Đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng tây bắc việt nam hiện nay - Pdf 48

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tác giả. Các số liệu, trích dẫn trong
luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng và
không trùng lặp với những công trình đã công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Hồng Hải


MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1
1.2
Chương 2
2.1.
2.2.
Chương 3
3.1.
3.2.
Chương 4
4.1.

4.2.
4.3.

49
76
76
110
127

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới công tác tổ chức
đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc Việt
Nam hiện nay
127
Đổi mới các yếu tố của quá trình đào tạo nguồn nhân lực dân
tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc hiện nay
144
Xây dựng môi trường, điều kiện thuận lợi cho đào tạo nguồn
nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc hiện nay
162

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
171
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
177
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
178
PHỤ LỤC
189


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Tây Bắc gồm các tỉnh miền núi, có đường biên giới dài, địa hình hiểm trở, là
nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (Điện Biên, Hòa Bình, Lai
Châu, Lào Cai, Sơn La và Yên Bái). Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên và lịch
sử đến nay, đây vẫn là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất so với bình quân của cả
nước, các chính sách trực tiếp và gián tiếp liên quan đến phát triển nguồn nhân
lực các dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, chưa đủ nguồn lực để
phát triển. Do đó, đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong vùng là một
vấn đề trọng tâm, có ý nghĩa quyết định góp phần tăng cường sức mạnh cho
nguồn lực con người và phát huy tiềm năng sáng tạo của nguồn nhân lực dân
tộc thiểu số vùng Tây Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đào tạo
làm biến đổi toàn diện nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong vùng, đủ về số
lượng, hợp lý về cơ cấu, mạnh về chất lượng và trở thành một động lực quan trọng
cho phát triển vùng Tây Bắc luôn là một vấn đề có tính cấp thiết hiện nay.
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo, 6 tỉnh trong vùng Tây Bắc đã có nhiều thành tựu quan trọng trong
đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, đào tạo nguồn nhân lực
này ở vùng Tây Bắc vẫn còn những hạn chế, bất cập, do những nguyên nhân
khách quan và chủ quan khác nhau. Ngoài những khó khăn về địa bàn, cơ sở
vật chất, phương tiện cũng như chất lượng nguồn đầu vào đào tạo còn có
nguyên nhân cơ bản là tính khoa học, sự sát hợp của quá trình đào tạo nguồn
nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng chưa tương xứng, chưa ngang tầm nhiệm vụ.
Cho nên, chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số qua đào tạo chưa đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi của phát triển - phát triển bền vững của vùng. Tình trạng vừa
thiếu, vừa thừa; chất lượng đạt trình độ cao của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số


6
sau đào tạo còn thấp. Điều đó thúc bách vấn đề nghiên cứu, luận chứng khoa
học về đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc hiện nay mang
tính cấp thiết trực tiếp.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu cua luận án
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề bản chất của quá trình đào tạo nguồn nhân
lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu quá trình đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng và
đại học đối với người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Việt Nam gồm 6 tỉnh:
Điện Biên, Hòa Bình, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La và Yên Bái. Trọng tâm là
vấn đề đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số bổ sung trực tiếp cho phát
triển vùng Tây Bắc.
- Đối tượng khảo sát ý kiến là: sinh viên thuộc nguồn nhân lực dân tộc
thiểu số đang đào tạo chính quy, tập trung tại các trường đại học, cao đẳng
trong vùng Tây Bắc.
- Các số liệu báo cáo đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số vùng Tây
Bắc thời gian từ năm 2006 đến nay của Ủy ban Dân tộc, Ban Chỉ đạo Tây Bắc,
các tỉnh vùng Tây Bắc và ở trường Đại học Tây Bắc, các trường cao đẳng ở các
tỉnh thuộc vùng Tây Bắc.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu cua luận án
* Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn nhân
lực, về giáo dục và đào tạo. Luận án còn kế thừa kết quả nghiên cứu của các
công trình liên quan đến đề tài.
* Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa vào thực tiễn, hiện trạng đào tạo nguồn nhân lực dân tộc
thiểu số vùng Tây Bắc và các đánh giá, tổng kết trong các Văn kiện, Nghị
quyết của Đảng; các số liệu đào tạo ở trường đại học, cao đẳng vùng Tây Bắc;
các báo cáo tổng kết về đào tạo, bố trí và sử dụng nguồn nhân lực dân tộc



9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đào tạo
nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc Việt
Nam
1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực
và đào tạo nguồn nhân lực
Tác giả Jang Ho Kim (2005) với công trình “Khung mẫu mới về phát
triển nguồn nhân lực: các sáng kiến của chính phủ để phát triển kinh tế để
hội nhập xã hội tại Hàn Quốc” [50], đã đề cập đến các thách thức kinh tế - xã
hội trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Hàn Quốc. Tác giả
khẳng định vai trò to lớn của nguồn nhân lực chất lượng cao; khả năng cạnh
tranh nguồn nhân lực của đất nước; đưa ra định hướng phát triển; đặc biệt đã
đưa ra và phân tích các vấn đề giáo dục và đào tạo nghề, kết hợp đào tạo với
nghiên cứu và phát triển, những vấn đề về xây dựng xã hội học tập ở Hàn
Quốc.
Công trình “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm
chấn hưng đất nước” của tập thể tác giả Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diệu
(Chủ biên), do Nguyễn Như Diệm dịch (2008) [42], đã đề cập khá sâu sắc và
toàn diện tư tưởng về nhân tài của Đặng Tiểu Bình. Trong đó, đề cập khá sâu
sắc tư tưởng của Đặng Tiểu Bình về những vấn đề rất cơ bản như: nhân tài là
then chốt của phát triển; đường lối tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ;
tư tưởng chiến lược về bồi dưỡng và giáo dục nhân tài; về tuyển chọn nhân tài
ưu tú; về sử dụng và bố trí nhân tài; về tạo môi trường cho nhân tài phát triển;
về cải cách chế độ nhân sự trong việc sử dụng nhân tài... Các tác giả nhấn
mạnh việc Trung Quốc luôn coi giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, công tác nhân tài là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, coi đó


vùng nông thôn.


11
Tác giả Trần Văn Tùng (2005) với công trình “Đào tạo, bồi dưỡng và sử
dụng nguồn nhân lực tài năng” [87], đã trình bày những kinh nghiệm trong phát
hiện, đào tạo và sử dụng tài năng KH&CN sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ
và một số quốc gia châu Âu (Đức, Pháp, Anh), châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc và một số quốc gia châu Á khác). Từ đó, tác giả đã đưa ra vấn đề:
Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn tài
năng hiện có. Công trình nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối
với nước ta trong việc phát hiện, đào tạo, sử dụng tài năng khoa học và công
nghệ phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và công cuộc đổi mới đất nước.
Tác giả Vũ Bá Thể (2005) với công trình: “Phát huy nguồn lực con
người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn
Việt Nam” [94], đã đề cập đến nguồn lực con người với tư cách là nguồn lực
quan trọng, quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam.
Tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về
phát triển nguồn lực con người; đánh giá thực trạng vấn đề đó ở Việt Nam. Từ
đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn lực con người
trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta.
Tác giả Đoàn Văn Khái (2005) với công trình: “Nguồn lực con người
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” [48], đã nghiên
cứu khá toàn diện về nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở nước
ta. Dưới góc độ triết học, tác giả đã luận chứng một cách có hệ thống vị trí,
vai trò và đặc điểm của nguồn lực con người với tính cách là nguồn lực nội
tại, cơ bản, quyết định của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; phân tích vai trò
quyết định của nguồn lực con người và đặc điểm của nó trong quan hệ so sánh
với các nguồn lực khác đối với quá trình CNH, HĐH. Từ sự khẳng định vai
trò của nguồn lực con người, tác giả đã bước đầu phác thảo những năng lực

thời, công trình cũng đề xuất hệ thống những quan điểm và giải pháp đồng bộ
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong ba khu vực: hành chính
nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh. Các đề xuất này khá toàn diện,


13
đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi.
Tác giả Phạm Hồng Tung (2008) với công trình “Lược khảo về kinh
nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam” [86],
đã đánh giá tương đối toàn diện, súc tích về những mặt tốt và hạn chế của
thực tiễn đào tạo và sử dụng nhân tài của ông cha ta trong các thời kỳ lịch sử,
từ thời kỳ dựng nước, đến thời kỳ Bắc thuộc, trải qua thời kỳ buổi đầu xây
dựng Nhà nước quân chủ độc lập từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV và trong lịch sử
trung đại Việt Nam cùng với quan niệm dân gian Việt Nam về nhân tài; bên
cạnh đó, là quan niệm mới về nhân tài ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX và sự xuất hiện của đội ngũ trí thức Tây học. Cuối cùng, tác giả đã làm
rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về việc đào tạo thế hệ nhân tài góp phần xây dựng
Đảng cứu nước. Trên cơ sở đó, tác giả đã đúc rút ra bài học kinh nghiệm hữu
ích, góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát
triển, sử dụng, trọng đãi, tôn vinh nhân tài ở nước ta hiện nay.
Tác giả Phạm Thành Nghị (2009) với công trình “Kinh nghiệm phát
triển nguồn nhân lực ở những quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á” [67], đã tập
trung làm rõ kinh ngiệm phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản và một số
nước Đông Á như: Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan với những nội dung cơ
bản, toàn diện: Luôn coi con người, nhân lực là yếu tố quyết định nhất; phát
triển nguồn nhân lực theo nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
theo chiến lược đón đầu; kết hợp đào tạo nghề đại cương và đào tạo nghề
chuyên sâu; vai trò của Nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp và khu
vực tư nhân; thu hút và trọng dụng nhân tài.
Tập thể tác giả Dương Văn Quảng, Bành Tiến Long, Trịnh Đức Dụ

hỏi của xây dựng xã hội trong một giai đoạn nào đó sẵn sàng tham gia một
công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả
năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ
cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng xác định” [74, tr. 9].
Tập thể tác giả Nguyễn Văn Phúc và Mai Thị Thu (2012) với công trình
“Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” [77], là tập hợp


15
những kết quả nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội
quốc gia thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều
nhà khoa học, cán bộ quản lý Nhà nước, quản trị doanh nghiệp về khai thác,
sử dụng tài nguyên nhân lực - một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung, giải
pháp trọng tâm để phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới.
Trong đó, các tác giả đã đi vào làm rõ khái niệm tài nguyên nhân lực ở 2 cấp
độ: cá nhân và quốc gia, từ đó đi đến kết luận: dù ở cấp độ nào thì tài nguyên
nhân lực cũng có thể tăng cường, phát triển thông qua những hình thức, con
đường khác nhau. Đồng thời, công trình cũng nhấn mạnh: trên thực tế, tài
nguyên nhân lực Việt Nam đã hình thành được những lợi thế nhất định, đã
được khai thác, sử dụng và phát triển vai trò tích cực của mình đối với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công trình đã đánh giá thực trạng, chỉ ra
lợi thế so sánh và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác phát triển tài
nguyên nhân lực Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020.
Tập thể tác giả Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (2012) với công trình
“Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế” [76], đã tiếp cận từ lý luận đến thực tiễn phát triển
nguồn nhân lực. Các tác giả đã trình bày một số khái niệm cơ bản về nhân
lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam, những
vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công CNH, HĐH
và hội nhập quốc tế. Đồng thời, giới thiệu những kinh nghiệm phát triển

khoa học công nghệ”.
Tác giả Lương Công Lý (2014) với công trình “Giáo dục - đào tạo với
việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [56],
dưới góc độ triết học, tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của giáo dục và đào tạo với việc
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay; phân tích thực
trạng vai trò của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay; từ đó, đề xuất một số phương hướng,
giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo với việc phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả Lê Thị Hạnh (2017) với công trình “Đào tạo nguồn nhân lực


17
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” [40], dưới
góc độ triết học, tác giả đã giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn đào
tạo nguồn nhân lực đáp ứng phát triển kinh tế tri thức. Theo tác giả để đào tạo
nguồn nhân lực đáp ứng được kinh tế tri thức cần thực hiện đồng bộ các giải
pháp như: nâng cao nhận thức về đào tạo nguồn nhân lực; đổi mới sự lãnh
đạo, quản lý của Nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực; đổi mới căn bản đào
tạo và sử dụng nguồn nhân lực và phát huy vai trò của chủ thể được đào tạo.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực dân
tộc thiểu số và đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc
Việt Nam
Tác giả Tráng A Pao (2005) với công trình “Thực hiện chế độ cử tuyển
trong đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số miền núi” [71], đã khẳng định chủ trương
cử tuyển cán bộ dân tộc thiểu số là một quan điểm đúng đắn của Đảng ta đối với
vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Thực hiện chế độ cử tuyển tốt là tiền đề quan
trọng, có ý nghĩa thúc đẩy việc phấn đấu thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thực hiện chế

tộc thiểu số.
Tác giả Phạm Thành Nghị (2010) với công trình “Phát triển con người
vùng Tây Bắc nước ta” [68], đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về vấn đề con người, tộc người ở vùng Tây Bắc. Trên cơ sở đánh giá
sự phát triển con người nơi đây, tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân của vấn đề
nghiên cứu và xác định được các giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người
vùng Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả Nguyễn Đăng Thành (2010) với công trình “Đặc điểm nguồn
nhân lực dân tộc thiểu số Việt Nam. Bằng chứng thu thập được từ điều tra hộ
gia đình dân tộc thiểu số năm 2009 tại 11 tỉnh” [91], bằng phương pháp thống
kê xã hội đã đưa ra bức tranh khá đầy đủ về nguồn nhân lực dân tộc thiểu số
Việt Nam. Công trình dựa trên cơ sở điều tra và khảo sát hơn bốn nghìn hộ gia
đình dân tộc thiểu số tại 11 tỉnh, đã cung cấp thông tin tổng quát các vấn đề về:


19
nhân khẩu, lao động, đất đai, mức sống, sức khỏe, các chương trình, chính sách
cho người dân tộc thiểu số. Trong công trình tác giả cũng đã định hình những
đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở nước ta.
Nhóm cán bộ ở Ủy ban Dân tộc - UNDP (2010) với công trình nghiên
cứu “Hiện trạng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số và khuyến nghị các giải
pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và miền núi”
[119], được thực hiện trong khuôn khổ dự án EMPCD - một dự án hỗ trợ tăng
cường năng lực xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách dân tộc của Uỷ
ban Dân tộc do UNDP hỗ trợ kỹ thuật. Công trình nghiên cứu này đã cung
cấp các dữ liệu và minh chứng về thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc
thiểu số và miền núi nhằm hỗ trợ cho Uỷ ban Dân tộc trong việc dự thảo Đề
án về phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn
2011-2015 và định hướng tới năm 2020 để trình Chính phủ.
Tác giả Nguyễn Khánh Phúc (2011) với công trình “Phát triển nguồn

quan điểm giải pháp thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số
nước ta đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH. Trong cuốn sách này, tác giả
đã tìm một hướng tiếp cận hợp lý cho đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển
nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở nước ta trong quá trình đẩy mạnh CNH,
HĐH. Đó là cách tiếp cận liên ngành từ nhân học - tộc người, kinh tế học phát
triển, chính trị học, triết học xã hội, xã hội học, tâm lý học, khoa học vùng khi
nghiên cứu lý thuyết cũng như tổng kết thực tiễn, đề xuất chính sách.
Tác giả Đàm Thị Toan (2012) với công trình “Phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao vùng dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay” [85], đã cho rằng:
chất lượng nguồn nhân lực thấp chính là rào cản lớn cho quá trình đẩy nhanh
CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức ở Việt Nam nói chung và vùng dân tộc
thiểu số và miền núi nói riêng; Đòn bẩy để đưa vùng dân tộc thiểu số và miền
núi nước ta thoát khỏi tình trạng đói nghèo bền vững, đáp ứng yêu cầu CNH,
HĐH đất nước và hội nhập chính là phải phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là
nguồn nhân lực chất lượng cao.


21
Tác giả Trần Văn Trung (2015) với công trình “Chính sách phát triển
nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc Việt Nam” [108], dưới góc độ nghiên cứu
chuyên ngành quản lý hành chính công, theo tác giả, vùng Tây Bắc là khu vực
có số người dân tộc thiểu số chiếm đa số. Tuy nhiên, đây cũng là vùng có điều
kiện phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước, tỷ lệ
hộ nghèo vào cận nghèo cao, dân trí thấp, số lượng và chất lượng nguồn nhân
lực thấp nhất trong tất cả các vùng miền cả nước. Thực tiễn trên cho thấy,
vùng Tây Bắc không thể tự giải quyết được mà rất cần sự điều tiết của Nhà
nước. Từ đó, công trình đã luận giải, đánh giá một cách cơ bản các chính sách
phát triển nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc tập trung ở chính sách tác động
đến số lượng, chất lượng, cơ cấu và tuyển chọn, sử dụng nguồn nhân lực trẻ.
Trong công trình, tác giả cũng đã chỉ ra những định hướng, nhóm giải pháp cơ

hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số nhằm phát triển bền
vững ở vùng Tây Bắc.
1.2. Khái quát kết quả các công trình khoa học có liên quan và
những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1. Khái quát kết quả chủ yếu các công trình khoa học liên quan
đến đề tài luận án
Một là, kết quả nghiên cứu liên quan đến lý luận về đào tạo nguồn nhân
lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc.
Các công trình khoa học nghiên cứu lý luận về nguồn lực con người và
phát triển nguồn lực con người cơ bản, trong đó tập trung luận giải làm rõ vị
trí, vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Dưới
các góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình khoa học đều luận giải và khẳng
định vị trí, vai trò quyết định của con người, nguồn lực con người đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội; chỉ ra mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa nguồn
lực con người với các nguồn lực khác trong sự phát triển. Trong quá trình
luận giải, một số tác giả đã đưa ra quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực


23
cũng như nội hàm của nó, song về cơ bản đều thống nhất ở cách tiếp cận các
yếu tố cấu thành nguồn nhân lực gồm: số lượng, cơ cấu và chất lượng. Số
lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu, quy mô, tốc độ
tăng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp
những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí tuệ, kỹ năng, phong cách đạo đức
lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực
Hai là, kết quả nghiên cứu liên quan đến thực tiễn đào tạo nguồn nhân
lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc.
Một số công trình khoa học đã đi sâu phân tích, khảo cứu kinh nghiệm
phát triển nguồn nhân lực của các nước trên thế giới; đã đề cập đến thực tiễn
phát huy vai trò của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong

phù hợp hơn với từng địa phương và từng dân tộc thiểu số, thúc đẩy thực hiện
mục tiêu: các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ
giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Các công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu độc lập, công phu,
nghiêm túc về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực dân tộc thiểu số dưới những
khía cạnh khác nhau. Những kết quả khoa học của các công trình nghiên cứu
trên đạt được là những tài liệu tham khảo bổ ích để tác giả kế thừa chọn lọc
vào nghiên cứu đề tài luận án. Tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ triết
học, tác giả xác định một số vấn đề luận án cần tập trung giải quyết như sau:
Một là, xây dựng khung lý luận về đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số
ở vùng Tây Bắc.
Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình đã công bố, tác giả luận giải
làm rõ khái niệm nguồn nhân lực dân tộc thiểu số và đào tạo nguồn nhân lực
dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Luận giải làm rõ nội hàm quan niệm đào tạo
nguồn nhân lực này. Đồng thời, tác giả tiếp cận làm sáng tỏ tính quy luật đào
tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Đây được coi là phần
trọng điểm lý luận của luận án. Trong quá trình tiếp cận quy luật đào tạo


25
nguồn nhân lực dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc gắn với các mối quan hệ khách
quan, chủ quan; các yếu tố trong quá trình đào tạo, đặc biệt là sự tác động
giữa các chủ thể đến đối tượng làm biến đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng
nguồn nhân lực dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
Hai là, phân tích thực trạng đào tạo và xác định những vấn đề đặt ra đối
với đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc hiện nay.
Căn cứ vào khung lý luận đã xây dựng và kết quả điều tra, khảo sát thực
tế, cùng với các báo cáo, tổng kết của các cơ quan chức năng, các cơ sở đào
tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở các địa phương vùng Tây Bắc. Tác giả

tham khảo, kế thừa, triển khai thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề tài luận án của
mình. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực DTTS đã được đề cập đến dưới một số
góc độ, nhưng không nhiều, còn mang tính quy luật phổ quát. Đặc biệt là vấn
đề về đào tạo nguồn nhân lực DTTS ở vùng Tây Bắc Việt Nam thì chưa có
công trình nào đề cập đến một cách trực tiếp, hệ thống dưới góc độ triết học.
Do đó, tiếp cận vấn đề đào tạo nguồn nhân lực DTTS ở vùng Tây Bắc dưới
góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vẫn là
một cái mới. Nghiên cứu luận giải bản chất những vấn đề đặt ra luận án tiếp
tục giải quyết không trùng lặp với các công trình đã công bố và đó là kết quả
nghiên cứu độc lập của tác giả luận án.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status