Bình đẳng giới trong lao động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía bắc việt nam hiện nay - Pdf 42

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN LỆ THU

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG
GIA ĐÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI
PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN LỆ THU

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG
GIA ĐÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI
PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số: 62 22 03 08

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS NGUYỄN THỊ NGÂN
2. TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THỦY

HÀ NỘI - 2017

giới trong lao động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
2.3. Vai trò của việc thực hiện bình đẳng giới trong lao động gia đình
dân tộc thiểu số đối với việc phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía
Bắc Việt Nam hiện nay
2.4. Một số yếu tố tác động đến việc thực hiện bình đẳng giới trong lao
động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam
Chương 3: BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG GIA ĐÌNH DÂN TỘC
THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong lao động gia đình dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình đẳng giới trong lao
động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG GIA ĐÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN
NÚI PHÍA BẮC HIỆN NAY

4.1. Những quan điểm cơ bản thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động gia
đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc hiện nay
4.2. Một số giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động gia đình
dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

8
8


: Dân tộc thiểu số

MNPB

: Miền núi phía Bắc


DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 3.1: Vai trò của vợ và chồng trong hoạt động sản xuất

63

Bảng 3.2: Mức độ tham gia của vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất

82

Bảng 3.3: Người đại diện cho gia đình tham gia hoạt động cộng đồng

99


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Bình đẳng nam nữ một cách toàn diện, đầy đủ là lý tưởng mà nhân
loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ. Ngày nay, bình đẳng giới (BĐG) là
vấn đề có tính quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại, là một trong

đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng, còn các công việc nội trợ, chăm
sóc các thành viên trong gia đình vẫn được coi là “thiên chức” của phụ nữ,
được coi là việc vặt, không tên, không có giá trị.
Vậy là ngoài giờ đi làm, tham gia hoạt động sản xuất như nam giới, phụ
nữ còn phải gánh trách nhiệm chính trong hoạt động tái sản xuất của gia đình,
điều này đã hạn chế cơ hội được tiếp cận và khả năng tìm được chỗ đứng
trong thị trường lao động, ảnh hưởng tới việc học tập, nâng cao trình độ
chuyên môn, sức khỏe, tâm lý và thời gian nghỉ ngơi, giải trí để đảm bảo tái
sản xuất, tham gia hoạt động xã hội của phụ nữ. Ngoài ra, một bộ phận phụ
nữ còn tự ti, an phận, cam chịu, chấp nhận những định kiến giới tồn tại trong
xã hội. Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số (DTTS), bất BĐG
trong lao động gia đình vẫn đang diễn ra mạnh mẽ, vị thế của người phụ nữ
trong gia đình còn thấp kém.
Miền núi phía Bắc (MNPB) là địa bàn chiến lược của đất nước, nơi
tụ cư của nhiều DTTS, với sự đa dạng về bản sắc văn hóa tộc người. Do
trình độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa còn thấp kém, bất BĐG trong
gia đình DTTS MNPB còn khá phổ biến và nặng nề hơn so với nhiều vùng
khác trong cả nước. Tính chất bảo thủ của phân công lao động truyền thống
theo giới, vẫn đang thể hiện rõ nét trong gia đình DTTS. Vì điều kiện sản
xuất và thu nhập thấp, nên phụ nữ tham gia hầu hết các công việc sản xuất.
Hơn nữa việc sử dụng dịch vụ xã hội, phương tiện giúp giảm nhẹ gánh
nặng của công việc nội trợ của gia đình DTTS còn rất ít, chưa đủ sức giải
phóng người phụ nữ ra khỏi những lo toan vất vả của đời sống gia đình


3
hiện nay. Do vậy, phụ nữ DTTS MNPB thường phải lao động với cường độ
lớn, thời gian làm việc kéo dài, điều kiện nghỉ ngơi dường như không có, ít
có cơ hội tiếp cận các nguồn lực để phát triển, nâng cao năng lực của bản
thân, khả năng ra quyết định và hưởng thụ lợi ích của họ nhìn chung thấp

số quan điểm, giải pháp chủ yếu để thúc đẩy BĐG trong lao động gia đình DTTS
MNPB Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu BĐG trong lao
động gia đình DTTS MNPB Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực trạng, chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện
BĐG trong lao động gia đình DTTS MNPB Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy BĐG trong
lao động gia đình DTTS MNPB Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu thực trạng BĐG trong lao động gia đình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Trong phạm vi luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
BĐG trong lao động gia đình giữa vợ và chồng.
- Phạm vi không gian: MNPB gồm 14 tỉnh với 30 dân tộc, được chia
thành nhiều nhóm với các trình độ phát triển khác nhau. Trong khuôn khổ luận
án và điều kiện nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số dân tộc như:
Tày, Thái (nhóm DTTS phát triển); Mông (thuộc DTTS phát triển trung bình);
La Hủ (thuộc nhóm DTTS phát triển kém) ở các tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn, Lào
Cai, Sơn La, Lai Châu.
- Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu về tình hình thực hiện
BĐG trong lao động gia đình DTTSMNPB Việt Nam từ năm 2007 (Luật BĐG
có hiệu lực) cho đến nay.


5
4. Cơ sở lí luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn

+ Thực trạng phân công lao động trong các hoạt động: sản xuất, tái sản
xuất, cộng đồng.
+ Quan niệm của người dân về việc phân công lao động trong gia đình
như thế nào là hợp lý.
+ Tìm hiểu tác động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa tới BĐG
trong lao động gia đình DTTS
Nghiên cứu định lượng: Luận án thực hiện 536 phiếu trưng cầu ý kiến.
+ Ở địa bàn: xã Phố cáo, Huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; xã Tân
Lang huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn; Thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa tỉnh Lào
Cai; xã Pa Ủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Thị trấn Phù Yên tỉnh Sơn La.
+ Cơ cấu về giới tính: có 50% là nữ (268) và 50% là nam (268)
+ Dân tộc: Thái (28,3%), Tày (27,6%), Mông (29,9%), La Hủ (14,2%)
+ Cơ cấu về độ tuổi: từ 18 đến 50.
+ Tình trạng hôn nhân: Đầy đủ vợ chồng
+ Cơ cấu về trình độ học vấn: mù chữ: 106; cấp 1: 192; cấp 2:189; cấp 3: 49
+ Cơ cấu nghề nghiệp chính: chủ yếu làm nông nghiệp.
- Quan sát thực địa là một phương pháp, mà tác giả sử dụng trong luận án
nhằm làm sáng tỏ một số phát hiện dựa trên bảng hỏi và thảo luận nhóm.
5. Đóng góp mới của luận án
- Làm rõ hơn lý luận về lao động gia đình DTTS MNPB, nội dung biểu
hiện của BĐG trong lao động gia đình DTTS MNPB.
- Đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của các yếu tố tự nhiên,
kinh tế, văn hóa, chính sách đến việc thực hiện BĐG trong lao động gia đình
DTTS MNPB.
- Đánh giá một cách cụ thể thực trạng BĐG trong lao động gia đình
DTTS MNPB Việt Nam ở các lĩnh vực: sản xuất, tái sản xuất, tham gia hoạt
động cộng đồng.


7

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [7], đã đi sâu phân tích vai trò của người
phụ nữ trong: tái sản xuất sức lao động gia đình; phát triển kinh tế gia đình;
tiếp cận và quản lý các nguồn lực phát triển; quyền quyết định các vấn đề
quan trọng trong gia đình; sinh hoạt cộng đồng và đã đưa ra kết luận: mặc dù
đã trở thành một người lao động chính cùng với chồng tạo nên nguồn của cải
nuôi sống gia đình, nhưng phụ nữ vẫn là người độc tôn trong việc thực hiện
các công việc nội trợ gia đình. Theo nhóm tác giả, các số liệu thực tế cho
thấy người phụ nữ chưa được tiếp cận, kiểm soát và quản lý các nguồn lực
phát triển, sự bất bình đẳng ở đây không những không tạo cơ hội cho người
phụ nữ tham gia một cách tích cực hơn vào quá trình phát triển, mà còn hạn
chế sự phát triển kinh tế gia đình, cũng vì vậy mà vị thế của người phụ nữ
chưa tương xứng với vai trò của họ. Công trình này đã gợi mở cho tác giả
luận án về một số vấn đề lý luận, thực trạng có thể triển khai trong luận án.
Trong công trình Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình [30], Nguyễn
Linh Khiếu đã phân tích làm sáng rõ vai trò của phụ nữ, cũng như mối
quan hệ giới trong gia đình trên các lĩnh vực như: kinh tế, tiếp cận nguồn
lực, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Đặc biệt, tác giả nghiên cứu sâu hơn
về vị thế của phụ nữ trong gia đình nông thôn miền núi, những yếu tố văn
hóa đang cản trở quá trình phát triển của họ. Những kết luận được khái
quát của công trình này, đã gợi mở cho tác giả luận án một số vấn đề đặt ra
hiện nay trong thực hiện được BĐG trong lao động gia đình DTTS.


9
Gender and Domestic life của Tony Chapma [12], là công trình nhấn
mạnh đến vai trò giới và công việc gia đình. Tác giả nghiên cứu gia đình và
công việc gia đình trong tương quan giới, để làm rõ sự bất bình đẳng còn
tồn tại trong phân công lao động gia đình. Tony Chapman đã xem xét công
việc gia đình, mà nam giới và nữ giới tham gia ở phạm vi rộng, bao gồm
các công việc được trả lương, công việc nội trợ, chăm sóc và nuôi con, thời

ra nguyên nhân của thực trạng; đồng thời lượng hóa giá trị công việc lao
động gia đình mà họ đang thực hiện nhằm đánh giá đúng mức giá trị lao
động, làm căn cứ cho các giải pháp được đề xuất. Mặc dù, công trình này chỉ
giới hạn nghiên cứu về gia đình ở thủ đô Hà Nội, nhưng cũng đã cung cấp
thêm cho tác giả luận án lý luận về lao động gia đình, gợi mở một số giải
pháp để thực hiện BĐG trong lao động gia đình DTTS MNPB.
Quỹ Health Bridege Canada - Viện Nghiên cứu phát triển xã hội với
nghiên cứu Đóng góp kinh tế của phụ nữ thông qua công việc nhà [61], đã
cung cấp những bằng chứng về đóng góp của phụ nữ thông qua công việc
nhà; lượng hóa các giá trị của các công việc đó và đóng góp của nó vào kinh
tế quốc gia. Để đạt được mục đích đó, nhóm tác giả đã: tìm hiểu thực trạng
tham gia vào công việc nhà của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ trên
địa bàn nghiên cứu, quan niệm và thái độ của các cặp vợ chồng về công việc
gia đình; lượng hóa thời gian làm công việc nhà của nam và nữ trong gia
đình và lượng hóa giá trị kinh tế cho những công việc đó. Kết quả nghiên
cứu cho thấy mặc dù người trả lời cả nam và nữ đều chia sẻ rằng ai cũng có
thể làm việc nhà, không kể nam hay nữ và công việc nhà cần được chia đều
cho hai vợ chồng, thì trong cả hai bối cảnh, thành thị và nông thôn, người
phụ nữ vẫn là người dành nhiều thời gian làm các công việc nhà hơn nam
giới. Trong các khuyến nghị đưa ra, thì khuyến nghị cần nâng cao nhận thức
của toàn xã hội về giá trị lao động gia đình và đóng góp của phụ nữ vào kinh
tế gia đình, bên cạnh sự đóng góp thông qua các hoạt động có thu nhập của
họ, là một khuyến nghị chúng ta cần quan tâm, nếu làm được điều này mới
có thể tạo được BĐG trong lao động gia đình đối với người phụ nữ. Nghiên
cứu này là tài liệu quan trọng, gợi mở cho tác giả luận án nhiều vấn đề cần
triển khai.


11
Dựa trên số liệu định lượng từ cuộc “Điều tra cơ bản về thực trạng

12
lại tham gia nền sản xuất xã hội và thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
thứ hai, xã hội hóa công việc gia đình đối với phụ nữ; thứ ba, tạo điều kiện xã
hội giúp phụ nữ khẳng định địa vị của mình trong gia đình, ngoài xã hội; thứ
tư, người phụ nữ phải nâng cao ý thức tự giải phóng mình; thứ 5, thực hiện
quyền bình đẳng dân chủ của phụ nữ một cách thật sự. Bài viết này đã gợi mở
cho tác giả luận án về một số giải pháp, có thể đưa ra để thúc đẩy BĐG trong
lao động gia đình DTTS MNPB hiện nay.
Lê Ngọc Lân với bài viết Vấn đề lao động, việc làm nhìn từ góc độ giới
[34], đã chỉ ra hiện nay vẫn còn nhiều khía cạnh bất BĐG giữa nam, nữ, cụ thể
là tình trạng việc làm có thu nhập cao thường xuyên của nam cao hơn nữ, nam
có nhiều lợi thế trong việc tìm kiếm và lựa chọn ngành nghề cũng như cơ hội
tuyển dụng. Trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, khuôn mẫu giới truyền
thống về phân công lao động vẫn chưa thay đổi nhiều. Có nhiều nguyên nhân
dẫn tới bất bình đẳng, nhưng theo tác giả bài viết nguyên nhân bao trùm là định
kiến giới hiện vẫn còn tồn tại trong tư tưởng của nhiều người trong xã hội.
Trong bài Khía cạnh giới trong phân công lao động gia đình [44],
Nguyễn Hữu Minh đã phân tích thực trạng phân công lao động theo giới trong
gia đình. Theo ông cho đến nay chưa có những số liệu so sánh đủ tin cậy ở
quy mô toàn quốc về xu hướng biến đổi phân công lao động theo giới trong
gia đình, nhưng “sự bình đẳng của xã hội theo hướng công nghiệp hóa đã tạo
thêm nhiều cơ hội việc làm cho phụ nữ, sự tham gia của họ vào lực lượng lao
động xã hội ngày càng tăng. Những yếu tố đó sẽ góp phần dẫn đến việc tăng
sự tham gia của người chồng vào công việc gia đình”. Tác giả đã chỉ ra những
khác biệt chủ yếu có liên quan đến phân công lao động theo giới trong gia
đình là: sống ở khu vực thành thị hay nông thôn; nghề nghiệp; học vấn, chu
trình sống của gia đình và cơ cấu hộ gia đình; sự đóng góp của phụ nữ vào
nguồn thu nhập gia đình và định kiến giới. Tác giả cũng đưa ra một số vấn đề
nghiên cứu cần quan tâm như: hiện nay khi nghiên cứu về phân công lao động
theo giới trong gia đình, thường tập trung vào phân công công việc nội trợ, sự

giới: phân tích quan niệm về vai trò của vợ và chồng, các phẩm chất mong
muốn ở con trai và con gái, quan niệm tên vợ, tên chồng trong giấy chứng nhận
tài sản, qua số liệu cho thấy định kiến giới trong những vấn đến vẫn còn tồn tại.


14
Công trình này đã gợi mở cho tác giả luận án một số vấn đề cần triển khai trong
luận án.
Nguyễn Thị Ngân, trong hai bài viết Thực hiện quan điểm của Đảng và
chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới [46], Chủ trương của Đảng, Nhà
nước về giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam [47], đã khái quát
lại một số quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về thực hiện
BĐG được thể hiện ở: Chỉ thị 44/TW ngày 7-6-1984 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng, Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-4-1993 của Bộ Chính trị, Luật
BĐG. Theo tác giả, trong các văn kiện của Đảng từ Đại hội VI đến đại hội X
đều đề cập tới việc thực hiện BĐG, trong những năm qua Việt Nam đã không
ngừng thực hiện quan điểm đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về
BĐG, do vậy phụ nữ đã có những đóng góp to lớn, tham gia ngày càng tích cực
vào các hoạt động chính trị xã hội. Ngoài ra, trong hai bài viết tác giả còn chỉ ra
một số bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện mục tiêu BĐG như: một số
chủ trương lớn còn thiếu nhạy cảm về giới; định kiến giới còn tồn tại trong
không ít các cơ quan nhà nước; vai trò của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ chưa
thật sự được đề cao; thiếu nguồn lực cũng như kỹ năng lồng ghép giới vào các
hoạt động của từng cơ sở; bản thân phụ nữ còn tự ti, rụt rè. Để đạt được mục
tiêu BĐG, tác giả nhận định “cần có sự chỉ đạo mạnh mẽ, quyết tâm cao và
hành động cụ thể của tất cả các cơ quan nhà nước, các ngành, các cấp. Do vậy,
hướng tới BĐG cần phải có sự lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi
chính sách”. Hai bài viết này đã cung cấp cho tác giả luận án, một số vấn đề về
lý luận, đồng thời cũng gợi mở hướng tiếp cận về nguyên nhân dẫn tới bất
BĐG có thể triển khai trong luận án.

Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên chưa chỉ ra được giải
pháp cụ thể nhằm thúc đẩy BĐG.
Cuốn sách Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng
giới và phòng, chống Bạo lực gia đình [16] gồm có 4 phần, đã khái quát lại:
văn bản chỉ đạo của Đảng; các văn bản quy định hiện hành về BĐG; các văn
bản hiện hành về tổ chức bộ máy về BĐG, vì sự tiến bộ của phụ nữ và
phòng, chống bạo lực gia đình; một số trích đoạn của các văn kiện quốc tế
liên quan. Đây là cuốn sách có giá trị, rất cần thiết giúp tác giả luận án tìm
hiểu thông tin và nắm vững chính sách, pháp luật về BĐG, phòng chống bạo


16
lực gia đình. Tuy nhiên, để tiện lợi cho việc tham khảo và theo dõi quá trình
phát triển chính sách pháp luật trong các lĩnh vực BĐG, phòng, chống bạo
lực gia đình, các văn bản nên hệ thống theo thời gian thì sẽ tốt hơn.
Báo cáo phát triển thế giới 2012: Bình đẳng giới và phát triển [100],
là một trong số những ấn bản thường niên quan trọng nhất của Ngân hàng
thế giới được phát hành. Báo cáo này, đã phân tích vai trò của BĐG trong sự
phát triển chung và sự phát triển của kinh tế, BĐG sẽ góp phần như thế nào
vào việc nâng cao năng suất lao động, cũng như làm cho quốc gia thịnh
vượng hơn. Báo cáo tập trung vào 4 lĩnh vực ưu tiên về cải cách chính sách:
giảm bất BĐG về nguồn vốn con người - nhất là bất BĐG trong tỷ lệ tử vong
và trình độ học vấn của phụ nữ; giảm bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội
kinh tế, thu nhập và năng suất lao động; giảm bất BĐG về tiếng nói và năng
lực trung gian trong xã hội; hạn chế sự tái diễn của tình trạng bất bình đẳng
từ thế hệ này qua thế hệ khác. Theo báo cáo, cần có những giải pháp công,
để tác động đến những nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất BĐG trong
những lĩnh vực ưu tiên. Đây là tài liệu quan trọng, gợi mở cho tác giả về ý
nghĩa của BĐG trong lao động gia đình DTTS với sự phát triển kinh tế xã
hội của MNPB.

nhiều cơ sở lý luận.
Trong bài viết Phân công lao động theo giới trong gia đình:cách nhìn
mới cho một chủ đề cũ [50], dựa vào các nguồn tài liệu đã công bố và một số
nghiên cứu đã thực hiện, Trần Thị Vân Nương đã điểm qua lịch sử nghiên
cứu về phân công lao động theo giới trong gia đình, bình luận một số kết quả
của các nhà nghiên cứu trước đây về chủ đề này, sau cùng là luận bàn một
cách nhìn mới trong nghiên cứu phân công lao động theo giới trong gia đình
trước bối cảnh biến đổi gia đình hiện nay. Theo tác giả, khi đánh giá phân
công lao động theo giới trong gia đình cần có quan điểm lịch sử cụ thể, cần
phải thừa nhận không phải tất cả những khác biệt về giới trong phân công lao
động đều là bất hợp lý và tiêu cực, là mặt trái của mối quan hệ giới.
UNDP với công trình The women’s access to land in contemporary
Viet Nam (Tiếp cận đất đai của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay) [84],
đã lần đầu tiên xem xét quyền tiếp cận của phụ nữ đối với đất đai ở trên địa
bàn 10 tỉnh, thuộc 8 vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Các kết quả


18
nghiên cứu tài liệu văn bản, tài liệu định lượng và định tính trên địa bàn 10 tỉnh
thành thuộc 8 vùng kinh tế khác nhau, ở các bối cảnh tộc người khác nhau cho
thấy, có sự khác biệt tương đối lớn trong tiếp cận đất đai của phụ nữ. Nói một
cách chung nhất, khả năng tiếp cận đất đai của nhóm phụ nữ ở các cộng đồng
thực hành chế độ phụ hệ hạn chế hơn rất nhiều so với phụ nữ ở các cộng đồng
thực hành mẫu hệ và song hệ; tương tự như vậy, phụ nữ ở khu vực thành thị có
nhiều cơ hội tiếp cận đất đai hơn so với nhóm phụ nữ nông thôn. Nghiên cứu
này, phát hiện ra 6 rào cản chính hạn chế sự tiếp cận đất đai của phụ nữ là: các
yếu tố pháp luật, thực hành dòng họ, tiếp cận dịch vụ pháp lý, di chúc, tổ hòa
giải và kiến tạo giới.
Nguyễn Thị Nga, Phạm Anh Hùng trong bài viết Lao động nữ không
được trả công ở Việt Nam [45], đã tập trung làm rõ quan niệm về lao động nữ

các hoạt động kinh tế trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công, tự quản chi tiêu
duy trì cuộc sống cho các thành viên trong gia đình”. Ngoài ra trong đời
sống văn hóa vai trò của phụ nữ cũng rất quan trọng, “trong sự tương quan
với nam giới thì nữ giới khu vực dân tộc và miền núi là người có công bảo
tồn nhiều yếu tố bản sắc văn hóa của từng dân tộc và quốc gia”. Bài báo này
giúp tác giả luận án có thêm tư liệu về vai trò của người phụ nữ DTTS trong
đời sống kinh tế xã hội các dân tộc.
Cao Bang - Bac Kan - Rural Development project: Gender Studies on
Tay Nung ethnic minorities in Cao Bang [5], trên cơ sở nghiên cứu về dân tộc
Tày, Nùng ở Cao Bằng, Đỗ Thị Bình đã chỉ ra rằng trong gia đình DTTS hiện
nay vẫn còn tồn tại khoảng cách giới tương đối lớn trên các mặt như: phân
công lao động, tiếp cận, quản lý và hưởng lợi từ các nguồn lực và quyền
quyết định các vấn đề quan trọng trong gia đình và cộng đồng. Theo tác giả,
những nguyên nhân cơ bản dẫn tới thực trạng bất bình đẳng trong gia đình
DTTS ở địa bàn nghiên cứu là đói nghèo và nhận thức thấp. Công trình này
đã giúp tác giả luận án có thêm tư liệu để so sánh sự biến đổi trong quan hệ
giới của gia đình DTTS MNPB hiện nay.
Trong công trình Phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong quá
trình chuyển dịch sang cơ chế thị trường [20], Sa Trọng Đoàn đã phân tích rõ
vai trò, tính đặc thù của kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi; luận giải
những nhân tố chi phối sự phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status