Chuyên dề thực tập cuối khóa GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP CUỐI KHÓA
Đề tài
THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
TẠP PHẨM
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THU TRANG
MSSV : CQ482993
Lớp : Kinh tế quốc tế B
Khóa : 48
Hệ : Chính quy
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Đỗ Thị Hương
Chuyên dề thực tập cuối khóa GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
HÀ NỘI, 05/2010
LỜI CAM ĐOAN
Tên em là Nguyễn Thu Trang, sinh viên lớp Kinh tế quốc tế B, khóa
48. Em xin cam đoan chuyên đề thực tập cuối khóa “ Thực trạng và biện pháp
phát triển hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm
“ được thực hiện với sự tìm tòi nghiên cứu của bản thân em, dưới sự hướng
dẫn của Giảng viên – Thạc sĩ Đỗ Thị Hương và sự giúp đỡ của các anh chị
phòng xuất nhập khẩu 8 – Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm. Em xin
cam đoan các số liệu trong chuyên đề là trung thực, không sao chép các bài
luận văn tốt nghiệp của khóa trước. Nếu vi phạm lời cam đoan trên, em xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm với nhà trường và khoa Thương mại và Kinh tế
quốc tế.
Sinh viên
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 1 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài:
Qua hơn 20 năm mở cửa nền kinh tế và thực hiện đổi mới, hoạt động xuất
nhập khẩu đã khẳng định được vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh
tế Việt Nam. Đặc biệt trong thời kỳ hiện nay, khi đất nước ta ngày càng phát triển
hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế, khi Đảng và Nhà nước
ta đã chủ trương “Lấy xuất khẩu là động lực để thực hiện công nghiệp hóa- hiện đại
hóa đất nước” hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và cụ thể là xuất khẩu đã ngày
càng củng cố thêm vị trí quan trọng của nó trong nền kinh tế.
Xuất khẩu không chỉ đơn thuần là hoạt động mang hàng hóa trong nước bán ra
nước ngoài mà bản chất của nó là chúng ta xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế so
sánh của nước mình, thu về nguồn vốn ngoại tệ để cung cấp cho chính hoạt động
nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Giá trị mang lại từ hoạt động xuất
khẩu chiếm tỷ trọng không nhỏ trong GDP, hoạt động xuất khẩu kích thích sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển các ngành có lợi thế so sánh, tận dụng được
tối đa các nguồn lực sẵn có trong nước, cung cấp lượng công ăn việc làm đáng kể cho
người lao động.
Đứng vị trí hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu của Việt Nam, đến nay
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm với tên giao dịch viết tắt Tocontap Hà Nội
đã có bề dày 54 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này. Công ty đã trở thành
1 trong 3 Công ty xuất nhập khẩu có quy mô lớn nhất khu vực miền Bắc. Hoạt động
xuất nhập khẩu của Công ty bao trùm rất nhiều chủng loại mặt hàng khác nhau; số
lượng các bạn hàng, đối tác lớn; vận dụng nhiều phương thức kinh doanh xuất nhập
khẩu khác nhau; các nghiệp vụ biến hóa đa dạng và phong phú.
Do vậy, với mục đích mong muốn phản ánh được một phần nào thực trạng
hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, em đã chọn Công ty Cổ phần
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Tạp phẩm ( TOCONTAP HÀ NỘI) tiền thân
là doanh nghiệp của Nhà nước trực thuộc bộ thương mại được thành lập 5/3/1956 có
tên là Tổng Công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm. Năm 2006 Công ty chuyển đổi sang
cơ chế cổ phần. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước, Công ty đã không
ngừng phát triển ổn định về mọi mặt. Có được kết quả đó là nhờ sự đổi mới linh hoạt
của Công ty để luôn đảm bảo bắt kịp với đà đổi mới của nền kinh tế đất nước, Công
ty với khẩu hiệu “ Uy tín – Chất lượng – Hiệu quả” luôn khẳng định được vị thế của
mình trên thương trường và đảm bảo văn minh thương mại. Tổng thể về Công ty Cổ
Phần xuất nhập khẩu Tạp phẩm được khái quát trong một số nét sau đây:
1.1.1. Quá trình hình thành và phân tách của Công ty.
Được cổ phần hóa từ một doanh nghiệp nhà nước hoạt động đã lâu năm trực
thuộc Bộ Thương Mại, tiền thân của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm là
Tổng Công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm thành lập ngày 5/3/1956.
Là một trong những đơn vị đầu tiên được giao nhiệm vụ xuất nhập khẩu, lịch
sử của Tổng Công ty Xuất nhập khẩu tạp phẩm đã trải qua 9 lần thay đổi cơ cấu tổ
chức khác nhau. Cụ thể từ khi thành lập đến năm 1990, Công ty đã tách thành lập các
đơn vị sau: Artexport, Barotex, tách cơ sở sản xuất của Công ty giao cho Bộ công
nghiệp nhẹ quản lý, Textimex, Mecanimex, Leaprodoxim, tách Công ty xuất nhập
khẩu tạp phẩm phía Nam thành Công ty trực thuộc bộ thương mại.
Qua nhiều lần chia tách nhỏ nhưng Công ty đã đứng vững và không ngừng
phát triển. Từ một Tổng Công ty xuất nhập khẩu Tạp phẩm là nòng cốt đã hình thành
nhiều tổ chức, đã nuôi dưỡng được đội ngũ cán bộ hùng hậu tỏa đi khắp muôn
phương làm nên sự nghiệp, nhiều vị đang là Giám đốc các Công ty, tổng Công ty ở
trong và ngoài Bộ, tham tán các nước lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện.
Thực hiện nghị quyết của Đại Hội Đảng VI năm 1986, nước ta bắt đầu chuyển
đổi nền kinh tế theo cơ chế quản lý mới. Năm 1993 để đáp ứng điều kiện kinh doanh
trong nền kinh tế thị trường, theo đề nghị của vụ trưởng vụ tổ chức và giám đốc Công
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 4 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
ty xuất nhập khẩu tạp phẩm, Bộ Thương Mại ra quyết định số 333TM/TCCB ngày 31
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 5 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
1.1.2. Bộ máy tổ chức, quản lý của Công ty hiện nay và chức năng của từng đơn
vị
1.1.2.1.Cơ cấu tổ chức của Công ty
Sơ đồ 1.1. Mô hình tổ chức của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm
Nguồn:Website của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm
Trên đây là mô hình tổ chức của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm,
hoạt động dưới hình thức Công ty Cổ phần, vì thế cơ quan điều hành cao nhất của
Công ty là Đại hội đồng cổ đông, đây là cuôc họp thường kỳ hoặc bất thường của các
cổ đông của Công ty Cổ phần. Tại Đại hội đồng cổ đông, các cổ đông tiến hành bầu
ra Hội đồng quản trị và Chủ tịch hội đồng quản trị, các Phó chủ tịch cùng với các
thành viên trong hội đồng quản trị.
Bộ máy quản lý của Công ty gồm có: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng
giám đốc, Phó Tổng giám đốc, phòng Kế toán, phòng Tổ chức Hành chính, phòng
Tổng hợp. Mỗi đơn vị lại chuyên trách những chức năng và nhiệm vụ riêng ré khác
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 6 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
nhau nhưng vẫn phải kết hợp chặt chẽ vớii nhau để đảm bảo quản lý và điều hành
nhịp nhàng và hiệu quả mọi hoạt động của Công ty.
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm có tất cả 7 phòng thực hiện nhiệm
vụ xuất nhập khẩu, mỗi phòng được thực hiện chuyên doanh xuất nhập khẩu một số
mặt hàng, một số lĩnh vực riêng. Ngoài ra Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm
còn xây dựng 2 chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng và phòng kho vận.
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị
Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị có quyền nhân danh Công ty để quyết định các
vấn đề liên quan tới hoạt động, tổ chức làm ảnh hưởng tới quyền lợi, mục đích của
Công ty.
Chủ tịch Hội đồng quản trị của Tocontap Hanoi hiện nay là ông: Cao Văn Thủy,
đồng thời cũng là Tổng giám đốc của Công ty. Chủ tịch hội đồng quản trị là người
đại diện theo pháp luật của Công ty có các quyền và nhiệm vụ sau:
mặc, vải, các sản phẩm dệt từ len và da, quần áo bảo hộ lao động, bàn ghế bọ đệm,
găng tay làm việc từ các chất liệu bông hoặc da, đồ thêu ren, máy xây dựng, nhựa và
sản phẩm từ nhựa, trái cây tươi, bánh kẹo…
Phòng xuất nhập khẩu 5: kinh doanh tạp phẩm, vật dụng gia đình, cá hồi tươi và
xông khói, thực phẩm đóng hộp, sản phẩm nhựa, rượu vang, rượu mạnh, một số loại
giấy, thạch cao, sợi thủy tinh…Đây là phòng có đội ngũ nhân lực trẻ nhất của Công
ty, những năm gần đây phòng đã phát triển thêm một số mặt hàng mới như: thiết bị y
tế, thí nghiệm, khoa học. Tuy vậy hoạt động kinh doanh cả phòng chưa thực sự đều
tay, phân công công việc trong phòng chưa hiệu quả.
Phòng xuất nhập khẩu 6: Đã có thời kỳ nhiều năm không hoàn thành kế hoạch
Công ty giao phó mặc dù thực tế không phải là một phòng yếu kém về năng lực. Một
vài năm gần đây phòng đã cố gắng khắc phục khuyết điểm của mình, năng động hơn
trong hoạt động kinh doanh, dần xóa bỏ tư tưởng ỷ lại. Mặt hàng kinh daonh chính
của phòng bao gồm: dụng cụ sử dụng điện, máy móc, dụng cụ cầm tay, dây cáp và
dây điện, đèn điện ( bóng và ống), thiết bị văn phòng, đồ thủ công mỹ nghệ, phim,
máy ảnh, máy điều hòa không khí, máy giặt, quần áo dệt kim, các loại vải…
Phòng xuất nhập khẩu 7: chuyên kinh doanh các mặt hàng nông sản, thủ công mỹ
nghệ mây tre, các sản phẩm từ gỗ, dụng cụ y tế, máy công nghiệp, giày dép các
loại…
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 8 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
Phòng xuất nhập khẩu 8: Là một trong những phòng dẫn đầu Công ty về thực hiện
kim ngạch và nộp lãi, mặt hàng kinh doanh đa dạng, phong phú, nhiều lực lượng trẻ.
Sản phẩm gốm sứ, sơn mài, gạo, bột mì, dầu cọ, thảm đay và len, dụng cụ phòng thí
nghiệm, thiết bị giáo dục, đồ gốm sứ vệ sinh, thép cuộn, thép tấm, thép phế liệu, máy
lọc nước, lò vi song, máy công nghiệp, các loại gia vị khác nhau…
Chúng ta có thể nhận thấy một điểm đặc biệt là trong Công ty có phòng xuất nhập
khẩu 1,2,3,5,6,7,8 nhưng không có phòng xuất nhập khẩu 4. Thực tế phòng xuất nhập
khẩu 4 đã từng tồn tại và hoạt động trong Công ty, nhưng do hoạt động không hiệu
quả nên đã bị giải thể.
khẩu của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội. Những đặc điểm cơ bản
này chi phối hầu như toàn bộ hoạt động của Công ty, do đó khi đã tìm hiểu về Công
ty nhất thiết chúng ta phải chú ý đến những vấn đề sau:
1.2.1. Lĩnh vực và phương thức kinh doanh của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu
tạp phẩm.
1.2.1.1. Lĩnh vực hoạt động của Công ty
Theo đuổi một hướng đi mới, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm không
thực hiện việc chuyên môn hóa xuất nhập khẩu một số mặt hàng nhất định mà Công
ty mở rộng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đối với nhiều chủng loại mặt hàng
khác nhau. Các lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty bao gồm:
• Kinh doanh hàng nông sản, lâm sản, hải sản, thực phẩm, công nghệ phẩm, sản
phẩm dệt, may, da giầy (trừ các loại lâm sản Nhà nước cấm).
• Kinh doanh vật tư, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu xây dựng, hóa chất
(Trừ hóa chất Nhà nước cấm), kim khí điện máy, phương tiện vận tải.
• Kinh doanh khách sạn và dịch vụ khách sạn, đại lý bán buôn, bán lẻ hàng hóa
(không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát karaoke, vũ trường).
• Tổ chức gia công, chế biến, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết với các tổ chức
trong và ngoài nước.
• Kinh doanh đồ uống, rượu bia, nước giải khát, (không bao gồm kinh doanh
quán bar).
• Kinh doanh máy móc, vật tư, trang thiết bị y tế, máy móc, thiết bị ngành in.
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 10 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
• Mua bán sắt thép, phế liệu, phá dở tàu biển củ làm phế liệu trong nước.
• Kinh doanh phân bón máy móc, vật tư phục vụ nông nghiệp (không bao gồm
thuốc bảo vệ thực vật).
• Kinh doanh các dụng cụ, thiết bị và máy móc trong ngành dịch vụ, ...
• Kinh doanh các thiết bị phòng cháy, chửa cháy, cứu hộ, cứu nạn.
• Kinh doanh gổ ép định hình.
• Sản xuất và mua bán hàng thêu, hàng may mặc.
Công ty. Tuy nhiên tình hình này cũng đang dần được cải thiện, hoạt động xuất khẩu dần
được mở rộng, hoạt động hiệu quả hơn mang lại doanh thu cao hơn cho Công ty.
Biểu 1.1. Cơ cấu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty CP XNK tạp phẩm
11.38
13.08
21.99
19.22
88.62
86.92
78.01
80.78
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
2006 2007 2008 2009
Năm
Tỷ lệ phần trăm
Nhập khẩu trên tổng kim ngạch XNK
Xuất khẩu trên tổng kim ngạch XNK
Nguồn: Phòng Tổng hợp - Công ty CP xuất nhập khẩu Tạp phẩm
Đối với cả xuất khẩu và nhập khẩu Công ty đều áp dụng nhiều nghiệp vụ kinh
doanh khác nhau để gia tăng doanh thu đồng thời phát huy lợi thế vốn có. Hiện tại Công
8 Mỹ 16 UAE
Nguồn: Phòng Tổng hợp – Công ty Cổ phần XNK tạp phẩm
Trong đó các thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu cao và ổn định nhất là: Anh,
Hungary, Canada, Philippin, Trung Quốc, Nhật.
Mặc dù số lượng thị trường xuất khẩu của Công ty khiêm tốn là vậy nhưng số
lượng các bạn hàng nhập khẩu của Tocontap Hà Nội lại khá đông đảo và nằm tập
trung ở khu vực Đông Á và Nam Á, các nước Châu Âu thuộc EU và một số nước
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 13 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
châu Phi. Các thị trường thuộc Châu Úc, Châu Mỹ thì chỉ tập trung ào một vài nước
bạn hàng nhất định ( Canada, Úc, Newzeland).
Bảng 1.2. Danh sách các thị trường nhập khẩu của Công ty Cổ phần
xuất nhập khẩu tạp phẩm
STT Tên nước STT Tên nước
1 Anh 19 Malaysia
2 Argentina 20 Mỹ
3 Ả Rập 21 Nauy
4 Ấn Độ 22 Nam Phi
5 Áo 23 New Zealand
6 Bangladesh 24 Nga
7 Bỉ 25 Nhật
8 Canada 26 Úc
9 Chilê 27 Ukraina
10 Đài Loan 28 Panama
11 Đan Mạch 29 Peru
12 Đức 30 Pháp
13 Hà Lan 31 Philipin
14 Hàn Quốc 32 Singapore
15 Hong Kong 33 Tây Ban Nha
16 Indonesia 34 Thái Lan
nhưng lại năng động, nhiệt tình, tiếp thu và xử lý các luồng thông tin nhanh nhạy,
được đào tạo bài bản, có nền tảng chắc chắn trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập
khẩu, thành thạo ngoại ngữ. Hiện tại hai đội ngũ nhân lực này còn hoạt động rời rạc,
không ăn khớp với nhau nhưng nếu bộ máy quản lý nguồn nhân lực Công ty biết cách
phối kết hợp và phân công công việc thì sự hợp tác,hỗ trợ, bổ sung thiếu sót lẫn nhau
giữa hai thế hệ này có thể mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất.
Công ty Tocontap Hà Nội đã tạo dựng được uy tín và một thương hiệu riêng
trên thị trường trong suốt nửa thế kỷ hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, là một
trong những đơn vị đi đầu trong nước họat động trong lĩnh vực này mà cho đến nay
vẫn tồn tại và phát triển tốt. Đã từng thuộc sở hữu của Nhà nước, do vậy Công ty
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 15 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
luôn duy trì được mối quan hệ tốt đẹp với các Bộ, các cơ quan có liên quan tới kinh
doanh xuất nhập khẩu. Đây cũng là 2 đặc điểm quan trọng góp phần tạo môi trường
kinh doanh thuận lợi cho Công ty.
Địa bàn hoạt động của Công ty rất rộng rãi, Tocontap Hà Nội làm ăn với các
đối tác cả ở trong và ngoài nước. Đối tác nước ngoài của Công ty là các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất nằm ở khắp các châu lục trên thế giới: Châu Phi ( Peru,
Chilê…), Châu Á ( Nhật Bản, Hàn Quốc…), Châu Âu ( Anh, Pháp, Đan Mạch…),
Châu Mỹ ( Mỹ, Canada…), Châu Đại Dương ( Úc, Newzealand… ). Trong nước,
Công ty hoạt động trên nhiều địa bàn rộng ở cả hai miền Nam - Bắc, Công ty sở hữu
hệ thống bao gồm 7 phòng xuất nhập khẩu làm việc tại trụ sở chính ( 36 Bà Triệu –
Hà Nội) và 2 chi nhánh đặt tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh.
1.2.2.2. Môi trường bên ngoài
Môi trường kinh tế trong nước:
Nước ta hiện nay đã là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế
giới như: ASEAN, APEC, ASEM và gần đây nhất Việt Nam đã trở thành thành viên
số 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Tuy rằng việc tham gia vào những tổ
chức này đồng nghĩa với việc gia tăng áp lực cạnh tranh đối với nền kinh tế, nhưng
những thuận lợi và cơ hội mà nó mang lại cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung
cho sự phát triển của Công ty.
Sự ổn định về chính trị và chính sách: đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước cho phép mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, khuyến khích xuất khẩu và
nhập khẩu các thiết bị máy móc kỹ thuật để phát triển sản xuất trong nước, cho phép
nhập khẩu các mặt hàng mà trong nước chưa sản xuất được. Hệ thống luật pháp và hệ
thống thuế ngày càng được hoàn thiện, điều chỉnh phù hợp với luật đầu tư nước ngoài
sửa đổi, luật thuế giá trị gia tăng…tất cả những điều này có tác dụng khuyến khích
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành kinh tế, khơi dậy mọi tiềm năng,
năng lực thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngoài ra các nhân tố môi trường văn hóa xã hội, môi trường khoa học công nghệ,
môi trường tự nhiên cũng tạo điều kiện phát triển của Công ty.
1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây
Kể từ cuối 2006 trở đi, dưới sự tác động của nhiều yếu tố hoạt động của Công ty
không ngừng được mở rộng, phát triển, hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng tăng lên
nhanh chóng. Cụ thể:
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 17 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương
• Lợi nhuận sau thuế của Công ty không ngừng tăng lên, trung bình mỗi năm lợi
nhuận tăng 54% so với năm trước, cá biệt năm 2008 lợi nhuận tăng 96,5% so
với năm 2007
• Doanh thu tăng nhanh, tốc độ tăng khá ổn định trung bình vào khoảng 25,2%
một năm, nhưng tỷ lệ chi phí trên doanh thu lại giảm từ 77,2% năm 2006
xuống còn 61,65% năm 2009
• Sự phát triển của Công ty đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách nhà
nước thông qua hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp, một cách trực tiếp nó
cải thiện, nâng cao đời sống của người lao động trong Công ty một cách rõ
rệt: năm 2007 quỹ lương của Công ty bằng 2,94 tỷ VND, đến 2009 con số này
là 3,56 tỷ VND.
Sinh viên: Nguyễn Thu Trang Lớp: Kinh tế quốc tế 48B
Chuyên dề thực tập cuối khóa - 18 - GVHD: Th.S Đỗ Thị Hương