói riêng lại có những nét tương phản, đó là sự va chạm với văn
hóa truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo bản địa. Một sử gia Tin Lành
Việt Nam, từ những năm 70 đã công nhận: " cuộc đấu tranh không ngớt
giữa các tôn giáo cổ truyền của Á Châu và Cơ Đốc giáo cùng các tổ chức
liên hệ đến giáo phái đó hầu hết góc biển, chân trời Đông Nam Á, sự
đối kháng Cơ Đốc giáo đã trở nên cứng rắn thêm "
3
.
Với đường hướng đó, Tin Lành đã tuyên chiến với các hình thức tín
ngưỡng cổ truyền, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số mà
họ cho là dã man, tăm tối cần phải cứu rỗi một cách cấp thiết. Theo đó, tín
đồ theo Tin Lành phải bỏ lễ hội cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, cúng lúa, lễ
bỏ mả và tượng nhà mồ Các ché rượu bị đập bỏ (theo Tin Lành không
hút thuốc, không uống rượu), cồng chiêng bị đem bán hoặc đổi, sử thi bị
coi nhẹ. Đồng nghĩa với nó là đồng bào theo đạo Tin Lành phải từ bỏ
nghệ thuật, văn hóa truyền thống có giá trị của mình. Họ châm biếm tư
tưởng Phật giáo; đả kích các nhà nho… làm cho tình hình kinh tế - xã hội
thiểu số ở Tây Nguyên
3.1.1. Những nhân tố tác động đến hoạt động của đạo Tin Lành
trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu về hoạt động của đạo Tin Lành
vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây nguyên thời gian qua trong tổng
thể diễn biến tình hình trong nước và thế giới, trong thời gian tới hoạt
động của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên sẽ chịu tác động từ các nhân tố
chính sau đây: Thứ nhất, tác động từ chương trình phát triển kinh tế Tây
Nguyên của Đảng và Nhà nước ta. Thứ hai, tác động từ tình hình phát
triển giáo dục ở Tây Nguyên. Thứ ba, tác động từ âm mưu, hoạt động lợi
dụng tôn giáo chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
các thế lực thù địch. Thứ tư, tác động từ công tác quản lý nhà nước trên
lĩnh vực tôn giáo. Thứ năm, tác động từ công tác phòng ngừa, đấu tranh
với hoạt động lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh trật tự và các hoạt
động tôn giáo trái pháp luật khác tại Tây Nguyên.
Đây là nhân tố hết sức quan trọng có quan hệ biện chứng với hai
nhân tố trên, tác động trực tiếp đến âm mưu, hoạt động của các thế lực
thù địch lợi dụng tôn giáo chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
3.1.2. Xu hướng biến đổi đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên
Đường hướng, mục tiêu và tính năng động trong phương thức
truyền đạo, thời gian tới tình hình đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên có nhiều biến đổi, cụ thể là: Thứ nhất, đạo Tin
Lành sẽ đẩy mạnh hoạt động và sẽ tiếp tục có những ảnh hưởng nhất
định trong đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây
20 Nguyên. Thứ hai, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng đạo Tin Lành trong
Nguyên tham gia giao lưu văn hóa để quảng bá, học hỏi nhau, chung sống
hòa bình với các dân tộc khác trong và ngoài nước; đẩy mạnh phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trong các buôn làng”; kết
hợp gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào với
khai thác các giá trị đạo đức trong tôn giáo Tin Lành.
21 - Đẩy mạnh công tác giáo dục nâng cao trình độ nhận thức của
đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Giải pháp này cần thực hiện
đồng bộ theo quy trình từ hoàn thiện hệ thống trường lớp, nâng cao chất
lượng dạy và học, thực hiện tốt chế độ, chính sách đãi ngộ giáo viên, học
sinh, đến bố trí việc làm sau khi con em đồng bào dân tộc thiểu số tốt
nghiệp ra trường.
3.2.2. Giải pháp về hệ thống chính trị cơ sở và công tác cán bộ
Từ tình hình kinh tế - xã hội vùng đồng bào và thực trạng hệ thống
chính trị cơ sở, đội ngũ cán bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây
nguyên, thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: Môt là,
nhận thức rõ quan điểm, ý nghĩa, tầm quan trọng Nghị quyết 10-NQ/TW
của Bộ Chính trị; Hai là, chú trọng và thực hiện tốt khâu lựa chọn cán bộ
trong các tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở; Ba là, thực hành tốt quy
chế dân chủ trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở theo
nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
trên cơ sở thực hiện qui chế dân chủ cơ sở; Bốn là, đổi mới phương thức
hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở; Năm là, vận
dụng linh hoạt tính lịch sử - cụ thể, tính kế thừa trong xây dựng, tăng
cường hệ thống chính trị cơ sở; Sáu là, xây dựng và nâng cao chất lượng
của đội ngũ cán bộ và cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị cơ
sở ở Tây Nguyên.
3.2.3. Giải pháp về công tác vận động quần chúng và công tác
ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số. Các ngành, các cấp phải hiểu rõ
chính sách tôn giáo của Đảng để tránh việc ngăn cấm phát triển đạo bằng
các biện pháp hành chính thô bạo, gây đối đầu giữa chính quyền với
chức sắc và quần chúng tín đồ. Bổ sung và từng bước hoàn thiện các văn
bản pháp luật trên lĩnh vực tôn giáo nói chung và đạo Tin Lành nói
riêng. Nhà nước và các ban ngành liên quan cần tiếp tục bổ sung, hoàn
thiện kịp thời các văn bản pháp luật để công tác quản lý hoạt động của
đạo Tin Lành đạt hiệu quả, tạo thế chủ động với các đối tượng phát triển
đạo trái phép, vi phạm pháp luật, kích động chia rẽ đồng bào, xâm phạm
an ninh quốc gia.
3.2.5. Giải pháp về tăng cường hoạt động đối ngoại tôn giáo Tin
Lành và công tác an ninh
Thời gian qua cho thấy, đạo Tin Lành gia tăng liên kết quốc tế,
nhiều tổ chức phản động trong và ngoài nước liên kết với nhau để xuyên
tạc đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, âm mưu
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, vu cáo nước ta vi phạm nghiệm trọng
quyền tự do tôn giáo, “thỉnh nguyện thư” gửi Chính phủ Mỹ yêu cầu gây
áp lực buộc Việt Nam “cải thiện nhân quyền” Hoạt động này diễn ra ở
trong và ngoài nước ta. Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, phát
huy những ảnh hưởng tích cực của đạo Tin Lành đến quá trình phát triển
kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên, thời gian
tới các cơ quan chức năng phải tăng cường đối ngoại tôn giáo Tin Lành.
Đối với công tác an ninh, cần quan tâm thực hiện tốt những nhiệm vụ
23 sau: Thứ nhất, chủ động nắm tình hình, đánh giá đúng thực trạng đạo
Tin Lành trong cộng đổng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và tham mưu
có hiệu quả cho các cấp ủy Đảng, chính quyền. Thứ hai, vận dụng linh
hoạt, sáng tạo các biện pháp, công tác nghiệp vụ nhằm đấu tranh có hiệu
Với bản chất dân chủ ưu việt của một xã hội mới, Đảng và Nhà nước ta
hoàn toàn không cấm những hoạt động tôn giáo và không ngừng hoàn