Bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại thành phố hồ chí minh hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 34

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÂN THỊ NGỌC PHÚC

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH CÁN BỘ CÔNG CHỨC
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số
: 62310301

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THỦ

Thành phố Hồ Chí Minh, 01/2016


i

LỜI CẢM ƠN
Phát triển ý tưởng nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình cán bộ công
chức tại Thành phố Hồ Chí Minh là sự tiếp nối của các nghiên cứu trước về bình
đẳng giới trong khu vực công mà tôi đã may mắn có cơ hội được tham gia cùng
PGS.TS. Nguyễn Thu Linh. Khi tôi trao đổi nội dung này với PGS.TS. Nguyễn Văn
Thủ, người đã nhiều năm làm công tác tham mưu về tổ chức cán bộ cho Chính phủ,
thầy đã ủng hộ, động viên tôi thực hiện ý tưởng này. Trong suốt gần 6 năm thực

MỞ ĐẦU……………………………………………………………………..
NỘI DUNG…………………………………………………………………..
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU………….............
1.1. Xây dựng khung đo lường về bình đẳng giới trong gia đình….................
1.2. Bình đẳng giới về quyền lựa chọn và ra quyết định giữa vợ và chồng......
1.3. Bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình….....................
1.4. Tình trạng bạo lực trong quan hệ vợ chồng...............................................
1.5. Nguyên nhân và các rào cản thực hiện bình đẳng giới trong gia đình........
1.6. Ảnh hưởng của tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình đến phát triển

ii
iv
Vi
1
13
13
13
17
19
23
25
28

nghề nghiệp của nam và nữ……………………………………………...........
1.7. Một số nhận xét …………………………………………………………..
1.7.1. Về chủ đề, nội dung nghiên cứu……………………………………......
1.7.2. Những đóng góp của luận án……………………………………...........
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài …………………………………………..
2.1.1. Những vấn đề cơ bản của bình đẳng giới trong gia đình và các khái

Tiểu kết……………………………………………………………………….
Chương 4: ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI

75
75
78
89
90
96
109

TRONG GIA ĐÌNH ĐẾN PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP CỦA NAM
VÀ NỮ CÁN BỘ CÔNG CHỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH..............
4.1. Khác biệt trong phát triển nghề nghiệp của nam và nữ CBCC Thành

112


iii

phố Hồ Chí Minh…………………………………………………….............
4.1.1. Khác biệt về vị trí lãnh đạo chủ chốt………………………………......
4.1.2. Mức độ chuyển đổi và hài lòng với công việc…………………………
4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến khác biệt trong phát triển nghề nghiệp

112
112
114

của nam và nữ CBCC......................................................................................

78
79

CBCC.....................................................................................................................
Bảng 3.4. Thời gian làm việc nhà..........................................................................
Bảng 3.5. Mô hình phân tích hồi qui tuyến tính về chia sẻ công việc nhà của

80
83

vợ/chồng................................................................................................................
Bảng 3.6. Nhận định của nam và nữ CBCC về người đóng góp nhiều nhất vào

85

thu nhập trong gia đình..........................................................................................
Bảng 3.7. Thời gian làm thêm của nam và nữ CBCC...........................................
Bảng 3.8.Ý kiến về chia sẻ việc nhà trong gia đình CBCC...................................
Bảng 3.9.Các ý kiến về vai trò của người phụ nữ..................................................
Bảng 3.10. Người thực hiện chính các quyết định trong gia đình.........................
Bảng 3.11.Mô hình phân tích hồi qui tuyến tính về quyền quyết định việc quan

85
86
87
90
93

trọng trong gia đình................................................................................................
Bảng 3.12. Mức độ đồng ý của CBCC về vai trò của nam giới trong gia

vợ/chồng........................................................................... .....................................
Bảng 4.1.Thống kê số lượng lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy quản lý hành 112
chính nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2014..........................................
Bảng 4.2.Thay đổi công việc trong vòng 5 năm trở lại đây...... ............................
Bảng 4.3. Tỷ lệ CBCC nắm giữ chức vụ và CBCC hài lòng với công việc..........
Bảng 4.4.Lý do hài lòng với công việc......................... ........................................
Bảng 4.5. Lý do nam, nữ CBCC không hài lòng với vị trí công việc...................
Bảng 4.1. Nhận định các lý do cản trở công việc của nam và nữ CBCC..............

115
115
116
116
118


v

Bảng 4.2.Mức độ đồng ý của nam và nữ CBCC về nhận định: “nữ CBCC hiện

123

nay còn bị hạn chế nhiều trong công việc bởi gánh nặng gia đình”.....................
Bảng 4.3.Quan niệm về vai trò giới của nam và nữ CBCC……………………..

125


vi


TP.HCM
BLGĐ
SL
%

Nội dung
Bình đẳng giới
Bất bình đẳng giới
Cán bộ công chức
Thành phố Hô Chí Minh
Bạo lực gia đình
Số lượng
Phần trăm


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đã trải qua hơn 100 năm của chặng đường thực hiện bình đẳng
giới (BĐG). Mặc dù còn nhiều tồn tại, song không một ai có thể phủ nhận
rằng những thành quả của BĐG đã góp phần rất quan trọng vào sự tiến bộ
chung của thế giới. Thực hiện BĐG và nâng cao vị thế phụ nữ được xác định
là “mục tiêu thiên niên kỷ”, có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy các mục tiêu khác, từ xóa đói giảm nghèo đến cứu vớt sự sống của trẻ sơ
sinh, tăng cường sức khỏe sinh sản, bảo đảm giáo dục phổ cập, phòng chống
HIV/AIDS, sốt rét và các căn bệnh khác, và bảo đảm sự bền vững về môi
trường. BĐG tạo ra “lợi ích kép” cho cả phụ nữ và trẻ em - tương lai của một
dân tộc- giữ vai trò then chốt đối với sức khỏe và sự phát triển của gia đình,
cộng đồng và quốc gia. Việc loại bỏ sự phân biệt đối xử về giới và nâng cao

lớn của nhân loại. BĐG trở thành một vấn đề được bàn luận và nghiên cứu
trong suốt nửa cuối thế kỷ XX ở phương Tây. Chiến dịch đòi bình đẳng về xã
hội và chính trị đã đạt được những bước tiến quan trọng. Phụ nữ được hưởng
mọi địa vị nổi bật trong đời sống công cộng: được bỏ phiếu trong tuyển cử
vào Nghị viện, được quyền tham gia nắm giữ vị trí quyền lực trong khu vực
công, đi sâu vào nghề nghiệp và có quyền sở hữu và quản lý tài sản,... [Tony
Billton, 1993:56].
Trong xu hướng đó, chủ đề BĐG trong gia đình đã thu hút được sự quan
tâm đặc biệt của xã hội nói chung và của giới khoa học nói riêng. Cho mãi
đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, trong khoa học xã hội nói chung,
người ta vẫn còn coi các hoạt động nội trợ, chăm sóc trong gia đình là thiên
chức của phụ nữ, gắn liền với chức năng sinh đẻ của họ; và gia đình là một
nhóm thuần nhất, thống nhất về lợi ích. Cách nhìn nhận này đã bị lung lay dữ
dội từ cuối những năm 60 ở thế kỷ XX bởi các nhà nữ quyền phương Tây.
Các nhà nữ quyền coi gia đình là thiết chế trung tâm của sự áp bức giới và là


3

cội nguồn của các hình thức áp bức khác đối với phụ nữ trong xã hội [Lê
Ngọc Văn, 2012:139]. Trong đó, những thành viên là nam giới sẽ có nhiều
đặc quyền hơn thể hiện ở lĩnh vực hôn nhân, quan hệ tình dục, phân công lao
động gia đình, và quan hệ quyền lợi không như nhau giữa vợ và chồng [Đỗ
Thị Bình, 2003]. Vì những lý do đó mà các nhà nữ quyền phương Tây coi gia
đình là mục tiêu quan trọng nhất của cuộc cách mạng về giới.
Các nhà nữ quyền đã bác bỏ quan niệm của các nhà chức năng cấu trúc
đang biện minh cho sự thống trị của đàn ông trong gia đình và xóa nhòa sự
BBĐG đang hiện hữu. Ann Oakley (1972) thực hiện một nghiên cứu xã hội
học ở Anh về chủ đề này. Bà đưa ra kết luận: Một công việc cơ bản, đặc biệt
là công việc nội trợ, là của riêng phụ nữ. Ở nước Anh, 76% tổng số phụ nữ có

nhiều hơn vào công việc nội trợ và chăm sóc con cái, còn phụ nữ thì dính líu
nhiều hơn vào lao động có lương ngoài gia đình. Hình ảnh một gia đình đối
xứng liên hệ đến quan niệm phổ biến về “những cặp vợ chồng nghề nghiệp
đôi. Luận điểm cuộc hành quân của tiến bộ ủng hộ một xu thế mạnh mẽ
hướng tới chủ nghĩa bình đẳng trong hôn nhân. Cuộc hôn nhân đang trở nên
bình đẳng, và trào lưu này bắt đầu ở các cặp vợ chồng gia đình giai cấp trung lưu
[Tony Billton, 1993: 242-256].
Vấn đề BĐG được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và được đánh
giá là động lực và mục tiêu phát triển quốc gia. Các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước về BĐG đã được cụ thể hóa trong Luật Bình đẳng giới
do Quốc hội khóa XI, thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/7/2007.
Bên cạnh đó, ngày 24/12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020, với mục tiêu tổng quát là: Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm
bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển
nhanh và bền vững của đất nước.


5

Trong nhiều năm qua, Việt Nam là nước dẫn đầu khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới qua việc cung cấp các dịch vụ y
tế và giáo dục tới các trẻ em gái và trẻ em trai, phụ nữ và nam giới. Sự chênh
lệnh về tỉ lệ nhập học giữa các em nữ và các em nam là rất thấp. Tỉ lệ mù chữ
của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm1. Việt Nam có tỉ lệ cao nhất trên
thế giới: 85% nam giới và 83% nữ giới ở độ tuổi từ 15 - 60 tham gia vào các
hoạt động kinh tế2.
Các giải pháp nhằm cải thiện vị thế của phụ nữ, thu hẹp khoảng cách

gia đình trong đô thị hiện đại đang gây bức xúc trong xã hội [UNDP, 2010].
Tỷ lệ phụ nữ tham gia công việc sản xuất ngày càng tăng lên ngang bằng với
nam giới, trong khi tỷ lệ nam giới chia sẻ việc nhà với phụ nữ tăng lên rất
chậm và không bền vững đã tạo gánh nặng kép không hề nhỏ cho phụ nữ.
Những vấn đề về quan hệ giới trong gia đình nêu trên đang là cản trở lớn đến
sự tiến bộ của phụ nữ, hạn chế nỗ lực thực hiện BĐG của Chính phủ.
Chiến lược Quốc gia về BĐG nhấn mạnh, để thực hiện được mục tiêu
BĐG, rất cần đến sự phối hợp của nhiều thiết chế xã hội khác nhau, trong đó
thực hiện BĐG trong môi trường gia đình là một trong 07 giải pháp mà Chiến
lược đặt ra. Gia đình không chỉ góp phần trong thắng lợi của công cuộc đổi
mới về kinh tế xã hội của đất nước, mà còn là thiết chế quan trọng thực hiện
chiến lược quốc gia về BĐG. Không phải ngẫu nhiên Đại hội đồng Liên Hiệp
Quốc đã chọn năm 1994 là năm quốc tế gia đình với chủ đề: “Gia đình là
nguồn lực và trách nhiệm trong một thế giới đang thay đổi”.
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), với đặc trưng là một trong những
đô thị hiện đại nhất của cả nước, nơi đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa mạnh mẽ, tạo ra những bước chuyển biến trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, trong đó có những biến chuyển về quan hệ giới. Nằm trong
xu hướng chung của cả nước, BĐG tại TP.HCM, thời gian qua, có những
chuyển biến tích cực, cả trong nhận thức lẫn thực hiện, đặc biệt trong các gia
đình cán bộ, công chức (CBCC).
Đội ngũ CBCC tại TP.HCM với tư cách là lực lượng có nhiều cơ hội tiếp
xúc với các xu hướng phát triển của xã hội, tiếp cận với những quy định của
pháp luật nói chung và pháp luật về BĐG nói riêng; thêm vào đó, họ là những


7

lực lượng quan trọng trong tuyên truyền nâng cao nhận thức các tầng lớp
nhân dân về BĐG; cũng là lực lượng có vai trò gương mẫu trong thực hiện
BĐG trong xã hội và trong gia đình. BĐG được nhận thức đúng đắn và thực

luận và pháp lý về bình đẳng giới trong gia đình, đề tài tập trung làm rõ thực trạng
về nhận thức và thực hiện bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại
TP.HCM; từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và tạo những chuyển
biến mới trong thực hiện bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại
TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã nêu, đề tài có các nhiệm vụ chủ
yếu sau đây:
1. Sưu tầm tài liệu, hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến vấn đề bình
đẳng giới trong gia đình để làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm cần dùng trong
đề tài.
2. Tiến hành các cuộc điều tra xã hội học và khảo sát thực tế để thu thập
các thông tin về thực trạng bình đẳng giới trong gia đình cán bộ, công chức tại
TP.HCM;
3. Trên cơ sở các thông tin thu thập được từ các cuộc điều tra, khảo sát thực
tế, tiến hành việc xử lý, phân tích, làm rõ thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong
gia đình cán bộ, công chức tại TP.HCM. Đưa ra những nhận xét, đánh giá mặt
mạnh, mặt hạn chế và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên;
4. Phân tích thực trạng BĐG trong gia đình CBCC đã tác động như thế
nào đến phát triển nghề nghiệp của cả nam và nữ CBCC;
5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao BĐG trong gia đình CBCC
tại TP.HCM.
3. Câu hỏi nghiên cứu
1. CBCC tại TP.HCM thực hiện BĐG trong gia đình của họ như thế
nào?
2. Những nhân tố nào tác động đến thực hiện BĐG trong gia đình CBCC;
3. Thực trạng BĐG trong gia đình có ảnh hưởng như thế nào đến phát
triển nghề nghiệp của mỗi giới.




gia đình CBCC

Đặc điểm văn hóa:
phong tục, tập quán;
chuẩn mực, vai trò giới

Phân công lao động

Quan hệ quyền lực

trong gia đình

giữa vợ và chồng
Phát triển nghề nghiệp của

5. Đối tượng, khách thể, phạm
vi và
bàn nghiên cứu
nam và
nữ địa
CBCC
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Bình đẳng giới trong gia đình CBCC tại Thành phố Hồ Chí Minh
5.2. Khách thể nghiên cứu


10

Nam và nữ Cán bộ công chức đã lập gia đình; Cán bộ phụ trách công tác

nghiệp của cả nam và nữ CBCC.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua việc thống kê, hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết liên quan
đến gia đình và BĐG trong gia đình và trình bày làm rõ những khái niệm cơ
bản như: gia đình, BĐG, BĐG trong gia đình, Luận án đã có những đóng góp
nhất định vào việc làm phong phú thêm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu xã
hội học về gia đình nói chung và BĐG trong gia đình nói riêng. Góp phần
hoàn thiện khái niệm “Bình đẳng giới trong gia đình cán bộ công chức”.
Những nỗ lực phân tích lý thuyết và thao tác hóa các khái niệm, đặc biệt là
khái niệm BĐG trong gia đình, cũng là những đóng góp thiết thực cho
phương pháp nghiên cứu xã hội học gia đình và BĐG trong gia đình.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc mô tả, phân tích, làm rõ những vấn đề thực trạng BĐG
trong gia đình cán bộ, công chức tại TP.HCM, dựa trên cơ sở các số liệu,
thông tin thu thập được từ các cuộc điều tra xã hội học, khảo sát thực tế và
phỏng vấn sâu do đề tài tiến hành, Luận án đã có những đóng góp nhất định
trong việc làm rõ những điểm mạnh, điểm hạn chế về nhận thức và thực hiện
BĐG tại gia đình cán bộ, công chức trên địa bàn, cung cấp cho các cơ quan
quản lý nhà nước ở địa phương những thông tin cập nhật về BĐG.
Cung cấp những số liệu thực tế về việc thực hiện BĐG trong gia đình
của CBCC tại TP.HCM cho người đọc qua kết quả nghiên cứu của đề tài;
giúp các nghiên cứu khác so sánh việc thực hiện BĐG trong gia đình ở những
nhóm xã hội khác. Qua đó chỉ ra sự khác biệt và nguyên nhân của chúng dựa
trên những khác biệt về những đặc trưng xã hội; Kết quả nghiên cứu của đề


12

tài cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy về xã hội học

đề tài, công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, bài viết khoa học có liên
quan đến BĐG trong gia đình với mục đích giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể
từ lý thuyết cho đến thực tiễn. Việc hệ thống hóa các chủ đề, các vấn đề mà
những nghiên cứu trước đề cập là cần thiết để tác giả có thể tìm kiếm những
bằng chứng khoa học, trên cơ sở đó học hỏi, kế thừa những thành quả nghiên
cứu đi trước của các tác giả khác. Tổng quan tài liệu của luận án gồm có 5
nhóm vấn đề sau: (i) Xây dựng khung đo lường về bình đẳng giới trong gia
đình; (ii) BĐG trong quyền lựa chọn và ra quyết định giữa vợ và chồng; (iii)
BĐG trong phân công lao động trong gia đình; (iv) Tình trạng bạo lực trong
quan hệ vợ chồng; (v) Nguyên nhân và các rào cản thực hiện BĐG trong gia
đình; (vi) Ảnh hưởng của tình trạng BBĐG trong gia đình đến phụ nữ trong
phát triển nghề nghiệp.
1.1. Xây dựng khung đo lường về bình đẳng giới trong gia đình
Cách đây gần hai thế kỷ, Friedrich Engels (1848) và Karl Marx đã mô tả
gia đình như thể là cội nguồn của bất bình đẳng xã hội do vai trò của nó trong


14

sự chuyển giao quyền lực, của cải và đặc quyền, đặc lợi. Gia đình đã góp phần
vào sự bất công xã hội; phủ nhận các cơ hội của phụ nữ, những cơ hội vốn mở
rộng cho nam giới. Các lý thuyết gia duy nữ quyền và duy xung đột ghi nhận
rằng gia đình xưa nay đã hợp thức hóa và duy trì mãi sự thống trị của nam giới.
Trong suốt phần lớn lịch sử của con người – và trong rất nhiều xã hội – người
chồng thực thi quyền lực và thẩm quyền áp đảo bên trong gia đình.
Những năm đầu 1980, Caroline Moser, đại học London, Anh đã xây
dựng khung MOSER để tiến hành phân tích giới. Trong đó vai trò giới là khái
niệm công cụ để tiến hành phân tích tương quan giới trong gia đình và xã hội.
Vai trò giới vẽ lên một bức tranh về phân công lao động. Moser cho rằng
trong một ngày và trong một đời, phụ nữ và nam giới có xu hướng làm những

lưỡng hơn [N.Gerstel và H. Gross, 1995].
Kết quả của những nghiên cứu về BĐG trong gia đình trong xã hội công
nghiệp ở phương Tây thế kỷ XX cũng đã chỉ ra bằng cớ của tình trạng BBĐ:
sự phân công lao động trong gia đình, sự phân phối quyền lực và uy thế trong
hôn nhân cho thấy rằng những cuộc hôn nhân hiện đại còn xa mới được bình
đẳng [Tony Bilton, 1993:256].
Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu lý thuyết về BĐG nói chung và sử dụng
các lý thuyết về giới trong nghiên cứu gia đình là tương đối phổ biến. Nghiên cứu
mối quan hệ giới trong gia đình cần phải có khung đo lường để biểu thị tình trạng
BBĐG trong gia đình. Khung đo lường có 3 chỉ báo thường được dùng để biểu
thị: (i) Mối quan hệ kinh tế, thu nhập, sở hữu tài sản; (ii) Thực hiện chức năng tái
sản xuất: quyết định về số con, chia sẻ công việc nội trợ gia đình, quan tâm đến
nhau về sức khỏe, công việc, cùng chăm lo cuộc sống gia đình; (iii) Quan niệm,
nhận thức về BĐG, xử lý mâu thuẫn gia đình, chia sẻ trách nhiệm về nuôi dạy con
cái; bạo lực giữa vợ và chồng [Nguyễn Hữu Minh, 2013].
BĐG trong gia đình được GS. Lê Thi xây dựng khung phân tích bao
gồm các chỉ báo đo lường: (i) Quyền quyết định những công việc trọng đại


16

của gia đình: tỷ lệ nam, nữ làm chủ hộ gia đình. Qua điều tra, 48% nữ và 57%
nam khẳng định nam giới là người quyết định công việc lớn của gia đình, chỉ
có 20% ý kiến cho rằng cả hai vợ chồng cùng quyết định công việc. Quyền sử
hữu tài sản của gia đình; (ii) Thực hiện công việc lao động trong gia đình:
Theo báo cáo đánh giá thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam năm 2004 cho
thấy các công việc nội trợ, chăm sóc con cái do phụ nữ đảm nhiệm tới 65%,
có nơi đến 82%; giáo dục con cái, có 50% người vợ đảm nhiệm công việc
này. Ngoài ra tác giả đề cập đến quyền sinh con, quyết định số con, lựa chọn
và sử dụng các biện pháp tránh thai cũng được đưa vào trong khung phân tích

trong gia đình: như hoạt động sản xuất kinh doanh, chi tiêu, mua sắm tài sản,
học hành của con cái, công việc đối ngoại, đối nội. Với mô hình phân tích như
vậy, tác giả đã chỉ ra được đặc trưng của quyền lực giữa vợ và chồng vẫn tuân
theo vai trò truyền thống. Nhưng có sự khác nhau giữa các nhóm xã hội khác
nhau về trình độ học vấn, về mức đóng góp trong thu nhập gia đình, về khu
vực nơi họ sinh sống là nông thôn hay đô thị,... trên cơ sở đó tác giả chỉ ra
những biến đổi trong cơ cấu quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình [Trần
Thị Cẩm Nhung, 2009].
Vũ Mạnh Lợi, nghiên cứu về phân công lao động và quyền ra quyết định
giữa vợ và chồng. Ông đã xây dựng khung đo khác biệt hơn so với các nghiên
cứu đi trước. Thay vì liệt kê các công việc trong gia đình thì tác giả có sự
phân chia các công việc này theo thế mạnh của từng giới để nhìn nhận một
cách khách quan về mô hình phân công lao động trong gia đình giữa vợ và
chồng [Vũ Mạnh Lợi, 2013].
1.2. Bình đẳng giới về quyền lựa chọn và ra quyết định giữa vợ và chồng
Theo báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, 2001, tình
trạng bất bình đẳng về quyền, tiếng nói và nguồn lực diễn ra phổ biến, dai
dẳng trong nhiều khía cạnh của cuộc sống (quyền kết hôn, ly hôn; quyền quy
định quy mô gia đình, thừa kế và quản lý tài sản, phân bổ lao động của mỗi cá



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status