Lời mở đầu
Lạng Sơn là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía đông bắc của Tổ quốc, điểm đầu của
con đường huyết mạch ( quốc lộ 1A) nối Việt Nam với nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa. Với vị trí địa lý thuận lợi về kinh tế và vô cùng quan trọng về an ninh -
quốc phòng, Lạng Sơn trở thành đầu mối quan trọng trong giao lưu kinh tế, văn
hoá – xã hội và hợp tác kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, Lạng Sơn tự hào có nhiều
danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nhiều địa danh đã đi vào lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc, có truyền thống văn hoá mang đậm bản sắc của dân tộc.
Trong mấy năm vừa qua bằng quyết tâm của mình, nhân dân các dân tộc
Lạng Sơn đã vượt qua được những chặng đường khó khăn, thách thức đã tạo được
những chuyển biến vượt bậc đưa nền kinh tế - xã hộ phát triển giữ vững ổn định an
ninh chính trị; từng bước chuyển dịch nền kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển lĩnh
vực thương mại dụch vụ, chú trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp nhất là
công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm.
Để đạt được những thành tựu ấy, có sự đóng góp rất lớn của các hoạt động
đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhằm xem xét và đánh giá các hoạt động
đầu tư đó, em đã nghiên cứu và viết đề tài “ Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Lạng
Sơn giai đoạn 2004-2009: Thực trạng và giải pháp”. Đề tài đã sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thu thập và phân tích số liệu, phương
pháp xử lý số liệu thứ cấp và phương pháp so sánh
CHƯƠNG I – THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ LẠNG SƠN ( 2004 – 2009)
1.1. Điều kiện kinh tế – xã hội và tự nhiên có ảnh hưởng đến đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn:
1.1.1Điều kiện tự nhiên:
1.1.1.1.Lợi thế về phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, du lịch, dịch vụ
Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có đường quốc
lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua và đường sắt liên vận quốc tế nối các nước Đông,
Bắc Âu – Trung Quốc - Việt Nam – các nước ASEAN, là điểm nút của sự giao lưu
kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông như
tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, Thủ đô Hà Nội và phía Bắc
các loại cây trồng như lúa, ngô, chè, thuốc lá, đậu đỗ, các loại cây công nghiệp và
cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và các loại cây lâm sản, cây đặc sản như hồi, cây
nguyên liệu giấy. Vì vậy, hướng phát triển của ngành nông – lâm nghiệp Lạng Sơn
là khai thác thế mạnh, tiềm năng về kinh tế đồi rừng, tạo thành các vùng sản xuất
hàng hoá tập trung về cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn
ngày có thế mạnh, các cây lâm nghiệp cho nguyên liệu giấy.
Đến năm 2009, Lạng Sơn đã quy hoạch và xây dựng được một số vùng sản
xuất hàng hoá tập trung như: vùng hồi ở Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Văn Lãng,
Tràng Định ( gần 3 vạn ha); vùng na Chi Lăng, Hữu Lũng ( 2.176 ha); vùng vải
thiều ở Hữu Lũng, Chi Lăng ( trên 4.500 ha); vùng quýt Bắc Sơn ( 1.603 ha); vùng
nguyên liệu thuốc lá Bắc Sơn ( 2.017 ha ); vùng chè Đình Lập ( trên 700 ha ); vùng
thông, bạch đàn Lộc Bình, Đình Lập ( trên 45 nghìn ha ); vùng mía Hữu Lũng,
Tràng Định, Lộc Bình (trên 150ha); vùng vải Hữu Lũng ( 4050ha)…
Sản phẩm Nông – Lâm Nghiệp phong phú trước mắt tạo điều kiện cho việc
buôn bán xuất khẩu hàng hóa nông sản, là cơ sở đẩy mạnh phát triển chế biến Nông
– Lâm sản. Từ đó kích thích khả năng đầu tư từ những dự án đầu tư: cơ sở chế biến
tinh dầu hồi, , trồng và chế biến chè xuất khẩu, trồng thông và xây dựng nhà máy
chế biến nhựa thông…
Bắt đầu đi lên công nghiệp nông nghiệp, dần dần phát triển công nghiệp tiến
tới con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa.
1.1.1.3.Tiềm năng đầu tư phát triển công nghiệp
Tài nguyên khoáng sản khá phong phú, bao gồm 86 điểm mỏ quặng, khoáng
sản thuộc 19 loại khác nhau. Nhóm khoáng sản kim loại, bao gồm: sắt, mangan,
nhôm, đồng, chì, kẽm, vàng… đều là kim loại quý. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên của
Lạng Sơn lại nghèo các kim loại hiếm, mới chỉ có thiếc. môlíp và thuỷ ngân.
Khoáng sản phi kim loại có than nâu ở mỏ Na Dương với diện tích 150 km; than
bùn ở Nà Lò ( Lộc Bình ) và một điểm cách thị trấn Bình Gia 1km về phía Đông
Nam. Nguồn khoáng sản phục vụ cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng, bao gồm:
các loại đá cacbonat, đá sét, cát cuội, sỏi, cát kết dạng quaczic, sét vôi, đá mafic…
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tài nguyên Lạng Sơn.
45
39
cn- xd
nn
dv
21,8
38,8
39,4
cn -xd
nn
dv
Kinh tế phát triển đã góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Thu nhập
bình quân đầu người tăng từ 3,44 triệu đồng năm 2001 lên 12,62 triệu đồng năm
2009, tăng gấp 3,66 lần; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện và
từng bước nâng cao, nhất là nhân dân ở các vùng đặc biệt khó khăn.
1.1.2.2.Dân số – Lao động:
Lạng Sơn có 758.991 người (năm 2009), bao gồm 7 dân tộc, trong đó dân tộc
Kinh chiếm 15%, đồng bào các dân tộc thiểu số Nùng, Tày, Dao, Hoa, Sán Chay,
Mông chiếm gần 85%. Tạo nên một nền văn hóa vô cùng đa dạng.
Cơ cấu dân số tỉnh Lạng Sơn trẻ. Nguồn lao động khá dồi dào, với số người
dưới 50 tuổi chiếm 87,4%. Nhưng lực lượng lao động của Lạng Sơn chủ yếu là lao
động nông nghiệp, chiếm gần 80% trong tổng số lao động, mặt khác số lao động
qua đào tạo lại chiếm tỉ trọng rất nhỏ, khoảng 10,82% trong tổng số lao động, số lao
động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao rất ít… đó là cản trở lớn trong việc tiếp
nhận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.1.2.3. Văn hoá – xã hội:
Trong tiến trình lịch sử, Lạng Sơn luôn là vùng đất xung yếu, bảo vệ độc lập,
chủ quyền lãnh thổ quốc gia, cầu nối ngoại giao giữ vững sự hoà hiếu, bình an cho
dân tộc. Không những thế, Lạng Sơn còn là vùng đất sinh ra nhiều người con ưu tú
có công với cách mạng, nhiều tấm gương hy sinh anh dũng bảo vệ quê hương đất
Trong các cửa khẩu Hữu Nghị Quan là cửa khẩu quốc tế và đều tập trung hai tuyến
đường bộ dường sắt mấu chốt nối Việt Nam vơí Trung Quốc. Sau chiến tranh biên
giới, hai nước đã ký kết và đầu tư mở rộng đường, làm mới nhà ga, xuất nhập
cảnh… Đặc biệt hệ thống giao thông phát triển đã giảm thời gian đi lại của nhân
dân trong tỉnh khoảng 30% - 40%. Riêng thời gian đi trên tuyến đường Lạng Sơn –
Hà Nội đã giảm 50%, từ 5 giờ xuống còn 2 giờ 30 phút
Ngành Giao thông – Vận tải tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tập trung phát triển đồng
bộ và bền vững mạng lưới giao thông của tỉnh, đổi mới phương thức quản lý đầu tư
xây dựng, tăng nhanh khả năng đầu tư của các nguồn lực vào phát triển giao thông. .
Đồng thời, đây cũng là cơ hội lớn để Lạng Sơn hình thành mội trường hấp dẫn đầu
tư trong và ngoài nước.
b. Hệ thống điện
Lạng Sơn là tỉnh miền núi có nhiều sông, thác và suối nhưng tiềm năng điện
tại chỗ chưa được khai thác. Nguồn cung cấp điện hiện nay của Lạng Sơn hoàn toàn
dựa vào nguồn và hệ thống điện quốc gia, do các nhà máy thủy điện Hòa Bình,
Thác Bà và nhiệt điện Phả Lại sản xuất, tại Lạng Sơn chỉ có nhà máy Nhiệt Điện Na
Dương với công suất 100MW. Hệ thống cung cấp điện hiện có mạng lưới đường
dây tải điện 110KV, 35 KV, 6 KV và 0,4KV. Có các trạm biến thế với nhiều loại
dung lượng khác nhau.
Điện lực Lạng Sơn đã xây dựng và phát triển mạng lưới điện rộng khắp trên
phạm vi toàn tỉnh, đặc biệt các xã vùng sâu, vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn. Nếu
như năm 1997 nguồn điện của tỉnh chỉ có hai trạm 110kV với tổng dung lượng là 45
nghìn KVA, thì đến năm 2008 tổng dung lượng đã tăng lên 75 nghìn KVA, được
truyền tải trên 128 km đường dây 110kV, 1.167 km đường dây 35kV và 1.400
đường dây hạ thế. Nhờ đó sản lượng điện thương phẩm liên tục tăng và được đầu tư
từ các nguồn vốn khác nhau qua các năm.
c. Hệ thống cấp thoát nước:
Nước là một yếu tố không thể thiếu được đối với nhu cầu sử dụng của con
người. Ở Lạng Sơn các sông suối, nguồn nước mặt, nguồn nước ngầm khá phong
phú. Trong những năm qua ở các thị xã, thị trấn của Lạng Sơn chủ yếu là dòng nước
tư toàn xã hội. Vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm: vốn đầu tư trong nước và vốn đầu
tư nước ngoài. Ở phần này chúng ta sẽ đi sâu vào đánh giá tình hình đầu tư chung
của toàn tỉnh.
Tại Lạng Sơn vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2004-2009 được thể hiện tại
bảng 1.1 như sau:
Bảng 1.1: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh Lạng Sơn 2004 – 2009
Năm/thông số Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng vốn đầu tư Tỷ đồng 2256 1.800 2.218 2.860 3.830 4826
Tốc độ tăng vốn đầu tư liên
hoàn
% -20,21 23,22 28,94 33,92 26
Tốc độ tăng định gốc % -20,21 -1,68 26,77 69,77 113,92
Nguồn: Niên gián thông kê Tỉnh Lạng Sơn 2005-2009
Hình 1.2 Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh Lạng Sơn
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
2004 2005 2006 2007 2008 2009
TVDT
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Lạng Sơn có biến động qua các năm, nhưng theo
nhưng nhìn chung tổng vốn đầu tư năm sau cao hơn năm trước. Tổng vốn đầu tư
toàn tỉnh từ năm 2004 đến 2009 là 17790 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư qua các năm
không đều năm 2004 là 2256 tỷ nhưng sang năm 2005 và 2006 giảm xuống lần lượt
là 1800 tỷ và 2218 tỷ. Nguyên nhân mà vốn đầu tư sụt giảm nhiều như vậy là tỉnh
tập trung ưu tiên giải quyết nợ xây dựng tồn đọng từ những năm trước do đầu tư
dàn trải. Năm 2005 cũng là năm Chính phủ lựa chọn là năm điểm để đấu tranh khắc
45
365 285
373
Vốn doanh nghiệp Nhà
nước
40 38
24
40 390
428
Vốn doanh nghiệp và của
dân
650 769
980
1326 1669
2259
Vốn nước ngoài 138 185
205
228 367
474
Tổng cộng 2256 1.800 2.218 2.860 3.830 4826
Bảng 1.3 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển phân theo nguồn tại Tỉnh Lạng Sơn
giai đoạn 2004 - 2009
(Đơn vị:%)
Năm 2004 2005 2006 2007 2008
2009
Vốn ngân sách Nhà
nước
27 41 43 32 29
26,77
Vốn tín dụng đầu tư
2259 tỷ ( 46,8%).
Vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng qua các năm 6% năm 2004 tăng lên 10%
năm 2008 với 367 tỷ và 9,83% năm 2009 với 474 tỷ đồng. Điều này cho thấy nguồn
vốn từ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng lên đáng kể sau cuộc suy thoái 1999 –
2004. Nhưng đứng trước cuộc suy thoái toàn cầu thì tình hình vốn đầu tư vào Việt
Nam sẽ giảm đi đáng kể và Lạng Sơn cũng không phải ngoại lệ.
Từ đây chúng ta sẽ phân tích sâu hơn về các nguồn vốn.
1.2.2.1. Vốn ngân sách Nhà nước
Bảng 1.4 Vốn ngân sách Nhà nước phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn giai đoạn 2004-2009
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2004 2005 2006 2007 2008
2009
Vốn ngân sách Nhà
nước
Tỷ
đồng
608 738
964
902 1119
1292
Tỷ trọng trong tổng
vốn đầu tư
%
27 41 43 32 29
26,77
Tốc độ gia tăng liên
hoàn
dần cho đến năm 2008 tỷ trọng còn 29% và còn 26,77% năm 2009.
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước được tỉnh tập trung đầu tư kết cấu
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, các chương trình dự án trọng điểm, các khu vực
kinh tế, các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế động lực để hỗ trợ các khu
vực kinh tế khác cùng phát triển. Tổng vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước từ năm
2004 – 2009 do tỉnh quản lí là 5623 tỷ đồng. Trong đó:
- Đầu tư cho lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm khoảng 5,2%
- Đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp xây dựng chiếm khoảng 53,4%
- Đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 8,6%
- Đầu tư cho lĩnh vực xã hội chiếm khoảng 32,8%
Trong giai đoạn này số dự án xây dựng thuộc vốn Nhà nước khoảng trên
850 dự án. Và có khoảng 780 công trình được hoàn và đưa vào sử dụng, với giá trị
tăng thêm là 2800 tỷ đồng, kết cấu hạ tầng kỹ thuật từng bước được củng cố và
hoàn thiện, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
1.2.2.2. Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước
Tín dụng Nhà nước là một bộ phận quan trọng trong đầu tư Nhà nước,
nguồn vốn cơ bản tạo ra sự phát triển dài hạn của nền kinh tế. Mục đích của tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các
thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế
lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế bền vững. Bên cạnh đó, nguồn vốn này còn có tác dụng tích cực trong việc giảm
đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp từ Nhà nước.
Bảng 1.5: Vốn tín dụng đầu tư phát triển kinh tế Nhà nước trên địa bàn Lạng
Sơn giai đoạn 2004-2009
Năm/Chỉ tiêu
Đơn
vị
2004 2005 2006 2007 2008
2009
Bảng 1.6: Vốn đầu tư phát triển kinh tế của doanh nghiệp Nhà nước
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2004-2009
Năm/Chỉ tiêu
Đơn
vị
2004 2005 2006 2007 2008
2009
Vốn đầu tư của
DNNN
Tỷ
đồng
40 38
24
40 390
428
Tỷ trọng trong
tổng vốn đầu tư
%
2 2 1 1 10
8,87
Tốc độ gia tăng
liên hoàn
%
-5 -36,84 66,67 875
9,74
Nguồn: Niên giám thống kê Lạng Sơn
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn
điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà
nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp Nhà nước được
xác định là thành phần kinh tế quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
ít doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả dẫn tới quy mô vốn bị giảm sút, bên cạnh đó
còn có một sô doanh nghiệp có tình hình tài chính không lành mạnh thậm chí mất
hết vốn Nhà nước và không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khiến
việc tiến hành cổ phần hoá và sắp xếp doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Sang đến năm 2008 thì vốn đầu tư doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tăng
đột biến so với năm trước là 875% và số vốn là 390 tỷ đồng chiếm 10% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội được duy trì đều trong năm 2009 là 428 tỷ chiếm 8,87% tổng vốn
đầu tư. Có thể nói các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã bước đầu khắc phục khó
khăn, thích ứng với những điều kiện mới, rút kinh nghiệm hoạt động của những
năm trước để điều hành có hiệu quả hoạt động của mình, bên cạnh đó không thể
không kể đến những hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ hết sức tích cực của tỉnh uỷ, hôi
đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân tỉnh.
1.2.2.4. Vốn đầu tư của khu vực dân cư và các thành phần kinh tế khác
Bảng 1.8: Vốn đầu tư phát triển kinh tế của khu vực dân cư và các
thành phần kinh tế khác trên địa bàn Lạng Sơn giai đoạn 2004-2009
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2004 2005 2006 2007 2008
2009
Vốn đầu tư của KVDC
và các TPKT khác
Tỷ
đồng 650 769
980
1326 1669
2259
Tỷ trọng trong tổng vốn
đầu tư
Tỷ
đồng
138 185
205
228 367
474
Tỷ trọng trong
tổng vốn đầu tư
%
6 10 10 8 10
9,83
Tốc độ gia tăng
liên hoàn
%
34,96 10,81 11,22 60.96
29,15
Nguồn: phòng Tổng hợp - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lạng Sơn
Tính đến hết tháng 6 năm 2008, toàn tỉnh có 832 doanh nghiệp, trong đó số
doanh nghiệp nước ngoài là 25 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 1.557 tỷ đồng,
tương đương với khoảng 92 triệu USD.
Vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có xu hướng tăng lên về
cả số vốn và tốc độ gia tăng trừ 2 năm 2006 và 2007. Năm 2004 huy động được 138
tỷ thì năm 2008 con số này đã là 367 tỷ và năm 2009 là 474 tỷ đồng. Từ năm 2004
sang năm 2005 số vốn huy động tăng đáng kể năm 2005 là 205 tỷ, nhưng sang năm
2006 chững lại tốc độ gia tăng chỉ còn 10,81% là 205 tỷ. Đến năm 2007 có gia tăng
thêm 11,22% và tăng mạnh vào năm 2008 là 60,96% số vốn huy động là 367 tỷ và
duy trì sự tăng trưởng năm 2009 29,15% số vốn huy động là 474 tỷ.
Năm 2007 đánh dấu sự khởi sắc trong thu hút đầu tư của tỉnh Lạng Sơn.
Các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại được đẩy mạnh; tỉnh tăng
cường thực hiện trao đổi, hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo hai tỉnh Lạng Sơn và
hiện hành
( tỷ đồng )
Cơ cấu vốn
(%)
Toàn tỉnh 17790 100
1
Thành phố Lạng
Sơn
9072,9 51
2 Cao Lộc 1423,2 8
3 Lộc Bình 1423,2 8
4 Hữu Lũng 1067,4 6
5 Chi Lăng 1067,4 6
6 Văn Quan 604,86 3.4
7 Văn Lãng 569,28 3.2
8 Đình Lập 658,23 3.7
9 Tràng Định 622,65 3.5
10 Bình Gia 640,44 3.6
11 Bắc Sơn 640,44 3.6
Nguồn: Báo cáo của UBND các huyện, thành phố về phát triển
kinh tế - xã hội các năm 2004-2009
Bảng trên đã phản ánh phần nào về cơ cấu vốn đầu tư theo lãnh thổ trên
địa bàn tỉnh. Điều dễ thấy là thành phố là nơi ưu tiên nhận được nhiều vốn đầu tư
nhất, tiếp theo là các huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Hữu Lũng và Chi Lăng, các huyện
còn lại nhận được tỷ lệ vốn nhỏ hơn rất nhiều và tương đối bằng nhau.
Vốn tập trung nhiều nhất vì lý do sau:
- Cơ sở hạ tầng của thành phố tốt hơn rất nhiều so với các huyện trong tỉnh. Bên cạnh đó,
thành phố lại tập trung phần lớn các cơ quan, tổ chức đầu ngành của tỉnh và là khu vực
tập trung dân cư sinh sống nhất trong tỉnh.
- Mặt khác, ở đây lại có đường quốc lộ 1A đi qua là trục đường chính nối liền giữa thủ
tỉnh Lạng Sơn được chia thành ba vùng chính như Vùng kinh tế động lực Thành phố -
Đồng Đăng, Các khu vực công nghiệp tập trung và Vùng đặc biệt khó khăn:
- Vùng kinh tế động lực Thành phố Lạng Sơn - Đồng Đăng: đây là vùng
kinh tế động lực của tỉnh, trong đó trung tâm là thành phố Lạng Sơn và
thị trấn Đồng Đăng. Vùng này có vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Hàng năm đóng góp
30-35% GDP, 70% thu ngân sách Nhà nước. Khu vực này nhân được
nhiều vốn đầu tư vào các lĩnh vực như: chế biến thực phẩm, hàng cơ khí,
tiêu dùng, lắp ráp điện tử, vật liệu xây dựng, dịch vụ và du lịch… Hiện
nay trong vùng này đã và đang hinh thành các trung tâm thương mại, các
văn phong đại diện, giao dịch quốc tế, các cơ sở dịch vụ có chất lượng
cao…
- Các khu vực công nghiệp tập trung gồm:
+ Khu công nghiệp tập trung Thành phố Lạng Sơn – Cao Lộc - Đồng
Đăng với các dự án đầu tư tập trung vào những lĩnh vực như: chế biến thực phẩm,
lâm sản, vật liệu xây dựng, thủ công mỹ nghệ, cơ khí và sản xuất hàng tiêu dùng…
+ Khu công nghiệp tập trung Hữu Lũng – Chi Lăng và một số xã dọc
theo tuyến quốc lộ 1A với những dự án tập trung đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi,
kênh mương, các trạm bơm phục vụ sản xuất nông nghiệp, một số dự án tập trung
khai thác và chế biến khoáng sản như đá, xi măng.
+ Khu công nghiệp tập trung Lộc Bình – Na Dương – Đình Lập với lượng
vốn đầu tư tập trung vào các lĩnh vực như: khai thác chế biến than, các nhà máy
nhiệt điện và thuỷ điện, khai thác gỗ, khai thác và chế biến quặng ba rit, sản xuất
gốm, sứ, gạch ngói và một số dự án cải tạo nâng cao hệ thống máy thu hoạch và chê
biến cây chè.
+ Khu công nghiệp tập trung Bình Gia - Bắc Sơn với các dự án đầu tư tập
trung vào xây dựng các nhà máy thuỷ điện nhỏ và vừa, sản xuất bột giấy, ngoài ra là
lượng vốn cho việc cải tạo và xây mới hệ thống tưới tiêu phục vụ cho các vùng
chuyên canh tập trung trồng các loại cây như: hồi, cây ăn quả ( quýt, mơ, mận ), đỗ
tương, thuốc lá…
Nhìn vào hai bảng trên chúng ta có thể thấy nhưng năm 2004 và 2005 vốn
đầu tư tập trung vào ngành Dịch vụ còn khu vực Nông lâm ngư nghiệp là ít nhất.
Sang năm 2006 thì nguồn vốn đầu tư bắt đầu dịch chuyển sang đầu tư cho ngành
công nghiệp và xây dựng tăng lên. Đỉnh điểm là cuối năm 2008,2009 thì đạt 84,15
và 80,44 cơ cấu nguồn vốn đầu tư xã hội tương đương với 3223 tỷ đồng và 3882 tỷ
đồng, còn ngành nông lâm ngư nghiệp thì vẫn ít được chú trọng.
Bảng 1.13: Tốc độ tăng vốn đầu tư liên hoàn từng ngành, lĩnh vực
của Lạng Sơn giai đoạn 2004-2009
(Đơn vị: %)
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nông - lâm ngư nghiệp 11,63 -80,2 263,19 -26,08 92,15
Công nghiệp và Xây dựng -27 108 50,28 106,2 20,44
Dịch vụ - du lịch -18,75 -3,74 6 -54,72 52,15
Tổng vốn đầu tư -20,21 23,22 26,77 33.92 26
Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê Lạng Sơn
Điểm nổi bật nhất qua bảng trên đó là sự biến động của vốn đầu tư vào
mỗi ngành qua các năm, và sự biến động đó có liên quan khá chặt chẽ với tốc độ
tăng trưởng liên hoàn của vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Lạng Sơn. Năm 2005 là năm
mà lượng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh sụt giảm rất nhiều so với những năm khác
trong kỳ nghiên cứu, kéo theo sự suy giảm của vốn đầu tư vào hai khu vực Công
nghiệp – xây dựng và Dịch vụ - du lịch. Năm 2007 lượng vốn đầu tư toàn xã hội
tỉnh bắt đầu tăng trở lại đồng thời kéo theo sự gia tăng vốn vào hai ngành trên,
nhưng sang năm 2008 thì ngành dịch vụ bị trững lại và ngành công nghiệp được
tăng vốn đầu tư lên rất nhiều sang năm 2009 vốn đầu tư của các ngành vẫn được
duy trì như năm 2008. Để tìm hiểu thêm chúng ta sẽ đi vào từng ngành để hiểu rõ
hơn về việc thay đổi nguồn vốn.
1.2.4.1. Ngành Nông – lâm – ngư nghiệp
Đối với kinh tế Lạng Sơn, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành
chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Với trên 81% dân số sống ở nông thôn, 76% dân
số và hơn 80% lao động làm việc trong ngành nông nghiệp, nông nghiệp quyết định