ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỒNG ĐỨC
ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ
ĐẾN VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HàNội, 11/2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỒNG ĐỨC
ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ
ĐẾN VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY
Chuyênngành: Triếthọc
Mãsố: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. TrầnThị Kim Oanh
2.3.2. Một số giải pháp ......................................................................................84
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................89
KÝ HIỆU CÁC SÁCH THÁNH KINH
A. Các sách trong Cựu ƣớc
St
Sáng Thế ký
Genesis
Cn
Châm Ngôn
Proverbs
Xh
Xuất Hành
Exodus
Gv
Giảng Viên
Ecclesiastes
Hc
Huấn Ca
Sirach
Gs
Giôsuê
Joshua
Is
Isaia
Isaiah
Tl
Thủ Lãnh
Judges
Gr
Giêrêmia
Jeremiah
Ezekiel
1V
Các Vua 1
1 Kings
Ðn
Danien
Daniel
2V
Các Vua 2
2 Kings
Hs
Hôsê
Hosea
1Sb
Sử Biên 1
Obadiah
Nkm Nơkhemia
Nehemiah
Gn
Giôna
Jonah
Tb
Tôbia
Tobit
Mk
Mikha
Micah
Gdt
Giuđitha
Judith
2 Maccabees
Kg
Khácgiai
Haggai
G
Gióp
Job
Dcr
Ðacaria
Zechariah
Tv
Thánh Vịnh
Psalms
Ml
Malakhi
Luca
Luke
Tt
Titô
Titus
Ga
Gioan
John
Plm
Philêmon
Philemon
Cv
Tông đồ Công Vụ
Acts
Dt
2Pr
Phêrô 2
2Peter
Gl
Galata
Galatians
1Ga
Gioan 1
1John
Ep
Êphêsô
Ephesians
2Ga
Gioan 2
2John
Kh
Khải huyền
Revelation
2Tx
2 Thessalonica
2Thessalonians
Trong luận văn này, các ký hiệu được viết theo thứ tự: Chữ viết tắt của sách thánh/
đoạn/câu. Thứ tự này được viết theo quy ước sau đây:
- Ngay sau tên sách là số đoạn;
- Ngay sau số đoạn là dấu phẩy (,);
- Ngay sau dấu phẩy là số câu;
- Dấu gạch ngang (-) có nghĩa là „„đến‟‟;
- Dấu chấm (.) có nghĩa là „„và‟‟;
- Dấu chấm phẩy (;) có nghĩa là „„rồi‟‟
Ví dụ:
- Mt 2,4: Phúc Âm theo thánh Mát-thêu đoạn 2 câu 4.
- Cl 1,1-4: Thư thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Cô-lô-xê đoạn 1 từ câu 1 đến câu 4.
- Is 12,4.11: Sách tiên tri I-sa-i-a đoạn 12 câu 4 và câu 11.
- Cv 3,2-5.8: Sách Công vụ Tông đồ đoạn 3 từ câu 2 đến câu 5 và câu 8.
- Kh 2,1-3;5-7: Sách Khải huyền đoạn 2 từ câu 1 đến câu 3 rồi từ câu 5 đến câu 7.
- 1Ga 2-4: Thư thứ I của thánh Gioan Tông đồ từ câu 2 đến câu 4.
3
Riêng ở Quảng Bình, ảnh hưởng của Đạo Công giáo nhìn chung là tích
cực. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, đã xuất hiện một số biểu biện lợi
dụng tôn giáo nhằm gây mất trật tự xã hội, làm tổn hại đến khối đoàn kết toàn
dân. Bên cạnh đó, trong nhận thức của cán bộ và quần chúng nhân dân về Đạo
Công giáo đang còn thiếu khách quan, phiến diện. Điều đó dẫn đến những
thái độ ứng xử không đúng đối với Đạo Công giáo nói chung và Đạo Công
giáo trên địa bàn Quảng Bình nói riêng. Một hệ quả tất yếu là, vấn đề về Đạo
Công giáo trong khối đoàn kết dân tộc không chỉ phụ thuộc vào nhận thức,
thái độ, hành động của đồng bào theo Đạo Công giáo mà còn phụ thuộc vào
nhận thức, thái độ và hành động của toàn thể nhân dân về khối đoàn kết dân
tộc nói chung và Đạo Công giáo nói riêng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu ảnh
hưởng của Đạo Công giáo đến vấn đề đoàn kết dân tộc ở Quảng Bình có ý
nghĩa lý luận và thực tiến cấp bách.
Với lý do đó, chúng tôi chọn „Đạo Công giáo và ảnh hưởng của nó đến
vấn đề đoàn kết dân tộc ở Quảng Bình nước hiện nay“ làm đề tài nghiên cứu
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đạo Công giáo vẫn luôn là một đối tượng được các nhà nghiên cứu ở
Việt Nam quan tâm, trên nhiều phương diện khác nhau. Các công trình nghiên
cứu đó chủ yếu gồm các nhóm sau:
a. Về đạo Công giáo nói chung và Công giáo ở Việt Nam nói riêng:
Ngoài những côn trình của các tác giả nước ngoài đã được dịch ra tiếng
Việt, như: X. A. Tokarev (1994), Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát
triển của chúng, Nxb. Chính trị quốc gia; Jean-Baptiste Duroselle – JeanMarie Mayeur (2004), Lịch sử đạo Thiên Chúa, Nxb. Thế giới; Joseph M.
Champlin (2009), Quan điểm công giáo sống theo đúng mục đích, Nxb
Phương Đồng; Hans Küng (2010), Các nhà tư tưởng lớn của Kitô giáo, Nxb.
5
Thanh Hải, Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam (2 tập), tập II, Nxb. Văn
hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006.
Nhìn chung, các công trình này phần nào cung cấp cho người đọc một cái
nhìn cơ bản về Đạo Công giáo nói chung và Đạo Công giáo ở Việt Nam nói
riêng. Tuy nhiên, các công trình này trình bày hoặc dưới dạng là những
nghiên cứu mang nặng tính lịch sử, hoặc là mang nặng tính miêu tả; những
công trình đi sâu vào khía cạnh triết học của Đạo Công giáo còn rất ít.
b. Các công trình, tài liệu nói về mối quan hệ giữa Công giáo với dân
tộc trong lịch sử Việt Nam:
Với nhiều mục đích và tính chất khác nhau, trong những năm qua ở Việt
Nam đã có không ít công trình đề cập đến vai trò của Đạo Công giáo với lịch
sử dân tộc, với sự đoàn kết và phát triển đất nước; cũng như đề cập đến những
hạn chế, những điểm chưa tốt trong mối quan hệ đó. Chúng ta có thể kể ra ở
đây một số công trình như:
- Đỗ Quang Chính (2008), Tản mạn lịch sử Giáo hội công giáo Việt Nam,
Nxb Tôn giáo.
- Các công trình do tác giả Nguyễn Công Danh biên soạn, hoặc chủ biên
như: Kỷ yếu tọa đàm „Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam: 30 năm – một
chặng đường“, Nxb. Tôn giáo, 2013; Người Công giáo tốt cũng là người
công dân tốt, Nxb. Tôn giáo, 2013.
- Tác giả Đỗ Quang Hưng với: Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa
nhà nước và Giáo hội, Nxb. Tôn giáo, 2003; „Phải chăng tôn giáo mâu thuẫn
với chủ nghĩa xã hội“, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2004.
- Tác giả Phạm Huy Thông lại tập trung vào mối quan hệ biện chứng
giữa đạo Công giáo với dân tộc trên bình diện văn hoá, như: „Bản sắc văn hóa
Việt trong nghĩ lễ, phụng tự của giáo hội Công giáo ở Việt Nam“, Tạp chí
Công tác tôn giáo năm 2006; „Đạo Công giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa“,
8
hành của Đạo Công giáo trong tiến trình lịch sử dân tộc, cũng như những vấn
đề đặt ra để mối quan hệ dân tộc – tôn giáo được tốt hơn.
Bên cạnh đó, cũng đó có không ít kỷ yếu hội thảo, tọa đàm về lịch sử của
đạo Công giáo trong lịch sử Việt Nam, như: Kỷ yếu hội thảo „Một số vấn đề
đạo Thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam“ Viện Khoa học xã hội và Ban
Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh năm 1988, tọa đàm khoa học „Từ Công
đồng Vatican II đến thư chung 1980“ của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt
Nam năm 2005.
Nhìn chung, mặc dù các tôn giáo tham gia một phần không nhỏ trong
việc hình thành khối đoàn kết toàn dân tộc, tuy nhiên, những công trình
nghiên cứu về vai trò của cá tôn giáo trong việc xây dựng khối đoàn kết toàn
dân tộc ở Việt Nam hiện nay hầu như là không có.
Trong khi đó, các công trình về tình hình Đạo Công giáo ở Quảng Bình
gần như là không có. Phần lớn, những thông tin, vấn đề về Đạo Công giáo ở
Quảng Bình chỉ xuất hiện trong các báo cáo định kỳ của các tổ chức, cơ quan
tỉnh Quảng Bình. Những báo cáo này mang nặng tính số liệu, thời sự mà chưa
có được sự đánh giá, tổng hợp mang tính tổng thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn giới thiệu về Đạo Công giáo, và chỉ ra ảnh hưởng của Đạo
Công giáo đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Bình
hiện nay.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giới thiệu những nét cơ bản về Đạo Công giáo, và Đạo Công giáo ở
Quảng Bình.
- Chỉ ra và phân tích vai trò, ảnh hưởng của Đạo Công giáo trong khối
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO
1.1. Khái niệm „Đạo Công giáo“
Công giáo (Katholik, Catholic, phổ biến) nguyên thủy có nghĩa là chung,
hay phổ quát, nhưng trong lịch sử Kitô giáo, từ này được dùng theo nhiều
cách. Hiện nay, „công giáo“ được sử dụng với năm nghĩa sau:
i. Hội thánh Công giáo, để phân biệt với các Hội thánh Kitô giáo không
công nhận quyền tối thượng của Giáo hoàng.
ii. Đức tin công giáo, đức tin của tập thể các các tín hữu trên thế giới, hay
cụ thể hơn, đức tin được chấp nhận „mọi nơi, mọi lúc và do mọi người“.
iii. Chính giáo, phân biệt với lạc giáo hay ly giáo.
iv. Hội thánh nguyên vẹn trước khi có cuộc ly khai ở phương Đông năm
1054; sau đó Hội thánh Phương Đông tự xưng là Chính thống, để đối lại với
các Hội thánh Kitô giáo không chấp nhận những định tín của Công đồng
Ephexo và Calcedinia về thiên tính của Chúa Kitô.
v. Ngày nay, nói chung, từ „công giáo“ chỉ những Kitô hữu theo một
truyền thống đức tin và thờ phụng liên tục, và tin rằng các giám mục cũng
như những linh mục là những người kế nhiệm của các tông đồ từ thời
Chúa Kitô.
Tính từ „công giáo“ (tiếng Latin: Cotholicus, tiếng Hy Lạp: Katholicos,
tiếng Đức: katholisch, tiếng Anh: catholic,) có gốc tiếng Hy Lạp là „kath‘
holou“ nghĩa là: có liên quan tới sự toàn bộ. Thuật ngữ này lần đầu tiên được
thánh Ignatio Antiokia sử dụng cho Hội thánh khoảng năm 107, theo nghĩa là
toàn bộ hay phổ quát. Công đồng Constantinopolis I (381) thêm tính từ này
vào Kinh Tin kính khi mô tả Hội thánh là một Hội thánh „duy nhất, thánh
thiện, công giáo và tông truyền“. Sau khi có sự phân chia Kitô giáo thành
12
không loại trừ tất cả các tín điều con người cần phải biết và cũng vì giáo hội
muốn cho loài người, vua quan cũng như thường dân, người thông thái cũng
như kẻ dốt nát suy phục sự tôn sùng đích thực” [Dt.56, tr.34].
Bốn đặc tính của Giáo hội là: „duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông
truyền“. Những Giáo hội chấp nhận các đặc tính đó cũng có thể gọi là Công
giáo. Vậy nên khái niệm Công giáo không phải chỉ là từ chuyên biệt của Giáo
hội Công giáo Roma.
Theo nghĩa này thì „Đạo Công giáo“ có liên quan tới một cộng đoàn đặc
biệt nào đó của các tín hữu, một Hội thánh hữu hình, có tính lịch sử, và một
truyền thống sống động, tất cả đều bắt nguồn từ Hội thánh của các tông đồ.
Theo một nghĩa rộng hơn thì „Đạo Công giáo“ đôi khi được hiểu như bao
gồm các Hội thánh khác như Chính thống và những Giáo hội hiệp thông với
Anh giáo, những Giáo hội vẫn hiệp thông với truyền thống Công giáo ở một
mức độ nào đó. Không phủ nhận rằng những Hội thánh này và những Hội
thánh khác còn hiệp thông với truyền thống Công giáo. Ở đây ta quan tâm tới
Đạo Công giáo theo một nghĩa đặc biệt, có liên quan đến Hội thánh Roma
thánh được gọi đơn giản là „Công giáo“.
Đức tin, nghi lễ và luân lý của Hội thánh Công giáo Roma với tư cách là
một thực tại lịch sử, đã được mặc khải nơi Chúa Jesus Kitô và được tiền định
sẽ tồn tại cho tới ngày tận thế. Đạo Công giáo là tất cả những gì Hội thánh
dạy phải tin và phải sống để để được cứu độ và, ngoài sự cứu độ ấy, còn được
thánh hóa. Hệ thống giáo lý, phụng vụ và đời sống này được gọi là công giáo
(phổ quát), vì hệ thống ấy nhắm tới mọi người, mọi thời cũng như chưa đựng
mọi điều cần thiết và thích hợp cho mọi hoàn cảnh của cuộc sống con người.
Đạo Công giáo Roma là đức tin, phụng vụ và luân lý của tất cả những
Kitô hữu hiệp thông với giám mục Roma, người mà họ nhìn nhận là người đại
nước đế chế được thiết lập bằng chiến tranh xâm lược và chủ yếu dựa vào lao
động thô sơ. Sự hà khắc của chế độ chiếm hữu nô lệ, sự bất công, bóc lột
14
nặng nề đã đẩy quần chúng lao động đến chỗ cùng cực và những khát vọng giải
phóng, tự do, an ủi trở thành môi trường lý tưởng cho Đạo Công giáo ra đời.
Tuy nhiên, ngay trong lòng đế chế La Mã hùng mạnh đã xuất hiện các
mâu thuẫn và rạn nứt. Đó là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô, mâu thuẫn giữa
các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược với đế quốc La Mã, kẻ đi xâm lược, mâu
thuẫn giữa nhà nước trung ương tập quyền với cơ quan thống trị địa phương,..
Những mâu thuẫn đó đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại giai
cấp chủ nô và quân xâm lược, không chỉ ở những vùng đất bị chinh phục mà
còn ở chính quốc. Tuy nhiên, sức mạnh của đế chế La Mã đã nhanh chóng
đập tan những cuộc khởi nghĩa đó. Sự thất bại của các cuộc đấu tranh này
khiến quần chúng lao động cảm thấy bi quan, tuyệt vọng trước cuộc sống hiện
thực, họ tìm đến các lực lượng siêu nhiên để mong được giải thoát khỏi cuộc
sống hiện thực. Sự ra đời của đạo Công giáo xuất phát từ tinh thần đó. Nó
chính là ước mơ của quần chúng nhân dân lao động muốn được giải thoát
khỏi cuộc sống thực tại đau thương đó, đồng thời cũng là sự phản ánh của họ
trước thực tại đương thời. Họ không tìm thấy lối thoát trong đời sống hiện
thực, vì thế họ tất yếu phải tìm đến với lối thoát tinh thần. Quả thật, để tiếp
tục tồn tại, những con người đau khổ và yếu đuối trong cái xã hội ấy cần được
an ủi, cần lấy lại sự cân bằng về tâm lý, cần có niềm tin, dù là tin vào một sự
cứu vớt của một sức mạnh siêu nhiên nào đó. Chính tôn giáo đã đáp ứng nhu
cầu tinh thần của một bộ phận những con người như vậy. [75, 39].
Rõ ràng, nhu cầu giải thoát của những con người yếu đuối trong tình
trạng bị áp bức cùng cực là rất lớn. C.Mác viết: „Những con người yếu đuối
bao giờ cũng tìm lối thoát trong lòng tin vào những phép lạ; họ tin rằng kẻ
chỉ đáp ứng nhu cầu giải thoát của những người nô lệ, mà còn đáp ứng nhu
cầu hình thành và phát triển của đế chế La Mã. Như vậy, tôn giáo (ở đây là
đạo Công giáo) không chỉ là nhu cầu của các thân phận nô lệ cùng khổ, mà
còn là nhu cầu của giai cấp thống trị. Vấn đề quan hệ tôn giáo - chính trị xuất
16
phát từ nhu cầu này. Dĩ nhiên, đó không phải là nhu cầu của sự giải thoát, mà
là nhu cầu sử dụng tôn giáo để thiết lập, cũng cố địa vị thống trị xã hội. Ở
đây, nhu cầu của giai cấp thống trị được nảy sinh trên nhu cầu của tầng lớp nô
lệ, nhưng về bản chất là hoàn toàn khác nhau. Trở thành nhu cầu của cả kẻ bị
trị lẫn giai cấp thống trị, trong thời cổ đại, đạo Công giáo đã nhanh chóng
phát triển, phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh của thời đại lúc bấy giờ.
Chính Ăngghen đã đánh giá đạo Công giáo trong những buổi đầu mới ra
đời là tôn giáo của những người nô lệ và người buôn bán tự do, của nhũng
người nghèo khó đã bị tước hết quyền lợi, của các dân tộc bị La Mã đô hộ hay
làm tan tác. Những nhà sáng lập chủ nghĩa Marx-Lenin khẳng định: „Trong
lịch sử đạo Cơ đốc sơ kỳ có những điểm giống đáng lưu ý với phong trào
công nhân hiện đại. Cả đạo Cơ đốc lẫn chủ nghĩa xã hội công nhân đều tuyên
truyền sự giải phóng con người trong tương lai khỏi cảnh nô lệ và nghèo
khổ“. [65, 663]
1.2.2. Cơ sở tư tưởng
a. Thần thoại, tín ngưỡng
Trước khi Kitô giáo trở thành tôn giáo độc thần thì người dân ở thành
bang La Mã đã có những vị thần riêng của họ để tôn thờ. Những vị thần của
Roma chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống thần linh Hy Lạp. Thần Jupiter là
hình ảnh của thầm Zeus trong thần thoại Hy Lạp, thần Venus (vệ nữ, sắc đẹp)
là hình ảnh của thần Aphrodite của Hy Lạp, thần Neptune là hình ảnh của
thần Poseidon. Ngoài ra, người dân Roma còn thờ các nữ thần về hôn nhân, sinh
Ngoài ra, đạo Công giáo còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố tín ngưỡng,
phong tục tập quán của các dân tộc vùng Trung Cận Đông. Chẳng hạn như,
hình ảnh Chúa Jesus được xây dựng từ nhiều phẩm chất thiêng liêng của các
vị thần và anh hùng dân tộc như: Josuah (bộ lạc Ephraien) đã hy sinh để cứu
bộ lạc mình; thần Hurules trên núi Octa được xem là con Thượng đế xuống
trần chịu chết để đam lại hòa bình; thần Alonis chết đi sống lại; Chúa Jesus
18
được sinh ra từ một nữ đồng trinh theo mô-tip Persee được sinh ra từ Dionyo
và Horus; phép thánh thể của đạo Công giáo rất gần gũi với nghi lễ thiêu sinh
các vật tế thần và chịu ảnh hưởng của tục uống máu của tín ngưỡng Mithra.
b. Các tôn giáo khác
Đạo Công giáo ra đời trước hết dựa trên cơ sở của Đạo Do thái. Khoảng
hơn 1.000 năm trước Công nguyên, quốc gia Do thái đã được thành lập theo
chế độ quân chủ - chủ nô với vị vua nổi tiếng của mình là David. Kể từ đó,
quốc gia này trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhiều lần hưng thịnh và
không ít lần suy vong. Đặc biệt, vào thế kỷ VI trước Công nguyên, quốc gia
này bị nhiều nước tấn công, xâu xé. Mỗi lần như thế, người Do thái phải lưu
tán, chạy sang các nước khác lánh nạn. Cùng với sự ra đời của quốc gia Do
thái, đạo Do thái được hình thành. Trong thân phận bấp bênh, lưu đày của
mình, người Do thái không khỏi nhớ vê tổ quốc và thời kỳ vàng son của dân
tộc mình. Các tri thức Do thái lưu vong đã viết lại cuốn lịch sử dân tộc mình
dưới dạng thần thoại và cuốn sách đó đã trở thành Kinh thánh của đạo Do
thái. Đạo Do thái được xây dựng trên cơ sở nhất thần giáo khá hoàn chỉnh và
trở thành một trong những tiền đề lý tưởng lý luận cho nền thần học Kitô nói
chung, đạo Công giáo nói riêng sau này.
Có thể thấy rằng, nội dung giáo lý cơ bản của đạo Công giáo được giữ
nguyên hoặc phát triển từ những tín điều của đạo Do thái có trước đó hàng
hệ thống tư tưởng Phương Tây nói riêng, trong đó có tư tưởng Kitô gáo.
Những tư tưởng đó đã đặt nền móng cho sự ra đời của Đạo Công giáo. Tư
tưởng triết học Cổ đại ảnh hưởng đến tư tưởng Kitô giáo trên cả hai phương
diện, thế giới quan và nhân sinh quan.[88, 10]
i. Thế giới quan
Đối với tư tưởng triết học Cổ đại, vũ trụ được coi như là toàn thể của
hiện hữu. Họ quan niệm vũ tụ như một trật tự hiện hữu: đi từ những vật thô sơ
đến những vật hoàn hảo nhất. Theo đó, cả Thượng đế cũng là thành phần của
20
vũ trụ. Và quy mọi sự vật về một yếu tố nào đó, ta thấy rõ trong quan niệm
của Heraclitus (535 TrCN – 475 TrCN) với lửa, của Parmenides (520/515
TrCN – 460/455 TrCN?) là hữu thể…
Triết học Cổ đại còn mang tính duy vật, các triết gia giải thích tự nhiên
không phải bằng những tín điều tôn giáo, mà bằng việc nghiên cứu hiện thực
xuất phát từ việc quan sát trực tiếp sự vật. Quan sát bằng giác quan, bằng kinh
nghiệm thường trực của cuộc sống nên có phần chủ quan. Chủ quan khi họ
chỉ lấy một trong những yếu tố tầm thường: lửa, sự biến dịch và hữu thể,.. làm
khởi nguyên của vạn vật.
Plato (428/427 TrCN – 348/347 TrCN?) đã muốn đưa ra một vũ trụ siêu
việt nhưng rốt cuộc ông cũng trở về quan niệm một vũ trụ duy nhất. Như vậy cả
con người lẫn Thượng đế đều không siêu việt trên vũ trụ và vũ trụ siêu việt trên
con người. Con người toàn thiện có khả năng chiêm ngưỡng thế giới Linh tượng.
Aristoteles (384 TrCN – 322 TrCN) có sự sáng tạo trong tư tưởng về vụ
trụ khi ông giải nghĩa sự kiện biến dịch trong vũ trụ, nhưng cũng như Plato,
ông chủ trương vũ trụ là một trật tự vĩnh hằng và thần thánh. Aristoteles chỉ
khác Plato ở chỗ hủy bỏ, không thừa nhận thế giới Linh tượng như một vũ trụ
biệt lập bên ngoài vũ trụ biến dịch. Với ông, chỉ có một vũ trụ duy nhất, tức là
phần chính yếu của học thuyết mô chất của ông, người ta thấy gì nếu không
phải là quan niệm của ông về cơ cấu siêu hình và vạn vật, cũng như tư tưởng
của ông về bốn nguyên lý? Con người hiện sinh hầu như bị lãng quên. Cho
nên, chúng ta có thể tóm tắt chủ đích của triết học thời kỳ này bằng cụm từ:
độc tôn hữu thể. Đây là thời kỳ triết học bị phóng thể: con người đã quên
mình để chỉ mải miết tìm hiểu vũ trụ khách thể.
Bên cạnh đó, Kitô giáo còn có sự tiếp thu những tư tưởng triết học của
những nhà triết học đương thời, mà tiêu biểu trường phái Khắc kỷ với hai đại
diện tiêu biểu là L.A.Seneca (khoảng 2 TrCN – 65) và Philo ở Ai Cập (khoảng
20TrCN – 50)
22
Seneca cho rằng cõi nhân gian là giả dối, thân xác con người là một gánh
nặng của linh hồn. Ông khuyên mọi người hãy từ bỏ những lạc thú ở đời,
sống thanh đạm, đạo đức. Ông yêu cầu mọi người, nhất là những người thông
thái phải làm việc có ích cho đời. Song ông lại khuyên họ tin vào sự an bài
của Thượng đế, sống phục tùng số mệnh.
Seneca quan niệm có hai nước. Một nước chung cho cả con người và
thần thánh. Quốc gia (thế giới) này không biên giới nên không nên nghĩ đến
dân tộc, quốc gia nhỏ bé riêng biệt của mình. Ông không quan tâm đến quốc
gia cụ thể, không cảm tính với phong trào giải phóng dân tộc của các quốc gia
bị đế quốc La Mã đô hộ.
Quốc gia (thế giới) thứ hai mà Seneca quan tâm nhiều hơn là thế giới cao
cả, nơi sinh quán của con người. Ông khuyên con người sống cho nó, hết lòng
phục vụ cho nó. Và chỉ những người đã được qua lựa chọn mới được đến ở tại
đó. Từ quan niệm trên, Seneca đi đến quan điểm về sự bình đẳng giữa các dân
tộc. Sau này, người ta bắt gặp những tư tưởng trên trong thư của thánh Paul.
Sống và xây dựng triết thuyết của mình vào khoảng cuối thế kỷ I trước