Đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực tư nhân - Thực trạng và Giải pháp - Pdf 12

Đầu t thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực t nhân - Thực trạng và Giải pháp
Lời nói đầu
Từ đại hội VI của đảng năm 1986 , đảng ta đã nhận thấy rằng việc
chuyển đổi nền kinh tế nớc ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hớng của nhà nớc là một yêu cầu khách quan có
tính qui luật . Đặc biệt từ đại hội VII của đảng năm 1991 , nền kinh tế nớc ta
mới chính thức chuyển sang nề kinh tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc .
điều này cũng có nghĩa là: Với nền kinh tế kế hoạch hoá gồm hai thành phần
kinh tế nhà nớc và tập thể , khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng sẽ xuất hiện
một số thành phần kinh tế mới trong đó có kinh tế t nhân.
Trải qua hơn 10 năm đổi mới, cùng với sự phát triển nền kinh tế là sự lớn
mạnh của kinh tế t nhân.lý luận của đảng đã chứng minh vai trò của kinh tế t
nhân và thực tế càng khẳng định rõ vai trò của kinh tế t nhân trong việc thúc
đẩy tăng trởng và phát triển nền kinh tế quốc dân. Nếu nh nền kinh tế nhà nớc
chiếm u thế ở những dự án cần vốn lớn, kĩ thuật phức tạp thì kinh tế t nhân lại
chiếm u thế ở những dự án vừa và nhỏ, những dự án đem lại lợ ích trực tiếp nhất
đến ngời dân , đó là việc làm, thu nhập, các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đa
dạng phong phú. Có thể nói kinh tế nhà nớc có tác động ở tầm vĩ mô còn kinh tế
t nhân có hiệu quả ở tầm vi mô.Đó là hai mảng của nền kinh tế có tác dụng bổ
sung , hỗ trợ cùng phát triển và cùng đa nền kinh tế đi lên .
Chính vì vai trò của kinh tế t nhân trong nền kinh tế nớc ta, nhất là khi n-
ớc ta đang trong quá trình hội nhập AFTA và tiến tới tham gia WTO. Do vậy
em đã chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu thực trạng nền kinh tế t nhân ở nớc
ta hiện nay từ đó đa ra các giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế t nhân. Qua
đó có thể nâng cao thêm những hiểu biết về những vấn đề kinh tế ở nớc ta hiện
nay .
Em xin chân thành cảm ơn cô Phạm Thị Thêu giảng viên đại học
thuộc bộ môn kinh tế đầu t của trờng đại học Kinh Tế Quốc Dân đã nhiệt tình
giải đáp các thắc mắc cũng nh giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Huy
1

Xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu t đem lại chúng ta có thể
phân biệt các loại đầu t nh sau:
a,Đầu T Tài Chính (đầu t tài sản tài chính) là loại đầu t trong đó ngời có tiền
bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trị để hởng lãi suất định tr-
ớc(gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành.
Đầu t tài sản tài chính không tạo ra tài sẩn mới cho nền kinh tế (nếu
không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài
sản tài chính của các tổ chức, cá nhân đầu t(đấnh bạc cũng là một loại đầu t tài
chính nhằm mục đích thu lời nhng bị cấm do gây ra nhiều tệ nạn xã hội.Công ty
mở sòng bạc để phục nhu cầu giải trí của ngời đến chơi nhằm thu lợi nhuận về
cho công ty thì đây lại là đầu t phát triển, nếu đựoc nhà nứoc cho phép và tuân
theo đầy đủ các quy chế hoạt động do nhà nớc quy định để không gây ra các tệ
nạn xã hội). Với sự hoạt động của hình thức đầu t tài chính, vốn đầu t bỏ ra đợc
lu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng(rút tiết kiệm,
chuyển nhợng trái phiếu, cổ phiếu cho ngời khác).Điều đó khuyến khích ngời
có tièn bỏ ra để đầu t.Để giảm độ rủi ro họ có thể đầu t vào nhiều nơi, vào nhiều
lĩnh vực, mỗi nơi một số lợng nhất định.Đây là một nguồn cung cấp vốn quan
trọng cho đầu t phát triển.
b,Đầu T Thơng Mại
Là loại đầu t trong đó ngời có tiền bỏ tiền ra mua hàng hoá và sau đố bán
với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và bán. Loại đầu
t này cũng không thể tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến
ngoại thơng), mà chỉ làm tăng tàI sản tài chính của nhà đầu t trong quá trình
mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu giữa ngòi bán với nhà đầu t và nhà
đầu t với khách hàng của họ. Tuy nhiên ,đầu t thơng mại có tác dụng thúc đẩy
quá trình lu thông của cải vật chất do đầu t phát triển tạo ra . Từ đó thúc đẩy đầu
t phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất,
kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung ( chúng ta cần
phảI lu ý rằng: đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc loại đầu t thơng mại xét về

lao động. Tăng tốc độ, tăng trởng của nền kinh tế.
Cho đến những năm đầu của thập kỷ 50 thé kỷ xx, NURKSE đã nhấn
mạnh hơn đến vai trò của đầu t và vốn đầu t đến sự phát triển nền kinh tế.
NURKSE cho rằng việc thiếu vốn đầu t là một nguyên nhân gây ra tình trạng
nghèo đói.Ông đã chỉ ra vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói (VICIOUS CIRCLE
OF POVERTY)
Về phía cung: Một quốc gia có thu nhập thấp sẽ có khả năng tích luỹ
thấp, tích luỹ thấp dẫn đến thiếu vốn đầu t, thiếu vốn đầu t dẫn đến năng lực sản
xuất bị hạn chế và năng suất lao động cũng không thể cao, năng lực sản xuất
thấp dẫn đến thu nhập sẽ thấp.
Về phía cầu : Thu nhập thấp làm cho sức mua thấp, sức mua thấp làm
cho hoạt động gia tăng đầu t bị hạn chế, đầu t bị hạn chế dẫn năng lực sản xuất
thấp và từ đó cũng sẽ lại dẫn đến thu nhập thấp.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Huy
4
Đầu t thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực t nhân - Thực trạng và Giải pháp
Thực tế cho thấy, các nớc nghèo hiện nay trên thế giới hầu hết chịu cảnh nghèo
đói một phần do những nguyên nhân trên.Tức là nghèo đói tại các quốc gia này
một phần do thiếu vốn đầu t và sự đầu t thích đáng, có hiệu quả.Nguyên nhân
của tình trạng đầu t hạn chế tại các nớc này là do hoặc vì thiếu động lực thúc
đẩy đầu t hoặc là khẳ năng tích luỹ của nền kinh tếquá nhỏ.
Điều này cho thấy rằng, để phát triển và thực hiện xoá đói giảm nghèo
thành công thì phải làm sao phá vỡ đợc cái vòng luẩn quẩn trên. Một trong
những biện pháp để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó là xuất phát từ khía cạnh đầu
t. Nền kinh tế phải tạo đợc sự chuyển biến tăng mức tích luỹ từ mức thấp lên
mức trung bình và mức cao để tăng quuy mô đầu t từ đó tăng năng lực sản xuất
của nền kinh tế và cuối cùng là tăng thu nhập .
Trong hầu hết các mô hình tăng trởng, từ mô hình tăng trởng của
HARROD DOMAR(mô hình một khu vực ) hay mô hình ARTHUR LEWIS
(mô hình hai khu vực) đều thể hiện một mối quan hệ chặt chẽ và rõ ràng giữa sự

tế thờng bắt đầu với việc ớc tính tỉ lệ tích luỹ và khối lợng sản phẩm đầu ra
thuần tuý đợc tạo ra từ đầu t thuần. Nhiều nghiên cứu đã cố gắng lợng hoá số
vốn cần thiết để tăng sản lợng đầu ra thêm mỗi mỗi đơn vị mỗi năm trong mỗi
khu vực hay của cả nền kinh tế. Giá trị tính đơcj này gọi là tỉ lệ vốn sản lợng
(capital output ratio) hay hệ số vốn (capital coefficient).
Tỉ số vốnsản lợng gia tăng (incremental-output ratio) hay cận biên (marginal)
viết tắt là ICOR đợc tính bằng khối lợng vố gia tăng cần thiết (K) để tạo ra
một đơn vị gia tăng trong tổng sẩn lợng quốc gia(Y).
Tỷ số ICOR của các nớc đang phát triển thờng là từ 2:1 dến 5:1. Ví dụ
nếu muốn tăng sản lợng quốc gia 20, khi mà ICOR tính đợc cho nền kinh tế là
4:1 thì lợng vốn gia tăng cần thiết để đầu t là 80.
Theo mô hình HAROD_ DOMAR tốc độ tăng trởng của nền kinh tế phụ
thuộc vào tỷ số vốn- sản lợng năng suất của vốn đầu t.
g=
Y
I
ICORY
k
k
y
k
k
.
1
. =



=


bổ sung về nhân công và nhu cầu về t liệu sản xuất. Do vậy, tăng việc làm và
tăng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Tất cả những điều đó làm tăng thu nhập
của nền kinh tế và đến lợt mình , tăng thu nhập lại làm gia tăng đầu t mới. Quá
trình này thể hiện thông qua một đại lợng gọi là số nhân đầu t .Số nhân đầu t
thể hiện qua tác động dây chuyền: tăng đầu t làm tăng thu nhập ,tăng thu nhập
làm tăng đầu t mới ,tăng đầu t mới lại làm tăng thu nhập mới. Qua quá trình
hoạt động này, số nhân đầu t làm phóng đại thu nhập lên.
Số nhân đầu t thê hiện mối quan hệ giữa mức gia tăng thu nhập và mức
gia tăng đầu t. Số nhân đầu t xác định sự gia tăng đầu t sẽ làm cho thu nhập
tăng lên nh thế nào. Nếu ký hiệu dY là mức gia tăng thu nhập ,dI là mức gia
tăng đầu t và m là là số nhân đầu t thì:
m=
dI
dY
Vì I=S nên :m=
c
dY
dC
dCdY
dY
dS
dY

=

=

=
1
1

x : là đại lợng thể hiện mối quan hệ giữa hai biến số vốn đầu t và sản lợng đầu
ra
Kt :là khối lợng vốn đầu t của nền kinh tế trong thời gian t
Yt :là sản lợng đầu ra trong thời gian t
Từ công thức trên có thể viết nh sau:
Kt=x*Yt
Nếu giả định rằng : x là đại lợng không thay đổi ,hay mối quan hệ này là nh
nhau tại các thời điểm khác nhau. Khi trong giai đoạn t-1 ta cũng có:
K(t-1)=x*Y(t-1)
Từ đó ta có thể suy ra:
K(t-1)-K(t-1)=x*Yt-x*Y(t-1)=x*(Yt-Y(t-1))
Nh vậy đầu t thuần (net investment), Kt-K(t-1) bằng với x (hệ số gia tăng
đầu t) nhân với mức thay đổi trong tổng sản lợng đầu ra (
Y
).
Với giả thiết x là số cố định thì chúng ta thấy rằng đầu t thuần là một hàm số
của mức thay đổi sản lợng đầu ra. Nếu mức sản lợng đầu ra tăng ,đầu tthuần sẽ
là một số dơng. Nếu mức sản lợng đàu ra tăng càng nhiều thì đầu t ròng càng
lớn. Ngợc lại nếu mà mức sản lợng đầu ra mà gỉm thì đầu t sẽ là một số âm.
Vậy có thể viết:
NI=x*(Yt-Y(t-1))=x*
Y
Trong đó; NI là đầu t thuần ,
Y
là mức thay đổi trong tổng sản lợng đầu
ra
Theo lý thuyết này thì cần phải có một lợng vốn nhất định để sản xuất ra
một lợng sản phẩm đầu ra cho trớc. Qua thời gian mà tổng cầu không thay đổi
thì đầu t thuần vẫn bằng không bởi không có động lực cho các hãng mở rộng
quy mô của mình. Tuy nhiên, tổng đầu t vẫn là một số dơng bởi vì các hãng vẫn

Theo lý thuyết gia tốc đầu t, sản lợng đầu ra là yếu tố quyết định mức
đầu t. Vì vậy,tăng chi tiêu của chính phủ hoặc giảm thuế thu nhập sẽ thúc đẩy
đầu t của nền kinh tế thông qua tác động của chúng đến tổng cầu. Theo lý
thuyết quỹ đầu t nội bộ thì chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hởng
đến đầu t của nền kinh tế do nó tác động trực tiếp đế quy mô quỹ đầu t nội bộ.
Còn lý thuyết tân cổ điển cho rằng chính sách thuế thu nhập cũng ảnh hởng
mạnh đến đầu t nhng không phải ảnh hởng đến nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp
mà do tác động đến giá của các dịch vụ vốn và từ đó ảnh hởng đến đầu t.
f, lý thuyết q về đầu t
lý thuyết này cho rằng đầu t có mối quan hệ tỷ lệ thuận với q. Trong đó q
là tỉ giữa giá trị thị trờng của doanh nghiệp và chí phí thay thế tày sản của
doanh nghiệp đó. Giá trị thị trờng của doanh nghiệp có thể tính đợc bằng cách
cộng giá trị thị trờng của các cổ phiếu thờng, cổ phiếu u đãi cũng nh giá trị vay
nợ thuần của doanh nghiệp. Tài sản (vật chất) của doanh nghiệp bao gồm: nhà
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Huy
9
Đầu t thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực t nhân - Thực trạng và Giải pháp
xởng, trang thiết bị và hàng hoá dự trữ. Mối quan hệ này thể hiện nh sau: nếu
giá trị thị trờng của doanh nghiệp mà tăng và cao hơn chi phí thay thế các tài
sản của doanh nghiệp đó, thì doanh nghiệp sẽ có động cơ huy động thêm vốn để
đầu t mở rộng quy mô sản suất kinh doanh và tăng giá trị thuần của doanh
nghiệp. Khi đó đầu t thuần sẽ là một số dơng.
Ii/.vai trò của kinh tế t nhân trong sự phát triển
kinh tế đất nớc
1, khái niệm kinh tế t nhân
Kể từ năm 1990 khi nhà nớc ta ban hành luật doanh nghiệp t nhân cho
đến nay, kinh tế t nhân ở nớc ta trải qua một giai đoạn hình thành và phát triển
hơn một thập kỷ. Tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh về
khái niệm kinh tế t nhân (KTTN) cũng nh cách phân loại. Qua quá trình phát
triển của kinh tế t nhân thì quan niệm về bản chất và nhất là những tiêu chí để

của ngời lao động không còn đựoc phát huy tác dụng của mình. Cùng với đó là
cách phân phối đều những thành quả lao động làm cho động lực phấn đấu lao
động sản xuất bị triệt tiêu. Chế độ tem phiếu làm hoạt động thông thơng đình
trệ và thiếu thốn những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày. Chính vì vậy cuộc sống
của ngời dân gặp nhiều khó khăn. cùng với những di chứng của nền kinh tế kế
hoạch để lại là những hạn chế về mặt lịch sử của nền kinh té trớc đó. Nền kinh
tế nớc ta trớc đó là nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến, là nền kinh tế làng xã
manh mún và phục vụ sự khai thác bóc lột của thực dân pháp. Hoạt động thông
thơng giữa các vùng miền và với nớc ngoài rất tiêu điều.
Chính vì xuất phát từ một nền kinh tế nh vậy cho nên ngời lao động bị bó
hẹp trong những khuôn khổ , những tổ chức mà không đợc tự do phát huy sáng
tạo.
Sức lao động đợc sử dụng không mấy hiệu quả. Điều này cũng làm sức
sản xuất của nền kinh tế bị bó hẹp. Do vậy khi chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng, ở đó lao động cũng là một loại hàng hoá đợc mua bán trên thị trờng lao
động. Điều này làm cho hiệu qủa lao động đợc tăng lên, ngời lao động tự do
phát huy những sáng tạo của mình và thêm vào đó là thu nhập gắn với hiệu quả
làm việc của ngời lao động. Do vậy động lực thúc đẩy ngời lao động nâng cao
năng lực làm việc và ý thức làm việc là điều kiện cần thiết để nâng cao năng
suất lao động đợc phát huy.
Hơn nữa sự khác nhau giữa nền kinh tế kế hoạch hoá và kinh tế thị trờng
nằm ở khu vực kinh tế t nhân. Nền kinh tế kế hoạch hoá không thừa nhận sự tồn
tại của kinh tế t nhân hay kinh tế t nhân bị xoá bỏ còn kinh tế thị trờng thì lại đề
cao vai trò kinh tế t nhân. Nh vậy có thể nói rằng khu vực kinh tế t nhân đóng
góp phần lớn vào việc giải phóng sức lao động, sức sản xuất của nền kinh tế.
Kinh tế t nhân còn đóng góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt
động thơng mại trong nớc cũng nh hoạt động ngoại thơng. Sự phát triển của
kinh tế t nhân đã góp phần xoá bỏ tình trạng manh mún của nền kinh tế, xoá bỏ
tình trạng kinh tế làng xã khép kín. Hoạt động thơng mại giữa các vùng miền
trong cả nớc đợc đảy mạnh là cơ sở để các vùng miền phát huy các lợi thế so

Đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội và ngân sách nhà nớc gồm các khu vực
kinh tế sau: khu vực kinh tế nhà nớc, khu vực kinh tế t nhân, khu vực có vốn
đầu t nớc ngoài, khu vực kinh té tập thể. Theo số liệu năm 1999 thì vốn của khu
vực kinh tế t nhân chiếm 24,05% các nguồn trong vốn xã hội. Năm 2000 kinh tế
t nhân chiếm 24,31%các nguồn vốn trong xã hội. Vậy mà đống góp của khu
vực này vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2000 là 42,3% GDP toàn
quốc. Trong khi khu vực kinh tế nhà nớc chiếm phần lớn lợng vốn trong xã hội
cùng với các chính sách u đãi của nhà nớc mà chỉ đóng góp 39% GDP toàn
quốc. Nh vậy hiệu quả hoạt động , sự đóng góp của kinh tế t nhân vào GDP toàn
quốc lớn hơn khu vực kinh tế nhà nớc. Với tỉ trọng lớn hơn 1/5 tổng nguồn vốn
toàn xã hội mà đã đóng góp gần 50% GDP toàn quốc.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Huy
12
Đầu t thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực t nhân - Thực trạng và Giải pháp
Nh vậy tiềm năng đóng góp của kinh tế t nhân vào GDP toàn quốc còn rất lớn
khi mà vốn của khu vực này tăng lên. Do hiệu quả hoạt động cao sẽ thu hút dợc
nhiều vốn vào khu vực này. Cùng với sự đóng góp phần lớn vào GDP toàn quốc
của kinh tế t nhân là sự đong góp vào ngân sách nhà nớc. Theo số liệu năm
2000 thì chỉ tinh riêng thuế của khu vực kinh tế t nhân đã đóng góp 16,1% tổng
thu ngân sách nhà nớc Trong đó mỗi loại hình donh nghiệp cũng đóng góp khác
nhau vào các năm khác nhau. Tính bình quân chung cho cả ba loại hình doanh
nghiệp nộp ngân sách là 0,12tỷ đồng /cơ sở vào năm 1991. Sau năm năm mức
bình quân này giảm còn 0,07 tỷ đồng (năm 1996). Trong đó DNTN có mức nộp
ngân sách bình quân thấp nhất 0,03tỷ đồng (năm 1991) nhng lại gỉm nhiều và
chỉ còn 0,01 tỷ (năm 1996) giảm 3 lần. Trong khi đó CTTNHH mặc dù có donh
thu giảm mạnh nhng vẫn duy trì đợc mức nộp ngân sách , có năm còn tăng
(năm 1991) là 0,19 tỷ đồng lên 0,22tỷ đồng (năm 1992) , 0,20 tỷ (năm 1993),
0,18 tỷ đồng (năm 1994), 0,19 tỷ đồng (năm 1995) và giảm xuống chút ít còn
0,16 tỷ đòng vào năm 1996. CTCP nộp ngân sach nhà nớc có mức bình quân
cao từ 1,18tỷ đòng (năm 1991) sau đó liên tục giảm , chỉ còn 1,15 tỷ đồng và

hình thành hình hệ thống Marketing mới ở nớc ta trong đó thơng nghiệp
quốc doanh chỉ còn làm chủ lĩnh vực bán buôn những nghành hàng quan trọng ,
t thơng làm chủ lĩnh vực bán lẻ hàng tiêu dùng xã hội .
Trong lĩnh vực sản xuất, khu vực t nhân còn chiếm tỷ trọng thấp, tiềm lực còn
nhỏ, dễ bị tác động, thua thiệt trớc sự cạnh tranh của cơ chế thi trờng.
Năm1998, khối sản xuất của khu vực nhà nớc (quốc doanh và taqạp thể) còn
chiếm tới 54,1% tổng giá trị sản lợng ( mặc dù so với năm 1995 đã giảm đi
7%). Khối đầu t nớc ngoài đã tăng lên18% (từ 15%năm 1995)-trong đó khu vực
t nhân chính thức giảm xuống 9,6% (từ 10,5% năm 19995 ). Còn nếu xét về tốc
độ tăng trởng tổng giá trị sản lợng thì : khu vực quốc doanh từ 11,7% vào năm
1995 giảm xuống 5,5%vào năm 1998; khu vực t nhân từ 16,8% năm 1995
xuống 9% vào năm 1998; riêng khu vực có vốn đầu t nớc ngoài từ 14,9% năm
1995 tăng lên 18,1% vào năm 1998.
Qua các số liệu thống kê và tình hình phát triển của câc doang nghiệp thuộc khu
vực kinh tế t nhân nh trên thì vai trò của kinh tế t nhân trong việc chuyển dịch
cơ cấu nền kinh tế là rất lớn. Sự chuyển dịch cơ cấu này mang tính hợp lý hơn,
phù hợp với xu thế phát triển kinh tế trên thế giới . Xu thế phát triển kinh tế ở
thời kỳ kinh tế hậu công nghiệp đó là nền kinh tế có cơ cấu kinh tế mà trong đó
tỷ trọng các ngành dịch vụ chiếm phàn lớn rồi sau đó mới ngành công nghiệp và
xây dựng , cuối cùng mới là ngành nông nghiệp có xu hớng ngày càng giảm.
Cùng với sự phát triển của kinh tế t nhân là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý
hơn. Hoạt động thơng mại dịch vụ phát triển làm cho tỷ trọng ngành dịch vụ tăn
lên và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Mà hoạt động thơng mại dịch vụ
lại do khu vự kinh tế t nhân chiếm giữ phần lớn và đóng vai trò quyết định trong
ngành. Khi bắt đầu chuyể đổi thì nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nông nghiệp
lạc hậu, hoạt đông nông nghiệp là hoạt động chủ yếu của nền kinh tế, 70% dân
số hoạt động trong khu vực nông nghiệp. Ngay trong nông nghiệp cũng chỉ độc
canh cây lúa là chủ yếu. Hiện nay tỷ trọng các ngành đã có sự thay đổi rất lớn
so với trớc. Ngành dịch vụ chiếm khoảng 42%,ngành công nghiệp và xây dựng
chiếm khoảng 31% còn lại là ngành nông nghiệp chiếm khoảng 27%.

không biết tận dụng những kỹ thuật mà quân mỹ để lại. Chuyển sang gia đoạn
xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta lại mắc sai lầm mang tính giáo điều. Đó là
áp dụng nguyên mẫu mô hình của liên xô cho nền kinh tế nớc ta mà không xuất
phát theo qui luật khách quan của cách mạng công nghiệp. Quy luật của cuộc
cách mạng công nghiệp đó là xuất phát từ công nghiệp nhẹ mà tiêu biểu là công
nghiệp dệt may. Sau khi đã tích luỹ và có những chuyển biến lớn về kỹ thuật
mới tiến hành cách mạng hoá ở công nghiệp nặng. Liên xô đã từng tiến hành
cách mạng công nghiệp nhẹ , do vậy họ mới có thể tiến hành các mạng công
nghiệp nặng. Còn chúng ta lại áp dụng nguyên mẫu mô hình của liên xôcùng
giai đoạn trong khi xem đến sự khác nhau ở xuất phát điểm của hai nền kinh tế.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Huy
15
Đầu t thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực t nhân - Thực trạng và Giải pháp
Chính vì những nguyên nhân trong lịch sử nh ở trên mà nền khoa học kỹ thuật
nớc ta khi bớc sang kinh tế thị trờng rất lạc hậu. Theo nh tính toán của các nhà
kỹ thuật trên thế giới thì: khoa học kỹ thuật áp dụng vào các ngành nghề của n-
ớc ta tính bình quân lạc hậu từ 2 3 thế hệ so với trên thế giới. Công nghệ tính
bình quân lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với thế giới. Cá biệt có những ngành lạc hậu
5-6 thế hệ so với thế giới. Cơ khí là ngành công nghiệp quan trọng trong nền
kinh tế, vậy mà công nghệ của ngành này cũng lạc hậu 4-5 thế hệ so với thế
giới.
Không chỉ là lạc hậu về khoa học kỹ thuật công nghệ mà khoa học kỹ
thuật chỉ tồn tại bó hẹp trong những xí nghiệp nhà máy của nhà nớc. Các nhà
máy xí nghiệp này lại hoạt động cầm chừng, thờng xuyên thua lỗ. Nên việc đổi
mới máy móc thiết bị là điều không thể có. Nên kỹ thuật lạc hậu là chuyện đ-
ơng nhiên.
Về phần cứng thì nh vậy, còn phần mềm thì cũng chẳng sáng sủa hơn là
mấy. Phần mềm ở đây chủ yếu là con ngời. Chúng ta cũng có những nhà kỹ
thuầt tài giỏi. Nhng việc sử dụng họ thì rất lãng phí và không hiệu quả, không
khai thác hết những gì họ biết. Hơn thế nữa điều kiện để họ có thể phất huy tài

e. Kinh tế t nhân cùng các khu vực kinh tế khác tạo ra một nền kinh tế thị
trờng đích thực, có hiệu quả đảm bảo nền kinh tế tăng trởng và phát triển
mạnh mẽ, bền vững.
Nền kinh tế nớc ta có các khu vực kinh tế lớn đó là:
Kinh tế nhà nớc và tập thể, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài và khu vực kinh
tế t nhân. Mỗi khu vực kinh tế đều có những u nhợc điểm khác nhau. Nhng giữa
chúng có sự bổ sung, hỗ trợ nhau cùng phát triển, cùng tạo ra một nền kinh tế
thị trờng đích thực có hiệu quả và đảm bảo cho nền kinh tế tăng trởng và phát
triển mạnh mẽ bền vững. Nếu nh kinh tế nhà nớc tập trung vào các công trình
cơ sở hạ tầng lớn đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật phức tạp và khu vực có vốn đầu t nớc
ngoài chiếm u thế ở sản xuất hàng công nghiệp và tiêu dùng thì khu vực kinh tế
t nhân lại có vai trò quan trọng trong việc hình thành các ngành công nghiệp
phụ trợ, các dịch vụ phục vụ cho hai khu vực trên. Kinh tế nhà nớc và tập thể
cùng với khu vực có vốn đầu t nớc ngoài có u thế trong ngành sản xuất công
nghiệp và xây dựng cơ bản. Kinh tế t nhân có u thế ở ngành thơng mại, dịch vụ.
Nh vậy, dựa trên đặc điểm của các khu vực kinh tế mà có sự phân công tơng đối
các ngành nghề cho các khu vực kinh tế khác nhau. Mặc dù là có u thế tơng đối
ở các ngành nghề phù hợp đặc điểm của các khu vực kinh tế, nhng giữa các khu
vực này cũng có sự cạnh tranh lẫn nhau. Sự cạnh tranh này không mang tính
triệt tiêu lẫn nhau mà trái lại nó giúp cho các khu vực này cùng phát triển.
Nh vậy, mặc dù là nền kinh tế nớc ta là kinh tế thị trờng với vai trò chủ đạo,
dẫn rắt nền kinh tế của kinh tế nhà nớc. Nhng vai trò của kinh tế t nhân và khu
vực có vốn đầu t nớc ngoài cũng rất quan trọng và cần phải đợc phát huy. Kinh
tế t nhân với vai trò quan trọng nh đã trình bày ở trên trong việc thúc đẩy tăng
trởng và phát triển kinh tế. Cho nên việc nghiên cứu, xem xét các nhân tố ảnh h-
ởng đến sự phát triển của kinh tế t nhân là rất cần thiết. Từ việc xem xét các
nhân tố ảnh hởng đến kinh tế t nhân, chúng ta có thể đa ra những cách thức tác
động làm thúc đẩy kinh tế t nhân phát triển cũng chính là thúc đẩy nền kinh tế
tăng trởng và phát triển.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Huy

kiện, những ngành nghề mà nhà nớc độc quyền mà các thành phần kinh tế khâc
không đợc tham gia. Thông qua chính sách tìa chính nhà nớc cũng có thể tác
động gián tiếp đến kinh tế t nhân, nếu chính sách tài chính thông thoáng sẽ thúc
đẩy kinh tế t nhân vay vốn để đầu t phát triển, nếu chính sách tài chính chặt sẽ
hạn chế kinh tế t nhân đầu t phát triển. Nhà nớc cũng có thể điều chỉnh thông
qua các chính sách về đất đai, luật tài nguyên môi trờng, luật sử dụng lao động.
Nói chung nhà nớc sử dụng các công cụ hành chính pháp luật, các chính sách,
biện pháp khác nhau để điều chỉnh kinh tế t nhân là cần thiết. Sự điều chính này
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Huy
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status