“Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp (trường hợp nghiên cứu ở thôn Thuận Hóa, xã Lộc bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 23

DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt
CNH-HĐH
NXB
THCS
THPT
KT-XH
CTXH
UBND
VACR
HTX
NVCTXH
Hội LHPN
PVS
Từ hoàn thiện
Công nghiệp hóa hiện đại
hóa
Nhà xuất bản
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Kinh tế xã hội
Công tác xã hội
Uy ban nhân dân
Vườn ao chuồng rừng
Hợp tác xã
Nhân viên công tác xã hội
Hội liên hiệp phụ nữ
Phỏng vấn sâu
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG:
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất

thành một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới, đuợc xếp thứ
80/136 quốc gia về chỉ tiêu phát triển giới.
Thế nhưng, trên thưc tế, vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn còn
nhiều bất cập. Sự giải phóng phụ nữ dường như chỉ dừng lại ở cái mà cơ chế
xã hội mới mang lại , chưa vào sâu đuợc đời sống gia đình. Trong các gia
đình ít nhiều vẫn tồn tại các hiện tượng bất bình đẳng giói như chưa ghi
nhận đúng vai trò của nữ giới, sự phân công lao động trong gia đình chưa
hợp lý, còn sự phân biệt đối xử nam nữ, bạo hành phụ nữ vv…
Do đó em muốn đi sâu tìm hiểu vấn đề giới trong phạm vi gia đình,
một lĩnh vực còn thiếu sự quan tâm đúng mức.
2
Mặt khác, địa bàn thực tế là thôn Thuận Hóa, xã Lộc Bổn, huyện Phú
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, là vùng đất cố đô, chỉ cách kinh thành huế có 20
km, nhiều dấu tích của chế độ phong kiến còn tồn tại trong cuộc sống của
người dân nơi đây. Đặc biệt tàn dư của nó là tư tuởng trọng nam khinh nữ
vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng. Vì vậy em muốn
tìm hiểu xem ở vùng đất còn đậm dấu ấn phong kiến này, vấn đề bình đẳng
giới, đặc biệt là bình đẳng giới trong gia đình được nhìn nhận và thực hiện
như thế nào.
Hơn nữa, vì thời gian hạn chế, chỉ có 7 ngày để thực hiện đề tài mà
vấn đề bình đẳng giới thì quá rộng. Việc đi sâu nghiên cứu một vấn đề như
bình đẳng giới trong gia đình sẽ có kết quả tốt hơn .
Vì những lý do trên ,em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu
trong chuyến thực tế này là: “Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình: thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp (trường hợp nghiên cứu ở thôn Thuận Hóa,
xã Lộc bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế)
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua đã tác động mạnh
mẽ tới cơ cấu và phân công lao động giữa nam và nữ ở nông thôn.
Nghiên cứu sự phân công lao đọng theo giới ở nông thôn trong quá

Đời sông không ngừng biến đổi, vì thế sự phân công lao động ở nông
thôn nói chung và sựu phân công lao động ở gia đình nói riêng cũng cần sự
biến đổi, để tạo nên một môi trường xã hội ổn định và phát triển.
Trong bài viết này người viết sẽ nhìn nhận vấn đề từ cả hai góc độ
quan điểm của phụ nữ và nam giới trong việc xem xét sự phân công lao
động chủ yếu từ độ tuổi từ 18 đến 55, 60 tuổi trong gia đình ở nông thôn để
thấy được những nhân tố ảnh hưởng đến sự phân công lao động vào các
công việc sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng của cả hai giới, hy
vọng đưa ra khuyến nghị hướng tới sự phát triển toàn diện của cả hai giới
trong mối quan hệ với nông thôn và xu thế biến đổi xã hội.
4
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1.Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết xã hội học: lý
thuyết hành vi ,lý thuyết bất bình đẳng xã hội,lý thuyết về giới,bất bình đẳng giới
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đối với chính quyền địa phương: Giúp cán bộ thôn, xã và các ban
ngành chuyên môn đánh giá, nhìn nhận lại thực trạng bình đẳng giới trong
gia đình tại địa phương. Những thông tin thu đuợc qua quá trình nghiên cứu
sẽ tạo cơ sở cho chính quyền địa phương có những bổ sung, điều chỉnh về
chính sách ,chủ trương nhằm thực hiện bình đẳng giới có hiệu quả, tạo động
lực cho sự phát triển chung của địa phương.
Đối với người dân: Giúp người dân có cơ hội nhìn nhận đúng hơn vai
trò của người phụ nữ và thực trạng bình đẳng giới trong gia đình ở địa
phương mình.Từ đó giúp người dân thay đổi lối tư duy cũ,góp phần thực
hiện có hiệu quả bình đẳng giới trong gia đình nói riêng và bình đẳng nam
nữ nói chung.
Đối với bản thân : Qua đợt thực tế này, mà cụ thể là việc đi sâu tìm
hiểu vấn đề bình đẳng giới trong gia đình ở một cộng đồng dân cư, là cơ hội
tốt để em có thể áp dụng những phương pháp và lý thuyết đã học (phương

5.2. Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ và nam giới trong các gia đình trên địa bàn, cán bộ phụ nữ, đại
diện chính quyền địa phương
5.3 Phạm vi nghiên cưú
Không gian: nghiên cứu trên địa bàn thôn Thuận Hóa
Thời gian thực địa: 14/6/2014 – 20/6/2014
Thời gian nghiên cứu vấn đề: ở những năm gần đây.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Báo cáo đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử như một cơ sở phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu: Quá
trình nhận thức không chỉ dừng lại ở những nhận thức bên ngoài sự vật hiện
6
tượng mà còn phải nhận thức được bản chất bên trong hoặc tính quy luật vốn
có của nó. Phải xem xét các hiện tượng xã hội trong mối quan hệ biện
chứng với các hiện tượng khác, nghiên cứu phải được xem xét trong lịch sử
cụ thể để thấy được mối quan hệ biến đổi giới trong phân công lao động, tiếp
cận các nguồn lực và quyết định, tìm ra được bản chất của mối quan hệ giữa
nhận thức và hành động.
Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể bằng cách tiếp cận, nghiên cứu,
xem xét vấn đề theo quan điểm tôn trọng, giữ gìn và phát huy những nét
đẹp, tích cực của quá khứ và xoá bỏ những cái lạc hậu, tiêu cực, không phù
hợp với sự biến đổi của xã hội.
Vận dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận Mác xít nhằm giải thích sự
vận động, biến đổi và phát triển mối quan hệ giới trong gia đình. Các lý thuyết
về giới như: Lý thuyết nhu cầu, lý thuyết hành động, lý thuyết nữ quyền.
Bên cạnh đó báo cáo cũng vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước, các văn kiện về đổi mới, về giải phóng phụ nữ được
ban hành, những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước.
6.2. Phương pháp nghiên cứu

Cơ cấu nghề nghiệp
- Sản xuất trồng trọt
- Chăn nuôi
- Cán bộ nhà nước
- Khác
- Đi lào
6.2.1.2. Phỏng vấn sâu
Bên cạnh việc phỏng vấn bằng bảng hỏi, tôi đồng thời tiến hành
phỏng vấn sâu đối với người dân để thu thập thông tin chi tiết, sâu sắc và cụ
thể hơn xoay quanh đề tài nghiên cứu của mình. Những câu hỏi nhằm làm
rõ, chứng minh giả thiết của đề tài bằng thông tin định lượng thu được từ
bảng hỏi lẫn thông tin định tính.
6.2.1.3. Phương pháp quan sát
Trong 6 ngày thực tế ở thôn Thuận Hóa, sống với dân, tôi có cơ hội
quan sát những hoạt động trong cuộc sống sinh hoạt gia đình, trong lao đông
sản xuất và 1 số hoạt động xã hội của chị em phụ nữ địa phương
6.2.1.4. Thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp là thông tin đã được xử lí và phổ biến trong khắp xã hội,
những thông tin đã được chọn lọc… ví dụ như: các bào báo, các tạp chí, sách…
8
6.2.2. Phương pháp xử lí thông tin
Xử lý thông tin bằng EXCEL, SPSS.
7. Bố cục
Ngoài lời mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham
khảo, bảng biểu đồ, sơ đồ, đề tài gồm 3 chương sau:
Chương 1. Tổng quan về điạ bàn nghiên cứu và các lý thuyết liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
Chương 2. Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ở thôn
Thuận Hóa hiện nay.
Chương 3: Vai trò của nhân viên Công tác xã hội với vấn đề bình

kinh tế, và các ku dân cư. Có con Sông Nong bắt nguồn từ vùng núi thấp đi
qua trung tâm của xã và đỗ về sông Đại Giang với chiều dài khoảng 20km.
-Về khí hậu: Là xã nằm tròng vùng nhiệt đới ẩm, gió mùa, có thời tiết
khắc nghiệt, khí hậu trong năm chia làm 2: Mùa ít mưa từ tháng 01 đến
tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình cả năm
khoảng từ 250C. Lượng mưa trung bình cả năm từ 2800-3400mm, những
tháng ít mưa khoảng 900mm
1.1.1.4. Tài nguyên:
1.1.1.4.1. Tài nguyên đất
Tài nguyên đất xã Lộc Bổn được thể hiện thông qua bảng 1
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất
STT Chỉ tiêu Mã Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 3273,23 100
1 Đất nông nghiệp NNP 2413.72 73.74
1.1 Đất lúa nước DLN 467.60
11
1.2 Đất trồng cây hàng năm HNR 46.91
1.3 Đất trồng cây lâu năm CLN 193.94
1.4 Đất rừng sản xuất RSX 1640.77
1.5 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 64.50
2 Đất phi nông nghiệp PNN 539.98 16,50
2.1 Đất XD cơ quan, công trình
sự nghiệp
CTS 0.37
2.2 Đất cơ sở kinh doanh SKC 0.09
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 12.72
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 197.42
2.5 Đất có mặt nước chuyên
dùng
SMN 3.83

hoạch hoá gia đình, nên công tác dân số đã đạt được kết quả đáng khích lệ.
Tuy nhiên vị trí xã Lộc Bổn nằm liền kề thị xã Hương Thuỷ và khu đô
thị của Lộc Sơn trong tương lai nên sẽ đón nhận một lượng không nhỏ dân
số từ nơi khác đến sống và làm việc trong các khu công nghiệp. Điều này có
tác độn lớn đến sự hình thành và thúc đẩy phát triển các điểm, khu dân cư
tập trung, các tụ điểm kinh tế, các ngành nghề truyền thống…Từ đó sẽ dẫn
đến sự thay đổi phân bổ dân cư, phát triển sản xuất; đồng thời tác động nhất
định đến việc sử dụng đất trên địa bàn xã.
- Về hộ sản xuất nông nghiệp: 1224 hộ, chiếm tỷ lệ 44% tổng số hộ.
Đặc điểm: trong các hộ sản xuất nông nghiệp còn có các hộ sản xuất thuần
nông, có một số hộ kết hợp các ngành nghề khác như: ngành nghề nông
thôn, buôn bán nhỏ, làm công nhân và một số hộ thiếu việc làm khi nông
nhàn…. Bình quân diện tích canh tác 6,8 sào/lao động nông nghiệp; qua số
liệu trên ta thấy số hộ dân của xã sống bằng nghề nông nghiệp còn khá cao;
tuy nhiên diện tích bình quân cho 1 lao động nông nghiệp lại không cao.
Điều đó cho thấy diện tích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Lộc Bổn
13
còn nhỏ lẽ, manh mún; đồng thời đây là xã có hương đô thị hoá nhanh nên
việc phát triển kinh tế của xã theo hướng đẩy mạnh tỷ trọng các ngành tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ, giảm dân tỷ trọng nông nghiệp là hoàn toàn phù
hợp và đúng hướng.
1.1.2.2. Lao động:
Theo số liệu điều tra tháng… toàn xã có 6949 người trong độ tuổi lao
động, chiếm tỷ lệ 47,23% dân số toàn xã.
trong đó:
- Lao động làm việc trong lĩnh vực nông , lâm ngiệp 3.075 người,
chiếm tỷ lệ 44.36 % lực lượng lao động của xã.
- Lao động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp ( dịch vụ thương
mại,công nhân viên chức, vận tải, khu công nghiệp) 3.874 Chiếm 55.74 %
(Lao động sang Lào 1.000 người),

trồng gồm: cây hành năm như đất trồng lúa 467,6ha (thực tế làm lúa
399,65ha; còn lại chuyển sang trồng các loại cây rau màu hoặc chuyển đổi
nuôi cá). Cây lâu năm, cây ăn quả: 193,94ha; cây lâm nghiệp (trồng rừng)
1640,77ha; cây công nghiệp như cây cao su 176ha. Ngoài ra có các mô hình
trồng cây cảnh và đang thực hiện mô hình trồng rau an toàn.
Tổng số hộ nghèo (mức thu nhập dưới 400.000đ/tháng/người) hiện có
357 hộ (tại thời điểm điều tra có 357/2719 hộ) chiếm tỷ lệ 13,12%.
Cơ cấu lao động: Khảo sát, thống kê tổng số lao động trong độ tuổi
của xã 6949 người, chiếm tỷ lệ 47,23%. Trong đó lao động có việc làm ổn
định khoảng 6500 người, lao động thiếu việc làm hoặc thất nghiệp khoảng
154 người, còn lại đang đi học.
Cơ cấu lao động làm việc (%) theo các lĩnh vực Nông nghiệp -
TTCN,xây dựng -thương mại, dịch vụ, vận tải được tính theo tỷ lệ tương
ứng: 44,26% - 25,35% - 24,87%.
15
-Lao động phân theo trình độ chuyên môn: trong 6949 người lao
động, chỉ có khoảng 1.184 Người lao động đã qua đào tạo chuyên môn,
-Trong nhiều năm qua, để nâng cao đời sống cho người lao động được
Đảng bộ, chính quyền xã rất quan tâm, thông qua các nguồn vốn vay tín
dụng, ưu đãi của các hội đoàn thể để giải quyết công ăn việc làm cho nhiều
người dân. Số vốn vay hàng năm bình quân hơn 2 tỷ đồng.
- Địa bàn xã có 2 Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp, cơ cấu
gồm 17 đội sản xuất và 25 tổ chuyên môn với 1552 hộ xã viên nông nghiệp
và hơn 1950 lao động hoạt động có hiệu quả. Có 14 doanh nghiệp tư nhân
hoạt động bằng các hình thức như xây dựng, vận tải, nông lâm kết hợp và
các dịch vụ khác ….
Có 2 trang trại VACR, nuôi heo kết hợp nuôi cá, làm vườn và trồng
rừng, với diện tích mỗi trang trại từ 6-10 ha. Hiện có 4 trang trại nông lâm
kết hợp với diện tích mỗi trang trại từ 80 đến 150 ha. Hàng năm giải quyết
được công ăn việc làm cho nhiều người lao động lúc nhà rỗi. Đặc biệt là mô

sinh hoạt chủ yếu bằng nguồn nước song Nong và giếng đào và giếng khoan.
Từ năm 2005 được nhà nước đầu tư hệ thống nước sạch từ khu công nghiệp
Phú Bài thì nhân dân phần nhiều đã sử dụng nước máy, một số hộ sử dụ
Công tác thu gom, xử lý rác thải hết sức khó khăn, do không có xe
vận chuyển đi gom rác, ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao,
còn vức rác bừa bãi, đặc biệt là khu vực Chợ Nong. Hiện nay Sông Nong là
đoạn cuối của dòng chảy từ Hồ chứa Truồi đỗ về, tuyến kênh này băng qua
các xã Lộc Hòa, Lộc An, Lộc Sơn do đó khối lượng rác trôi về Sông Nong
rất lớn gây ô nhiễm nặng.
17
Một số hộ làm chuồng trại chăn nuôi chưa hợp vệ sinh; rãnh thoát
nước và hố xử lý nước thải trong thôn, xóm chưa được quan tâm….
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh chiếm 90%, trong đó hộ sủ dụng
nước máy 1745 hộ chiếm tỷ lệ 64,2%; sử dụng nước giếng đào hoặc giếng
khoan chiến khoảng 28,8%.
Tỷ lệ hộ có 3 công trình hợp vệ sinh chiếm 35,1% (hấu hết là ở Bến Ván)
Tỷ lệ hộ chăn nuôi hợp vệ sinh ước tính: 56,25%
Đất nghĩa trang: Trên địa bàn xã có quy hoạch 3 khu vực nghĩa trang,
đã ban hành Nội quy bảo vệ. Tuy nhiên vấn đề chôn cất mồ mã vẫn chưa đi
vào nề nếp, đa phần là người dân tự ý chôn cất.
- Hệ thống tổ chức chính trị xã hội
Hệ thống chính trị xã, gồm: Một Đảng bộ có 14 chi bộ trực thuộc, với
120 đảng viên.Trong đó có 1 Chi bộ quân sự, 8 chi bộ thôn, 5 chi bộ trường
học. Kết quả đánh giá, phân loại Đảng bộ, chính quyền của xã trong 3 năm
gần nhất: Đảng bộ trong sạch vững mạnh nhiều năm liền; chính quyền và
các đoàn thể luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Uỷ ban nhân dân xã: Thực hiện mô hình “Một cửa” liên thông về cải
cách hành chính, hoạt động có nề nếp. Trình độ cán bộ, công chức không
ngừng được nâng cao. Gồm 37 người, trong đó cán bộ chuyên trách 12 người,
công chức 8 người, không chuyên trách và hợp đồng 17 người. Trong đó:

Xã Lộc Bổn có diện tích đất tương đối lớn, đất có độ phì tự nhiên cao,
khả năng thấm và giữ nước tốt, có nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dào
rất thuận tiện cho phát triển nhiều loại cây trồng đặc biệt là các loại cây công
nghiệp, cây công nghiệp ngắn ngày, cây lâm nghiệp, cây thực phẩm, màu …
thuận tiện cho phát triển chăn nuôi thủy sản.
19
Về văn hóa, là xã có điều kiện để nâng cao trình độ dân trí, luôn quan
tâm để phục hồi những truyền thống văn hóa, xây dựng lại các cơ sơ văn hóa
của làng, họ tộc.
Về xã hội, là xã có truyền thống cách mạng, được Nhà nước phong tặng
Anh Hùng lực lượng vũ trang, có hệ thống chính trị vững mạnh, an ninh nông
thôn khá tốt. Có đủ điều kiện để khai thác các tiềm năng lợi thế của địa phương.
Lực lượng lao động dồi dào, nhân dân có truyền thống cần cù chịu
khó trong lao động, sản xuất, tinh thần tự lực, tự cường cao.
1.1.4.2. Khó khăn
Điều kiện tự nhiên cũng còn nhiều bất lợi: địa hình phức tạp, thời tiết,
khí hậu khắc nghiệt ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất trồng trọt và chăn nuôi.
Mật độ dân số đông, lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
còn nhiều và thiếu đất sản suất, thiếu công ăn việc làm….
Trình độ dân trí không đồng đều, chưa dám mạnh dạn đầu tư vào một số
mô hình kinh tế có hiệu quả và khá thích hợp với địa phương vào mở rộng sản
xuất nên việc phát triển kinh tế hiện tại và trong tương lai còn gặp nhiều hạn chế.
1.1.5.Những đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến
vấn đề bình đẳng giới trong gia đình
Ảnh hưởng tích cực:
- Đối với vùng nông thôn xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh, Thừa
Thiên Huế nói chung cũng như thôn Thuận Hóa nói riêng là một vùng sống
chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nhưng cũng chuyển biến tích cực về
cách nhìn nhận sự phân công lao động theo giới giữa nam giới và nữ. Với hệ
thống sông ngòi nhiều giúp cho việc sản xuất lúa, và các loại cây trồng khác

cập đến các qui tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá
nhân. Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật
học và có thể thay đổi theo thời gian, theo các xã hội và các vùng địa lý khác
nhau. Khi sinh ra chúng ta không mang theo những đặc tính giới mà chúng
ta học được những đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của
chúng ta ( Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý, 2007).
1.2.2. Vai trò giới
Vai trò giới là những công việc và hoạt động cụ thể mà nam giới và
phụ nữ thực tế đang làm, thông thưòng đây cũng chính là công việc mà xã
hội trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hoặc đàn bà ( Đỗ Thị
Bình – Trần Vân Anh, 2007).
Theo quan niêm cá nhân em: Vai trò giới là chức năng mà mỗi con
người đang đảm nhận, thông qua những hành vi được thiêt lập một cách
khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội, của gia đình đối với nam và nữ để
thực hiện quyền và nghĩa vụ tương ứng với vị thế của họ trong gia đình và
ngoài xã hội. Vai trò của giới khác nhau theo từng môi trường và thay đổi
theo thời gian và phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của xã hội.
1.2.3. Nhu cầu giới
Nhu cầu giới là nhu cầu mà mỗi người có nguyện vọng, yêu cầu được
đáp ứng để thực hiện tốt vai trò của mình. Nhu cầu của nam khác nhu cầu
của nữ và do nhiều yếu tố khác nhau tạo thành. Nhu cầu nảy sinh từ đời sống
hằng ngày và thường góp phần củng cố phân công lao động theo giới ( Theo
Caroline Moer, 1996).
22
Nhu cầu giới chia làm 2 loại: Nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giới
chiến lược.
+ Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu có liên quan đến cải thiện
điều kiện sống hiện tại nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lệ thuộc của phụ nữ
vào nam giới.
+ Nhu cầu giới chiến lược là những nhu cầu giúp cho người phụ nữ

đối ổn định, là một tiểu hệ thống không gian xã hội. Các thành phần cơ bản
của nó đồng nhất với đô thị. Nông thôn và đô thị hợp lại thành chỉnh thể xã
hội và lãnh thổ (không gian) của cơ cấu xã hội”. (V. Staroverov, 1990: 214
T. Nga; Tô Duy Hợp).
Khái niệm khác: Nông thôn còn là khái niệm chỉ những khu vực dân
cư sinh hoạt có hoạt động nông nghiệp. thích ứng với hoạt động nông nghiệp
là một kiểu tổ chức sinh hoạt đặc thù của dân cư.
Theo quan niệm của cá nhân em: Nông thôn là khái niệm chỉ vùng cư
dân sống, sinh hoạt và hoạt động sinh tồn chủ yếu bằng nghề nông ( trồng
lúa nước), cư dân sống tập trung theo đơn vị làng, xã, đoàn kết gắn bó với
nhau trong hoạt động sản xuất.
1.2.6. Bất bình đẳng
Theo tác giả Lê Ngọc Hùng và các cộng sự “Bất bình đẳng là sự
không ngang bằng nhau về các cơ hội hay lợi ích đối với các cá nhân khác
nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội”.
Một số tác giả cho rằng: Bất bình đẳng là khái niệm gắn với vị thế của
mỗi cá nhân để chỉ ra sự khác nhau về mặt quyền lực, uy tín và những đặc
quyền, đặc lợi gắn liền với quyền lực và uy tín ấy.
24
Theo quan niệm của cá nhân em: Bất bình đẳng là sự bất công, sự
không công bằng về quyền lợi, việc ra quyết định, thiếu tiếng nói trong tất cả
các lĩnh vực trong đời sống hằng ngày.
Bất bình đẳng là khái niệm rộng lớn, trong báo cáo này em chỉ giới
hạn ý nghĩa của khái niệm ở việc phân công lao động, tiếp cận nguồn lực và
quyền quyết định của nam giới và nữ giới và những hệ quả nảy sinh từ vấn
đề đó.
1.2.7. Công tác xã hội
Nói đến khái niệm CTXH có rất nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa
khác nhau:
- Công tác xã hội là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status