SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN - QUẬN TÂY HỒ
ĐỀ TÀI DỰ THI KHOA HỌC, KĨ THUẬT
DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CẤP THÀNH PHỐ
LẦN THỨ 4 ( NĂM HỌC 2014 - 2015)
Tên đề tài:
NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ SỐNG CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lĩnh vực: Khoa học xã hội hành vi
NGƯỜI CỐ VẤN KHOA HỌC:
- PGS - TS Nguyễn Minh Khải
- Chức vụ: Phó Giám đốc
- Đơn vị : Học viện Chính trị
quân sự - Bộ quốc phòng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
-Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hà
-Đơn vị : THPT Chu Văn An
TÁC GIẢ:
1. Trần Minh Quang
2. Ngô Minh Ngọc
- Lớp 11 Toán
- Trường THPT
Chu Văn An
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I : LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……………………………………… 3
PHẦN II : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………………… 3
ấy mỗi người là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, góp phần tích cực
vào sự phát triển xã hội. Có thể khẳng định giá trị sống vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của quá trình phát triển nhân cách.
Hai là, xuất phát từ thực trạng nhận thức về giá trị sống của học
sinh THPT hiện nay.
Học sinh ngày càng có nhiều khoảng trống về giá trị sống, thiếu kĩ
năng sống. Trong nhà trường phổ thông một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu
niên học sinh hiện nay chưa được định hướng đúng đắn về các giá trị sống
của bản thân, không xác định được vai trò trách nhiệm của mình đến gia đình,
xã hội, và cuộc sống bản thân. Nhiều thanh niên, học sinh có những biểu hiện
hành vi, đạo đức xa rời lối sống, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc. Tình
trạng bạo lực, lạm dụng, sống buông thả, ứng xử thiếu văn hóa, thiếu tôn
trọng người khác cũng như thiếu ý thức bảo vệ môi sinh ngày càng đáng báo
động …nguyên nhân chính cũng từ sự thiếu hụt các giá trị sống của học sinh
Ba là, xuất phát từ các hoạt động phong trào của Đoàn thanh niên
trường THPT Chu Văn An - Hà Nội
Bốn là, chưa có công trình nào của học sinh nghiên cứu về nhận
thức Giá trị sống của học sinh THPT. Nhóm tác giả lựa chọn và nghiên
cứu một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhằm phần
nào đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp nâng cao nhận thức về giá trị
sống, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh THPT.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Nhận thức
về Giá trị sống của học sinh THP Hà Nội hiện nay - Thực trạng và giải
pháp” làm đề tài nghiên cứu khoa học.
PHẦN II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
* Những nghiên cứu ở nước ngoài
3
Cuốn “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” (2010) của DIANE
TILLMAN, phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: “Hợp tác, Tự
do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà bình, Tôn trọng, Trách
việc khảo sát thực trạng học sinh phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội sẽ
làm sáng tỏ phần nào về ưu điểm, hạn chế trong nhận thức, hành động của
4
học sinh THPT Hà Nội về giá trị sống và qua đó đề xuất biện pháp nâng cao
nhận thức về giá trị sống cho học sinh THPT hiện nay.
Do vậy, chúng tôi chọn đề tài trên, là một nội dung mới trong nghiên
cứu về lĩnh vực Khoa học xã hội hành vi.
PH N IIIẦ . Những kết quả nghiên cứu đã đạt được
Chương 1 KHÁI NIỆM VỀ GIÁ TRỊ SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1.1 Khái niệm giá trị sống
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết thì: “Giá trị là sự khẳng
định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối
với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn xã hội nói chung. Giá trị được xác
định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất
cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của
con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các
chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong
các nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích” [13,
tr.1462]
Theo Từ điển Tiếng Việt thì giá trị là “cái mà người ta dùng làm cơ sở
để xem xét một vật có lợi ích tới mức nào đối với con người” [12, tr. 354]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Phạm trù giá trị sống được tạo nên
bởi kĩ năng sống thành thạo trên nền tảng quan điểm sống đúng đắn. Đất nước
nào xây dựng và giúp cho thế hệ trẻ thực hiện được hệ giá trị bản thân đúng
đắn và hợp thời, thì đất nước đó sẽ có các giờ học tốt, nhà trường tốt, hệ thống
giáo dục và nền giáo dục tiên tiến không lạc hậu, lạc điệu với thời đại”
Có thể hiểu: Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các
quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con
người. Giá trị sống về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong
* Giá trị Giản dị
*Giá trị Tự do
*Giá trị Đoàn kết
Những giá trị sống trên đây là những giá trị tinh thần không đề cập đến
giá trị tiền bạc, giàu sang, sức khoẻ và chủ yếu hướng vào các bình diện:
- Những giá trị phẩm chất nhân cách, đạo đức bản thân (khoan dung,
khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc)
- Những giá trị quan hệ liên nhân cách, quan hệ với nhóm, với cộng
đồng (tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm)
- Đồng thời cũng quan tâm đến một số giá trị chung (hoà bình, tự do )
Những giá trị trên là giá trị phổ quát nhất, tuy nhiên, mỗi một lứa tuổi ở
mỗi quốc gia, dân tộc lại có những giá trị sống khác nhau. Ở tuổi vị thành
niên (9 – 10 tuổi đến 17 – 18 tuổi) là giai đoạn quan trọng nhất trong sự hình
thành, phát triển nhân cách. Những giá trị sống được tiếp nhận và hình thành
ở lứa tuổi này quyết định thiên hướng nghề nghiệp và cuộc sống tương lai của
họ. Nhà trường cần giúp cho học sinh phát triển hệ giá trị của từng người.
Những giá trị sống cần thiết không thể thiếu đối với học sinh trung học
phổ thông là:
- Ham học hỏi
- Trung thực
- Giàu tình yêu thương
- Biết quan tâm đến người khác
- Cần cù, siêng năng
- Chủ động, tự tin
- Chấp nhận thử thách, sẵn sàng vượt mọi khó khăn
- Khoan dung, biết nhận lỗi và biết tha thứ
- Yêu Tổ quốc và lịch sử dân tộc
- Yêu hòa bình
- Tôn trọng bạn bè
- Sống có kỷ luật
xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực
trước các tình huống của cuộc sống.
1.3 Mối quan hệ giữa giá trị sống và kỹ năng sống
Nếu con người không có nền tảng giá trị sống rõ ràng và vững chắc, dù
cho được học nhiều kỹ năng đến đâu, chúng ta sẽ không biết cách sử dụng
nguồn tri thức ấy sao cho hợp lý, mang lại lợi cho bản thân và cho xã hội.
Không có nền tảng giá trị sống, chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản
8
thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng và
duy trì tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước
những đổi thay.
Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc, con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi
những giá trị vật chất, và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích
sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá
nhân. Giá trị sống giúp chúng ta cân bằng lại những mục tiêu vật chất. Những
giá trị sống tích cực giúp chúng ta ổn định, vững chãi giữa những biến động
của cuộc đời, có thể sẽ không dễ dàng gì nhưng ta vẫn vượt qua được.
Các kỹ năng sống trọng yếu là các kỹ năng cá nhân hay xã hội giúp học
sinh truyền đạt những điều họ biết (Kiến thức), những gì họ suy nghĩ hay cảm
nhận (Thái độ) và những gì họ tin (Giá trị) trở thành khả năng thực tiễn về
những gì cần làm và làm như thế nào.
Học sinh phải đối mặt với rất nhiều thử thách. Bằng việc nâng cao nhận
thức và đưa các thành tố trọng yếu của KNS vào cuộc sống của học sinh phổ
thông, sẽ giúp nâng cao năng lực để có được sự lựa chọn lành mạnh hơn, có
được sự kháng cự tốt hơn với những áp lực tiêu cực và kích thích những thay
đổi tích cực trong cuộc sống . Chính vì vậy trước khi hình thành KNS nào đó,
học sinh cần cảm nhận rõ ràng về các giá trị sống và sự lựa chọn của mình
đối với các giá trị.
Có thể hiểu kỹ năng sống là biểu hiện những giá trị sống trong hoạt động
và giao tiếp hàng ngày và ngược lại với kỹ năng thể hiện giá trị bằng hành
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI HIỆN NAY
Để thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng nhận thức về giá trị sống của
học sinh THPT Hà Nội hiện nay, nhóm tác giả đã tiến hành điều tra bằng
phiếu hỏi 200 học sinh phổ thông nhận thức về giá trị sống. Cụ thể như sau:
Bảng 2.1. Đối tượng khảo sát thực trạng
TT Đối tượng khảo sát Số lượng
1
Học sinh trường THPT Chu Văn An
80
2
Học sinh trường THPT Phan Đình Phùng
60
3
Học sinh trường THPT Tiến Thịnh
60
Tổng 200
Kết quả điều tra khảo sát như sau:
2.1 Hiểu biết về giá trị sống, kỹ năng sống qua nêu định nghĩa
2.1.1 Mức độ hiểu biết của HS về những giá trị sống
10
Bảng 2.2. Mức độ hiểu biết của HS về những giá trị sống
TT Giá trị sống
Đánh giá mức độ hiểu biết của HS
( 100 học sinh)
Hiểu sâu sắc
Hiểu chưa
sâu sắc
Chưa hiểu
hết
SL Tỷ lệ SL Tỷ
đánh giá là chưa hiểu hết, các giá trị trách nhiệm, giá trị giản dị, giá trị khoan
dung, giá trị hòa bình, giá trị tự do, đều có tỷ lệ tự đánh giá chưa hiểu hết là
trên 20%. Như vậy có thể khẳng định, trình độ nhận thức về giá trị sống của
HS chưa tốt, đa số chưa hiểu sâu sắc về giá trị sống.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả trên, từ nhà trường, gia đình, xã
hội chưa chú trọng công tác giáo dục giá trị sống. Học sinh chưa quan tâm
đến giá trị sống, chưa trang bị đủ kiến thức cơ bản về các giá trị sống. Vì vậy,
đa số học sinh chưa hiểu hết hoặc hiểu chưa sâu sắc về các giá trị truyền
thống cũng như các giá trị phổ quát của nhân loại.
11
2.1.2.Nhận thức của học sinh về giá trị sống, kỹ năng sống
Bảng 2.3. Nhận thức của học sinh về giá trị sống, kỹ năng sống( 100 hs)
Trình bày theo ý hiểu Số lượng Tỷ lệ (%)
Kỹ năng sống là sự biểu hiện những giá trị
sống trong hoạt động và giao tiếp hàng ngày
83 83
Không trình bày được hoặc trình bày chưa
đúng về kỹ năng sống
17 17
Giá trị sống là những gì có lợi, quý giá, quan
trọng, đáng ham chuộng, có ý nghĩa với cuộc
sống khiến mỗi người mong muốn lĩnh hội, thể
hiện ra để cuộc sống của mình tốt đẹp hơn, góp
phần cải thiện cuộc sống chung.
22 22
Không trình bày được hoặc trình bày chưa
đúng về giá trị sống
78 78
Qua số liệu thống kê điều tra, nhận thấy:
- Đa số học sinh đã trình bày được khái niệm về kỹ năng sống,
- Kỹ năng sống tốt mới tạo nên được giá trị sống tốt, có kỹ năng sống sẽ
có giá trị sống.
- Giúp mỗi người tự hoàn thiện phẩm chất và nhân cách.
- Học sinh bây giờ phải được giáo dục về đạo đức và lối sống lành mạnh
để phù hợp với lứa tuổi.
- Có kinh nghiệm sống phù hợp sẽ có nhiều kinh nghiệm đối mặt với
những việc xảy ra trong cuộc sống.
- Giúp biết cách ứng xử, giao tiếp cho phù hợp, thể hiện một con người
thanh lịch.
Trong các ý kiến cho rằng cần giáo dục giá trị sống hơn cho rằng:
- Biết được mục đích sống của mình thì sẽ biết kỹ năng nào phù hợp tốt
nhất đạt được mục đích.
- Giá trị sống phản ánh bản chất nhân cách phẩm chất đạo đức con người.
- Xác định giá trị sống đúng đắn, cá nhân sẽ có biện pháp đi đến kết quả.
Nguyên nhân thực trạng nhận thức trên do học sinh vẫn chưa hiểu giá trị
sống là cốt lõi, gốc rễ dẫn đến hành vi, kĩ năng của mỗi con người. Chưa hiểu
giá trị sống là gốc thúc đẩy thái độ, suy nghĩ, cảm xúc, hành động của mỗi
con người. Chưa nhận thức đúng nếu có giá trị sống cốt lõi mới có kĩ năng
sống tốt. Về phía nhà trường, gia đình, xã hội đã quan tâm giáo dục kĩ năng
sống, nhưng chưa thấy hết vai trò tầm quan trọng của giá trị sống.
2.1.4. Nhận thức của học sinh về sự chi phối lẫn nhau giữa kỹ năng sống và
giá trị sống; quan điểm sự cần thiết, tính quan trọng trong giáo dục giá trị
sống trước hay giáo dục kỹ năng sống trước
Bảng 2.5. Nhận thức của học sinh về sự chi phối
lẫn nhau giữa kỹ năng sống và giá trị sống( 200 hs)
13
Quan điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Kỹ năng sống chi phối giá trị sống 134 67
Giá trị sống chi phối kỹ năng sống 66 33
Kỹ năng sống là những giá trị bản chất 92 46
2.1.2. Học sinh THPT nhận diện về dấu hiệu của kỹ năng sống, giá trị sống
Bảng 2.6. Học sinh THPT nhận diện về
dấu hiệu của kỹ năng sống, giá trị sống( 100 hs)
14
TT Những biểu hiện KNS GTS
1 Phản ánh bản chất nhân cách 29 71
2 Thể hiện hành vi trong giao tiếp, hoạt động 83 17
3 Thể hiện một hành động cụ thể 81 19
4 Thể hiện phẩm chất đạo đức 41 59
5 Thể hiện nhận thức chính trị, xã hội 48 52
6 Thể hiện giá trị của con người 24 76
7 Thể hiện sự thống nhất giữa nhận thức và hành động 52 48
8 Là động cơ của hành vi, hoạt động 61 39
9 Là kỹ thuật thực hiện một thao tác hoạt động 86 14
10 Là sự thống nhất giữa lý thuyết và hành động 60 40
11 Hành động theo thói quen 64 36
Qua số liệu điều tra thể hiện trong bảng, nhận thấy:
- Các dấu hiệu về kỹ năng sống được nhận biết với tỷ lệ cao. Như: thể
hiện hành vi trong giao tiếp, hoạt động (83%), là kỹ thuật thực hiện một thao
tác, hoạt động (86%)
- Những biểu hiện của giá trị sống chưa được nhận thức đầy đủ, có tới
khoảng một nửa trong số được hỏi nhầm lẫn về những biểu hiện này. Như: thể
hiện phẩm chất đạo đức chỉ có 59% cho là GTS, còn 41% cho là KNS
Nguyên nhân là do nhận thức của học sinh về giá trị sống còn rất yếu.
Chưa phân biệt rõ ràng các dấu hiệu, biểu hiện của giá trị sống hay kĩ năng
sống.
2.1.3 Học sinh phân biệt về những giá trị sống và kỹ năng sống
Bảng 2.7. Học sinh phân biệt về những giá trị sống và kỹ năng sống(100 hs)
TT Nội dung Nhận thức
KNS GTS
15 Yêu mến và bảo vệ môi trường, sinh thái 39 61 69
16 Sống có nghĩa, có tình 47 53 78
17 Tính lạc quan, hướng tới chân, thiện, mỹ 36 64 82
18 Biết day dứt, hối hận khi có sai lầm 65 35 70
19 Khiêm tốn, nhường nhịn 69 31 72
20 Biết tránh xa các tệ nạn xã hội, ma tuý 73 27 81
21
Yêu mến và biết bảo tồn các chuẩn mực
gia đình
37 63 68
22 Đoàn kết, giúp đỡ bạn bè 57 43 80
23 Tiết kiệm 61 39 65
24 Giản dị 65 35 60
Qua số liệu thống kê điều tra, nhận thấy:
- Những kỹ năng sống được học sinh nhận biết với tỷ lệ cao. Như: kỹ năng
ứng xử trong mọi tình huống (89%), khả năng xử lý thông tin, tính toán, cân nhắc,
giải quyết vấn đề (81%), biết nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ (83%)
- Nhiều giá trị sống chưa được học sinh nhận thức đầy đủ. Như: sống có
nghĩa có tình (53%), khiêm tốn nhường nhịn (31%)
- Một số giá trị sống được học sinh vươn tới, mong muốn có được ở bản
thân. Như: biết tôn trọng, phục tùng đạo lý, pháp lý, công lý (85%); lòng yêu
nước (93%); lòng nhân ái (82%); nỗ lực học tập, rèn luyện chuẩn bị cho lập
nghiệp tương lai (80%)
- Tiếc rằng, có một tỷ lệ học sinh không xác định được giá trị sống,
không xác định được những giá trị sống cần thiết để mình vươn tới.
Nhận xét khái quát :
16
Về cơ bản, những giá trị sống và kỹ năng sống nổi bật cốt lõi đã được
nhận diện và phân biệt với tỷ lệ khá cao. Tuy nhiên, còn nhiều đối tượng khảo
sát chưa phân biệt, nhận diện được đầy đủ giá trị sống, kỹ năng sống.
trị sống là gốc rễ, thúc đẩy hành vi kĩ năng, ứng xử trong cuộc sống.Chưa
hiểu rõ giá trị sống giúp hoàn thiện nhân cách con người.
*Nguyên nhân
17
Ảnh hưởng mặt trái của kinh tế thị trường làm cho môi trường văn hóa
xã hội có nhiều thay đổi, thậm chí làm cho nhiều thang giá trị đảo lộn, lấy giá
trị vật chất làm thước đo. Toàn cầu hóa và hội nhập, mặt trái của khoa học kĩ
thuật, công nghệ thông tin kéo theo sự xâm lấn của văn hóa ngoại lai, đặc
biệt là văn hóa đồi trụy, bạo lực, chủ nghĩa thực dụng, hiện sinh, sự yếu kém
của nền kinh tế làm cho không gian học đường hạn chế…
Các nhà trường chưa thường xuyên bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kĩ
năng tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị sống. Chương trình giáo dục chưa
đáp ứng kịp thời những yêu cầu của cuộc sống đặt ra Đã một thời gian dài,
các nhà trường không quan tâm chú trọng đến hoạt động giáo dục giá trị sống
và kỹ năng sống cho học sinh các cấp. Chương trình học các cấp nặng về dạy
kiến thức, nhẹ về giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống (nặng về dạy chữ, nhẹ
về dạy làm người). Học sinh học văn hoá nhiều, vì chương trình còn nặng,
không có nhiều thời gian hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp,
ngoại khóa…
Gia đình chưa quan tâm giáo dục giá trị sống cho con em từ gốc, trong
ứng xử gia đình, chưa phối kết hợp với nhà trường, xã hội bồi dưỡng tích lũy
giá trị sống căn bản cho học sinh. Nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh
mẽ đến tư duy, quan điểm của phụ huynh, của học sinh. Đó là chạy theo
những ngành nghề “thời thông”, mau chóng có nhiều tiền, mau chóng giàu có,
bất chấp mọi hậu quả có thể xảy ra. Đó là tư tưởng tôn sùng đồng tiền, tôn
sùng giá trị vật chất mà coi nhẹ các giá trị khác (trong đó có giá trị sống, cách
sống)…
Học sinh còn thụ động, chưa biết cách xử lý trong các tình huống cũng
như trong các vấn đề mà cuộc sống đặt ra.Chưa tự giác nâng cao kiến thức về
giá trị sống. Kiến thức sách vở chưa kịp thời cập nhật thực tế, còn xa rời
THPT
3.1.1. Biện pháp 1: Đối với nhà trường
Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng tổ chức
hoạt động giáo dục giá trị sống cho các lực lượng giáo dục và đội ngũ học
sinh.
*Mục tiêu
19
Giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT là hình thành nên những giá trị
sống để học sinh sống tốt đẹp hơn, làm việc chất lượng, hiệu quả hơn, đem lại
lợi ích trước hết cho học sinh, đồng thời cho gia đình, nhà trường và xã hội.
Nguồn nhân lực là yếu tố thành công của mọi hoạt động, bởi vậy việc
xây dựng đội ngũ là một trong những biện pháp hết sức quan trọng. Qua tìm
hiểu, điều tra thực tế cho thấy giáo viên nhà trường đều cho rằng giáo dục giá
trị sống, kĩ năng sống cho học sinh là cần thiết, nhưng việc làm này còn mới
với các nhà trường. Nhiều GV cũng chưa được trang bị những kiến thức và kỹ
năng cần thiết để tổ chức hoạt động. đồng thời khơi dậy trong họ ý thức trách
nhiệm của người thầy “Dạy chữ phải kết hợp với dạy người”.
*Nội dung
Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh
nhà trường về vai trò của hoạt động giáo dục giá trị sống đối với quá trình giáo
dục toàn diện ở nhà trường THPT. Trang bị kiến thức và kỹ năng tổ chức hoạt
động giáo dục giá trị sống cho cán bộ giáo viên nhà trường. Khơi dậy ý thức
trách nhiệm của đội ngũ giáo viên, sự tích cực tham gia hoạt động của học sinh.
*Cách thực hiện biện pháp
Đối với cán bộ quản lý:
Cần phải tổ chức học tập nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước
về giáo dục và đào tạo, quán triệt một cách sâu sắc yêu cầu về đổi mới căn
bản và toàn diện giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục trong thời đại
ngày nay, xóa bỏ tư tưởng “nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người”. Cần xử lý
một cách bình đẳng giữa hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục, không
Đối với học sinh:
Học sinh nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của hoạt động GDGTS
đối với sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện “ Tiên học lễ, hậu học
văn”. Cần tuyên truyền để gúp các em hiểu được yêu cầu của xã hội ngày nay là
đòi hỏi người lao động không chỉ có trình độ mà phải còn có khả năng giao tiếp,
khả năng thích ứng…. Hoạt động GDGTS trang bị vốn sống cho các em đáp
ứng với đòi hỏi của xã hội. Muốn làm được điều đó nhà trường chỉ đạo công tác
tuyên truyền phải thường xuyên, đồng bộ và cần chú ý đến nội dung, hình thức
sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh THPT.
Với những giá trị sống phổ quát: Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung
thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà Bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị,
Khoan dung và Đoàn kết, chúng ta cần tổ chức nghiên cứu để xác định những
giá trị sống chủ yếu cần giáo dục cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện
nay. Đối với học sinh THPT cần hệ thống các giá trị phổ quát nhưng được mở
rộng và nâng nội dung lên một tầm cao đáp ứng các yêu cầu của cuộc sống
đương đại. Nội dung của những giá trị sống đối với học sinh THPT cần hướng
các em đến hoàn thiện nhân cách một người thanh niên của thời đại Hồ Chí
Minh, một nhân cách nghề nghiệp mang những giá trị tinh hoa bản sắc dân
tộc và những giá trị sống phổ quát của nhân loại, hướng đến một lối sống hài
hoà, giúp cho thế hệ trẻ thực hiện được những giá trị bản thân đúng đắn.
21
Tóm lại, giáo dục giá trị sống là giáo dục từ gốc, là dạy cho học sinh
cách sống với các giá trị và cảm nhận được các giá trị ấy. Nhà trường có vai trò
quyết định sự hình thành và phát triển giá trị sống của học sinh. Vì giá trị sống
là nguyên tắc định hướng đường đi cho mỗi người. Giá trị sống trở thành động
lực giúp con người nỗ lực đạt tới, là điều kiện để con người có bản lĩnh hành
động. Giá trị sống tích cực giúp học sinh tự ổn định, cân bằng và thích ứng
trước biến động của xã hội. Không có giá trị sống đúng, học sinh sẽ khó thích
ứng trước biến đổi của xã hội, không có những kĩ năng sống đạt chuẩn,dễ bị
ảnh hưởng tiêu cực, suy giảm nhân cách.
động giáo dục, hiểu rõ trách nhiệm của gia đình trong giáo dục con em họ.
Gia đình cần nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục, nắm
vững các quy định của nhà trường đối với học sinh, các quy chế phối hợp
giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Tham gia cùng nhà trường tổ chức một số
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khoá theo khả năng,
điều kiện cho phép.
Tăng cường gắn kết tình cảm các thành viên trong gia đình. Bố mẹ làm
gương trong đạo đức lối sống, ứng xử. Sống có trách nhiệm với ông bà dòng
tộc, giữ gìn gia đình hòa thuận, hạnh phúc. Gia đình yêu thương gắn bó, đoàn
kết, hợp tác, tôn trọng , khoan dung…
3.1.3. Biện pháp 3: Đối với xã hội
Xã hội cùng phối kết hợp với gia đình, nhà trường tham gia giáo
dục giá trị sống cho học sinh.
* Mục tiêu
Xã hội cùng phối kết hợp với gia đình và nhà trường tham gia giáo dục
giá trị sống cho học sinh góp phần hoàn thiện nhân cách học sinh. Không để
học sinh vi phạm pháp luật, tệ nạn, bạo lực…
* Nội dung
Các cơ quan chức năng,tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương các
cấp cũng cần xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình và các lực lượng
tham gia giáo dục GTS cho học sinh.
* Cách thức thực hiện biện pháp
Chính quyền địa phương nơi học sinh cư trú kết hợp với nhà trường
để nắm, phản ánh tình hình học sinh một cách toàn diện. Những thông tin
trao đổi từ những cán bộ địa phương thông qua giáo viên chủ nhiệm, giúp
nhà trường có thêm kênh thông tin để đánh giá chính xác hơn về học sinh
của mình, từ đó lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục cho phù hợp.
Phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng xã hội, tuyên truyền giáo dục
hiến pháp, pháp luật, giáo dục những giá trị truyền thống cho học sinh - Giáo
dục bản sắc văn hoá địa phương: bản sắc văn hoá dân tộc hàm chứa trong mỗi
kết, tinh thần lao động cần cù tiết kiệm. Nhưng những nội dung trên được mở
rộng và nâng lên một tầm cao mới đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đương đại.
Nội dung của những giá trị sống đối với học sinh trung học phổ thông cần
hướng đến hoàn thiện nhân cách một người thanh niên, một công dân, hướng
đến một nhân cách nghề nghiệp, một thanh niên thời đại mang những giá trị
tinh hoa bản sắc dân tộc và những giá trị phổ quát của nhân loại, hướng đến
một lối sống hài hoà giữa đời sống cá nhân - bạn bè - tình yêu - sự nghiệp -
trách nhiệm xã hội.
* Cách thức thực hiện biện pháp
Mỗi học sinh cần sống có mục đích, nhận thức đúng đắn, rèn luyện nhân
cánh. Tham gia các hoạt động của nhà trường, địa phương, các hoạt động tình
nguyện… Hàng năm, vào dịp hè có “Học kỳ Quân đội” do các đơn vị quân
đội phối hợp Đoàn TNCS tổ chức. Về phía học sinh, cần có sự chuẩn bị tâm
lý vững vàng, có sức khoẻ tốt sẳn sàng tham gia khoá học. Qua “Học kỳ quân
đội”, học sinh sẽ được giáo dục về kỹ năng sống như: chấp hành nội quy, quy
định; sống thực tế như người lính; tình đồng chí, đồng đội; tình quân dân;
24
luyện tập, rèn luyện sức khoẻ; rèn luyện ý chí và nghị lực vượt mọi thử
thách…
Xác định được vai trò trách nhiệm của mình đến gia đình, xã hội, đến
cha mẹ, ông bà, đến việc học tập và cuộc sống bản thân. Biết thương yêu,
kính trọng và giúp đỡ cha mẹ, ông bà, gia đình.
Phát triển các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống, phát triển
các tố chất tâm lý, tâm hồn, hướng tới cuộc sống tinh thần lạc quan, yêu đời,
vui vẻ, sống hoà nhập với cộng đồng và gần gũi với thiên nhiên; tự điều chỉnh
cuộc sống cá nhân hướng tới cuộc sống có văn hoá và hạnh phúc.Tạo ra nội
lực của sự phát triển nhân cách bền vững.
Học sinh cần hiểu rõ bản chất các giá trị sống để có các kỹ năng sống
cần thực hiện. Chẳng hạn, nếu học sinh hiểu con người phải có lòng nhân ái,
giá trị của nó thì sẽ không có hiện tượng bạo lực trong học đường; học sinh