Niên luận Vai trò của phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước Thực tiễn trên địa bàn thành phố Huế - Pdf 37

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------

NIÊN LUẬN
VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG PHÁP THUYẾT
PHỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP CƯỠNG CHẾ
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC. THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HUẾ

HỌ VÀ TÊN: TRẦN THỊ NHẬT THOA

HUẾ, 06/2016


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------

NIÊN LUẬN
KHÓA 37

VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG PHÁP THUYẾT
PHỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP CƯỠNG CHẾ
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC. THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HUẾ

Giáo viên hướng dẫn:


quan tâm đó thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong Hiến
pháp 2013 (Điều 28). Kế thừa và phát huy quan điểm của V.I. Lênin: nhà nước
vững mạnh bởi ý thức giác ngộ của quần chúng chứ không phải bởi sự tăng
cường đàn áp của bộ máy chuyên chính như quân đội và cảnh sát của nhà nước
đó, Đảng ta đã khái quát thành quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Do đó, bằng hoạt động tuyên
truyền, giáo dục, khơi dậy lòng yêu nước và truyền thống cách mạng của nhân


dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đã giành được
thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống giặc
ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, nhiều chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được nhân dân
tự giác thực hiện.
Như vậy, Thuyết phục có vai trò rất to lớn để nâng cao hiệu quả quản lý hành
chính nhà nước, tăng cường củng cố pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành
chính nhà nước. Nhà nước vững mạnh chính bởi ý thức giác ngộ của quần
chúng chứ không chỉ do tăng cường các biện pháp cưỡng chế, bắt buộc.
Chúng ta mới vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh lâu dài, bước vào xây dựng cuộc
sống mới, cơ chế cũ chưa mất, cơ chế mới chưa hình thành ổn định và phát
triển, đời sống xã hội còn nhiều khó khăn, do đó trong xã hội tồn tại những nhân
tố xã hội chủ nghĩa và cả những nhân tố chưa phải là xã hội chủ nghĩa, còn
nhiều nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật, cộng với ý
thức pháp luật chưa cao trong một bộ phận lớn của dân cư; trình độ, ý thức pháp
luật của cán bộ, công chức nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày
càng cao trong quản lý hành chính nhà nước, vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo
dục pháp luật có tầm quan trọng đặc biệt. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng
trong quản lý hành chính nhà nước và xã hội chỉ cần các biện pháp thuyết phục.
Bởi vì, trong xã hội còn tồn tại tội phạm, vi phạm pháp luật, còn sự chống đối,
phá hoại của các thế lực phản động trong và ngoài nước nhằm phá hoại trật tự

đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại trong việc áp dụng phương pháp
thuyết phục và phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước, từ
đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng hai
phương pháp này.


2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có những nhiệm vụ căn bản sau:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò về phương pháp thuyết phục và phương
pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước cũng như mối quan hệ của
hai phương pháp này.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc áp dụng phương pháp thuyết phục và
phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước, khảo sát trên thực
tế những kết quả đạt được và những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại và đưa ra
một số kiến nghị về các hạn chế, vướng mắc còn tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả
việc áp dụng hai phương pháp này trên địa bàn thành phố Huế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về phương pháp thuyết phục
và phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước và thực tiễn tại
thành phố Huế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Bài này được nghiên cứu trong phạm vi nội dung của phương pháp thuyết phục
và phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước như khái niệm,
đặc điểm, vai trò, mối quan hệ của hai phương pháp này và thực tiễn tại thành
phố Huế, bên cạnh đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc áp
dụng phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành
chính trên địa bàn thành phố Huế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài niên luận này, em đã vận dụng các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, chủ

1.1.1. Khái niệm phương pháp thuyết phục trong quản lý hành chính nhà
nước
Hiểu một cách thông thường, thuyết phục là làm cho người khác thấy đúng,
thấy hay mà tin và làm theo.
Theo từ điển tiếng Việt: Thuyết phục trong quản lí hành chính nhà nước là làm
cho đối tượng quản lí hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi
nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định.
Như vây, thuyết phục là hoạt động do các chủ thể quản lý hành chính nhà nước
(chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước) tiến hành, thông qua tuyên
truyền, giáo dục, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật, nêu gương nhằm tạo
ra ý thức về lối sống cộng đồng, ý thức pháp luật của mỗi công dân, tạo ra thói
quen sống và làm việc theo pháp luật.
Trong xã hội hiện nay (xã hội chủ nghĩa), lợi ích của chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý về cơ bản là nhất trí, hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể
hiện ý chí và phục vụ lợi ích của nhân dân lao động. Vì vậy, phương pháp quản
lý chủ yếu là phương pháp thuyết phục. Mặt khác, những nhiệm vụ và mục tiêu
của quản lý hành chính nhà nước không thể đạt được nếu thiếu sự ủng hộ rộng
rãi và tích cực của quần chúng. Hoạt động quản lý chỉ có hiệu quả cao trên cơ
sở động viên và tạo điều kiện cho quần chúng tham gia vào giải quyết những
nhiệm vụ đặt ra trước bộ máy hành chính nhà nước. Bộ máy hành chính nhà
nước đảm bảo đưa vào cuộc sống những gì phù hợp với nguyện vọng và đòi hỏi


của nhân dân. Thuyết phục có vai trò rất to lớn để nâng cao hiệu quả quản lý
hành chính nhà nước, tăng cường củng cố pháp chế và kỷ luật trong quản lý
hành chính nhà nước, tăng cường củng cố pháp chế và kỷ luật trong quản lý
hành chính nhà nước. Nhà nước vững mạnh chính bởi ý thức giác ngộ của quần
chúng chứ không chỉ do tăng cường các biện pháp cưỡng chế, bắt buộc. Trong
quản lý hành chính cần phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, các đoàn thể
quần chúng như Mặt trận tổ quốc, tổ dân phố, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội

định đơn phương không được thực hiện một cách tự giác. Nếu không có cưỡng
chế thì kỉ luật nhà nước không được bảo đảm, pháp chế không được tôn trọng,
tạo điều kiện thuận lợi cho các tệ nạn xã hội phát triển, cho kẻ thù giai cấp, kẻ
thù dân tộc hoạt động chống phá nhà nước. Cưỡng chế nhà nước xã hội chủ
nghĩa là cưỡng chế của đa số đối với thiểu số và được áp dụng trong giới hạn do
pháp luật quy định một cách chặt chẽ. Đó là bạo lực dựa trên cơ sở pháp luật,
vừa bảo đảm việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, kỉ luật nhà nước đồng thời
vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của công dân, cơ quan tổ chức có liên quan.
Ví dụ: Cảnh sát giao thông phát hiện anh A tham gia điều khiển phương tiện
giao thông có hành vi vi phạm an toàn giao thông (vượt đèn đỏ). Chiến sĩ cảnh
sát giao thông sẽ thực hiện việc đình chỉnh hành vi vi phạm của anh A. Đây
được xem là biểu hiện của phương pháp cưỡng chế.
1.2.

Đặc điểm của phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế

trong quản lý hành chính nhà nước
1.2.1. Đặc điểm của phương pháp thuyết phục trong quản lý hành chính nhà
-

nước
Phương pháp thuyết phục được sử dụng phổ biến. Vì đây là phương pháp
ít tốn kém, phương pháp ít tổn hại hoặc không gây tổn hại đến đối tượng
quản lý, là phương pháp làm đối tượng quản lý nhận ra được những sai
lầm của hành vi mà mình thực hiện và tự giác chấp hành nghiêm chỉnh


pháp luật, làm cho chủ thể và đối tượng gần nhau, tạo sự đồng thuận và
-


lý hành chính nhà nước, mà trong tất cả hoạt động của mình, phương
pháp chủ yếu được các chủ thể quản lý nhà nước sử dụng là phương pháp
thuyết phục.
+ Do những hiệu quả chủa phương pháp thuyết phục mang lại trong hoạt
động quản lý hành chính nhà nước:
Qua thực tiễn của quản lý hành chính nhà nước, chúng ta thấy những
nhiệm vụ và mục tiêu của quản lý hành chính nhà nước chỉ có thể thực
hiện được thông qua ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân.


Bởi vì sự tự giác thực hiện bao giờ cũng mang lại hiệu quả tốt hơn so với
sự cưỡng chế, bắt buộc phải thực hiện.
1.2.2. Đặc điểm của phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà
nước
- Cưỡng chế hành chính là một dạng của cưỡng chế nhà nước
Cưỡng chế nhà nước bao gồm 4 loại: cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân sự,
cưỡng chế hành chính, cưỡng chế kỷ luật. Giữa chúng có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau nhưng cũng có sự khác nhau về cơ sở áp dụng, bản chất pháp
lý, chủ thể có thẩm quyền áp dụng, trình tự- thủ tục áp dụng, mức độ nguy
hiểm của hành vi, hậu quả pháp lý... Để bảo vệ trật tự, kỷ cương trong quản
lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cần phải nhận thức rõ
mối quan hệ của cưỡng chế hành chính với các loại cưỡng chế nhà nước
khác.
- Cưỡng chế hành chính chủ yếu do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền áp dụng theo quy định của pháp luật.
Không phải bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào cũng có thẩm quyền áp
dụng cưỡng chế hành chính. Chỉ những cơ quan quản lý nhà nước được văn
bản pháp luật quy định có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế hành chính mới
được áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính.
Ví dụ: Thanh tra Chính Phủ, Thanh tra nhà nước theo cấp hành chính, hải

chỉ có quan hệ kiểm tra, giám sát. Ví dụ: Công dân Nguyễn Văn A đi vào
đường ngược chiều bị cảnh sát giao thông đang thi hành công vụ xử phạt
tiền 200.000 đồng.
Mặt khác, cưỡng chế hành chính và cưỡng chế kỷ luật còn khác nhau ở
phạm vi áp dụng, mục đích áp dụng, biện pháp áp dụng, thủ tục áp dụng...
- Mục đích của cưỡng chế hành chính là để phòng ngừa, ngăn ngừa vi phạm
pháp luật hành chính; trừng phạt người vi phạm theo trình tự xử lý hành
chính; đảm bảo trật tự trong các trường hợp khẩn cấp khi chưa xảy ra vi
phạm; những trường hợp cần thiết vì lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng.
Cưỡng chế hành chính không chỉ nhằm đảm bảo thực hiện, bảo vệ các quy
phạm vật chất hành chính mà còn đảm bảo thực hiện và bảo vệ các quy
phạm vật chất của ngành luật khác như luật đất đai, luật dân sự...


- Cưỡng chế hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính, do Luật
hành chính quy định. Vì vậy, thủ tục này đơn giản hơn so với thủ tục áp
dụng cưỡng chế hình sự và cưỡng chế dân sự. Tuy nhiên, với sự thành lập
và đi vào hoạt động của Toà hành chính thì trong nhiều trường hợp Toà án
cũng được áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính.
1.3. Vai trò của phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế
trong quản lý hành chính nhà nước
1.3.1. Vai trò của phương pháp thuyết phục trong quản lý hành chính nhà
nước
Phương pháp thuyết phục do chủ thể quản lí hành chính nhà nước sử dụng để
tác động lên đối tượng quản lí nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình.
Phương phát thuyết phục giáo dục cảm hoá là một trong những phương pháp
quản lý quan trọng nhất đem lại hiệu quả cao nhất. Phương phát này thể hiện
tính ưu việt của chế độ Xã hội chủ nghĩa, thể hiện truyền thống nhân đạo của
dân tộc ta. Bản chất của phương pháp thuyết phục là làm cho đối tượng quản lí
hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất

số người dân vẫn còn một số bộ phận người dân có ý thức chấp hành pháp luật
kém, vẫn không tự giác chấp hành các quy định của pháp luật. Nếu không có
cưỡng chế thì kỉ luật nhà nước không được bảo đảm, pháp chế không được tôn
trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tệ nạn xã hội phát triển, cho kẻ thù giai
cấp, kẻ thù dân tộc hoạt động chống phá nhà nước. Cưỡng chế là bạo lực dựa
trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, kỉ luật
nhà nước, đồng thời ừa đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân, cơ quan, tổ
chức có liên quan. Biện pháp cưỡng chế được sử dụng ở những trường hợp cần
thiết, khi phương pháp thuyết phục không đạt lại hiệu quả như mong đợi.
Cưỡng chế có một phần vai trò trong việc răn đe các đối tượng quản lí khác, để
họ thấy được sự nghiêm minh của pháp luật. Các loại cưỡng chế nhà nước đều
nhằm tới các đội tượng có hành vi vi phạm pháp luật, như cưỡng chế hình sự
đối với người có hành vi phạm tội hoặc bị tình nghi phạm tội; cưỡng chế dân sự
đối với người có hành vi vi phạm dân sự, gây thiệt hại cho nhà nước, công


dân…; cưỡng chế kỉ luật có đối tượng là những cá nhân, tổ chức có hành vi vi
phạm kỉ luật nhà nước; và cưỡng chế hành chính áo dụng cho các đối tượng cá
nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm hành chính.
Cưỡng chế hành chính là phương pháp được pháp luật quy định rất chặt chẽ về
thẩm quyền áp dụng, về cấc trường hợp được phép áp dụng, về các biện pháp cụ
thể để cưỡng chế trong từng trường hợp cụ thể, về thủ tục cưỡng chế trong từng
trường hợp. Nguyên nhân của việc quy định rất chặt chẽ là do: thứ nhất, đây là
phương pháp sử dụng quyền lực nhà nước rõ nét cho nên cần thiết phải có quy
định chặt chẽ để tránh tình trạng lạm quyền; thứ hai, phương pháp này có thể
dẫn đến oan sai cho nên cần có quy định chặt chẽ để tránh tình trạng oan sai.
1.4.

Mối quan hệ giữa phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng
chế trong quản lý hành chính nhà nước

buộc.
Thứ hai: Để thi hành quyết định quản lí nào đó có thể sử dụng những
phương tiện cưỡng chế nhưng trên thực tế, không phải lúc nào người ta
cũng sử dụng những phương tiện cưỡng chế để thi hành một quyết định
hành chính tương ứng nào đó. Việc sử dụng phương tiện cưỡng chế
không có ý nghĩa khi có khả năng đảm bảo thực hiện quyết định thông
qua thuyết phục. Do đó, không thể chỉ áp dụng riêng mỗi biện pháp

-

cưỡng chế trong việc thi hành một quyết định quản lí hành chính được.
Thứ ba: Trong thực tế, chúng ta cũng thấy rằng, phương pháp thuyết phục
và cưỡng chế không thể hiện một cách độc lập mà bổ sung cho nhau.
Việc đưa ra những quyết định bắt buộc thường đi liền với công tác giải
thích, hướng dẫn, vận động; nếu công tác vận đông, giải thích, hướng dẫn
không đạt được kết quả thì lúc đó mới cần đến các biện pháp mang tính
bắt buộc, cưỡng chế; do đó cũng không thể chỉ áp dụng mỗi phương pháp
thuyết phục khi đối tượng quản lí không có ý thức tự giác thực hiện hay

-

không thể thuyết phục được nữa.
Thứ tư: Trong trường hợp những đối tượng có liên quan tự giác thực hiện
quyết định đơn phương của chủ thể quản lí hành chính nhà nước thì lúc
đó việc bắt buộc thực hiện quyết định này hay quyết định khác cũng
không có ý nghĩa khi không có đối tượng để cưỡng chế. Nghĩa là quyết
định hành chính nhà nước trong trường hợp này không còn phải đảm bảo
bằng cưỡng chế. Cho nên, cả hai biện pháp thuyết phục và cưỡng chế có



những năm qua đã chỉ rõ những sai lầm duy ý chí trong lĩnh vực quản lí


king tế, tư tưởng nóng vội trong việc xóa bỏ các thành phần kinh tế bằng
các biện pháp hành chính, cũng như quá chú ý đến phương thức quản lí
nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính; không đánh giá đầy đủ, khách
quan, coi nhẹ các biện pháp khuyến khích kinh tế và sử dụng các đòn bẩy
kinh tế đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, xáo trộn nền kinh tế Quốc
dân, làm suy yếu sức sản xuất, gây ra những tiêu cực trong xã hội, dẫn tới
khủng hoảng kinh tế. Trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước, việc áp
dụng cưỡng chế cũng chưa đủ đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của công
dân trước pháp luật. Một số cán bộ công chức nhà nước vi phạm pháp
luật, thoái hóa, biến chất, tham nhũng vẫn chưa được xử lý nghiêm minh
đúng pháp luật. Điều đó gây ảnh hưởng xấu đến kỷ cương xã hội nói
chung, pháp chế kỷ luật trong quản lí hành chính nhà nước nói riêng. Tuy
nhiên, sự kết hợp giữa thuyết phục và cưỡng chế trong quản lí hành chính
nhà nước theo phương châm lấy thuyết phục là chính thì cũng không loại
trừ khả năng tăng mức xử phạt hành chính, mức hình phạt đối với một số
vi phạm pháp luật cụ thể trong một giai đoạn nhất định. Tùy theo hoàn
cảnh kinh tế - xã hội mà nhà nước xét thấy cần tăng nặng mức độ cưỡng
chế nhằm thiết lập lại kỷ cương chung. Việc kết hợp giữa thuyết phục và
cưỡng chế phải được dựa trên những hoàn cảnh xã hội cụ thể. Tách rời
khỏi những điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế, phong tục, tập quán,…sẽ
không bỏa đảm tính hợp lí của sự kết hợp đó, sẽ không mang lại kết quả
theo mong muốn.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng phương pháp thuyết phục và
phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước.
Thuyết phục có vai trò rất to lớn để nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà
nước, tăng cường củng cố pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà
nước. Nhà nước vững mạnh chính bởi ý thức giác ngộ của quần chúng chứ


làm ảnh hưởng đến nhận thức, chưa thuyết phục với người dân. Khi áp dụn
phương pháp thuyết phục nhiều lúc còn mang tính cửa quyền, áp đặt. Phương
pháp thuyết phục là phương pháp được ưu tiên áp dụng nhưng khi áp dụng vẫn
còn một số điểm hạn chế. Hiệu quả của thuyết phục chưa cao dẫn đến việc áp
dụng phương pháp cưỡng chế là điều không tránh khỏi.
Việc áp dụng cưỡng chế chưa được đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng của
công dân trước pháp luật. Một số cán bộ, công chức nhà nước vi phạm pháp
luật. Một số cán bộ công chức nhà nước vi phạm pháp luật, thoái hóa, biến chất,
tham nhũng vẫn chưa được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Các chế tài được ban hành để áp dụng vẫn còn mang tính chung chung, không
rõ ràng.
Khi áp dụng cưỡng chế thì lại không thông báo cho đối tượng bị cưỡng chế
được rõ, dẫn đến lạm quyền gây bức xúc cho họ.
Quản lý hành chính nhà nước là quản lý theo chiều dọc, tức là cấp trên quản lý
cấp dưới. Việc phổ biến để cấp dưới phục tùng và nghe theo những mệnh lệnh
cấp trên phải trải qua nhiều giai đoạn. Nhiều khi mệnh lệnh đó một thời gian dài
mới đến được các cấp.


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ
PHƯƠNG PHÁP CƯỠNG CHẾ TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ
Trong quản lý hành chính chúng ta thường bắt gặp và dễ dàng nhận thấy việc áp
dụng phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế là hết sức phổ biến.
Đặc biệt trong đời sống xã hội nước ta hiện nay, loại vi phạm pháp luật hành
chính xảy ra khá phổ biến. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành
chính thấp hơn so với vi phạm pháp luật dạng tội phạm, nhưng hành vi gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, cá nhân cũng
như lợi ích chung cuat toàn xã hội đang diễn biến hết sức phức tạp. Vì vậy công



phục của cơ quan các cấp, đội mũ bảo hiểm không còn là vấn đề xa lạ của
người tham gia giao thông và chấp hành một cách nghiêm túc.
Ngoài ra hiệu quả do phương pháp thuyết phục mang lại còn được thể hiện ở
chỗ, khi người dân đã nhận thức được sự cần thiết phải thực hiện các quy định
của pháp luật thì họ không chỉ tự giác chấp hành mà còn tham gia tích cực vào
các công tác của quản lý hành chính nhà nước, sáng tạo ra những cách làm hay,
mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.
Chúng ta thấy rằng cưỡng chế nhà nước có vai trò rất quan trọng để đảm bảo
pháp chế và kỷ luật nhà nước. Bởi vì đất nước ta trong giai đoạn hiện nay vẫn
còn tội phạm và vi phạm pháp luật, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách
chống phá trật tự quản lý hành chính nhà nước của nước ta . Bên cạnh đó vẫn
còn bộ phận người dân chấp hành pháp luật kém, vẫn không tự giác chấp hành
các quy định của pháp luật. Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý hành chính,
phương pháp cưỡng chế đã hạn chế trường hợp trên góp phần đảm bảo trật tự xã
hội. Sự tồn tại khách quan của cưỡng chế nhà nước đòi hỏi phải có một hệ thống
các cơ quan chức năng để thực hiện các biện pháp cưỡng chế. Đó là các cơ quan
xét xử, các viện kiểm sát.
Trong thực tiễn quản lý, đôi khi phát sinh những sự kiện pháp lý hoặc những
tình huống bất ngờ đòi hỏi các cơ quan quản lý hành chính nhà nước cần có
những biện pháp khẩn cấp để khắc phục hậu quả, ngăn chặn những khả năng vi
phạm pháp luật, hoặc khôi phục lại những thiệt hại xảy ra. Vì mục đích đó, các
cơ quan hành chính nhà nước được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để
đảm bảo thiết lập lại trật tự và xử lý các tình huống bất ngờ đã xảy ra. Theo quy
định của pháp Luật hành chính chúng được coi là những biện pháp cưỡng chế
hành chính. Ví dụ, khi có thiên tai, bão lụt, hoả hoạn, dịch bệnh, các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền (công an, Uỷ ban nhân dân) có quyền yêu cầu công



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status