Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh - Pdf 15

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
TW Trung ương
TP Thành phố
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
TC-KH Tài chính Kế hoạch
CNH & HĐH Công nghiệp hóa và hiện đại hóa
GPMB Giải phóng mặt bằng
GTGT Giá trị gia tăng
GTSX Giá trị sản xuất
KHCB Khấu hao cơ bản
NSNN Ngân sách nhà nước
NSĐP Ngân sách địa phương
NSX Ngân sách xã
NS Ngân sách
QLNS Quản lý ngân sách
QLNSNN Quản lý ngân sách nhà nước
NXB Nhà xuất bản
PTNT Phát triển nông thôn
SHNN Sở hữu nhà nước
SXKD Sản xuất kinh doanh
PTCS Phổ thông cơ sở
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
XDCB Xây dụng cơ bản
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XNQD Xí nghiệp quốc doanh
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii

đáp ứng được những yêu cầu chi thiết yếu của bộ máy quản lý nhà nước, sự nghiệp
kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng mà còn dành phần đáng kể cho đầu
tư phát triển.
1
Tuy nhiên, công tác QLNS của thành phố nhất là QLNS cấp xã trên địa bàn
Thành phố vẫn còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế trong khâu tổ chức lập, phân bổ dự
toán, chấp hành và quyết toán NSNN. Nhiều nội dung chi tiêu ngân sách còn sai chế
độ, lãng phí; trình độ quản lý tài chính của các xã, phường hạn chế dẫn đến nhiều
sai sót; mặt khác do còn mang nặng tư tưởng bao cấp của cơ chế "xin - cho" nên
chưa thực sự chủ động trong quản lý chi tiêu tài chính, chưa phát huy được hiệu quả
khi sử dụng NSNN. Việc phân cấp QLNS còn nhiều bất cập… Để góp phần hoàn
thiện hơn nữa Luật NSNN nói chung và công tác QLNS trên địa bàn Thành phố
Cẩm Phả đặc biệt là tại các xã, phường nói riêng, chúng tôi chọn đề tài: “Giải pháp
hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn Thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh’’ để nghiên cứu, làm sáng tỏ những những vấn đề đã
đạt được và những tồn tại, hạn chế được của công tác QLNS cấp xã cả về phương
diện pháp lý liên quan đến công tác chỉ đạo điều hành, từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ
đổi mới, nâng cao hiệu quả của NSNN trong phát triển kinh tế - xã hội theo những
mục tiêu đã đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý NSNN nói chung và quản lý NSNN cấp xã nói riêng đã và đang
được rất nhiều nhà quản lý kinh tế nghiên cứu. Có một số công trình nghiên cứu đã
công bố liên quan đến quản lý NSNN như:
- Tào Hữu Phùng và Nguyễn Công Nghiệp (1992), Tác phẩm "Đổi mới ngân
sách nhà nước", NXB Thống kê, Hà Nội.
- Dương Đức Quân (2005), Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị - Quốc gia
Hồ Chí Minh.
- Trần Văn Lâm (2006), Giải pháp tăng cường quản lý ngân sách địa

- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiện của Thành
phố Cẩm Phả trong thời gian tới.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là thực trạng công tác quản lý NSNN ở
cấp xã trên địa bàn TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo Luật NSNN năm 2002.
Phạm vi nghiên cứu trong luận văn chỉ giới hạn ở việc QLNS của TP Cẩm
Phả đối với các xã, phường thuộc thành phố, bao gồm cả nội dung quản lý ngân
sách của các xã, phường trong thành phố.
Thời gian khảo sát thực trạng quản lý NSNN cấp xã trên địa bàn Thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giới hạn trong giai đoạn 2010 - 2012 và đề xuất định
hướng, giải pháp cho giai đoạn 2013 - 2015.
5. Đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá có hệ thống về tiềm năng, thế mạnh cũng như thực trạng công tác
quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn Thành phố Cẩm Phả.
- Rút ra 5 thành công, 3 nhóm với 12 hạn chế và 02 nhóm nguyên nhân hạn
chế trong quản lý NSNN cấp xã ở Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh từ năm
2010 tới nay.
- Đề xuất 11 nhóm giải pháp, 2 nhóm kiến nghị điều kiện nhằm hoàn thiện
quản lý NSNN cấp xã phù hợp với điều kiện của Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng
Ninh đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Luận văn là tài liệu tham khảo hữu
ích cho các nhà hoạch định chính sách ở Tỉnh, Thành phố và tài liệu nghiên cứu cho
học sinh, sinh viên.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách nhà nước cấp xã.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước cấp xã ở TP Cẩm Phả.
Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên
địa bàn Thành phố Cẩm Phả.

NSNN hiện nay. NSX là một bộ phận của NSNN, là ngân sách của chính quyền cấp
5
cơ sở do UBND xã xây dựng, tổ chức quản lý và thực hiện dưới sự giám sát của
HĐND xã. NSX được xây dựng từ các nguồn thu, được phân cấp và các nội dung
chi để thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã.
Theo Luật NSNN (2002): “NSX là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền nhà nước
cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước cấp cơ sở
trong khuôn khổ đã được phân công, phân cấp quản lý”.
1.1.1.3. Phân cấp quản lý NSNN
Ngân sách nhà nước là một hệ thống bao gồm các cấp ngân sách phù hợp với
hệ thống chính quyền nhà nước các cấp. Do bộ máy nhà nước được thiết lập theo
nhiều hình thức khác nhau nên ngân sách nhà nước cũng được tổ chức cho phù hợp.
Thông thường, hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp
và mỗi cấp đều được phân giao những nhiệm vụ nhất định. Để thực hiện những
nhiệm vụ đó, mỗi cấp lại được phân giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự, kinh
tế, hành chính và ngân sách. Việc hình thành hệ thống ngân sách nhà nước gồm
nhiều cấp thì việc phân cấp ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan. Bởi vì
mỗi cấp ngân sách nhà nước đều có nhiệm vụ thu, chi mang tính độc lập. Trong
việc tổ chức quản lý tài chính nhà nước nếu cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà
nước được thiết lập phù hợp thì tình hình quản lý tài chính và ngân sách nhà nước
sẽ được cải thiện góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền kinh tế xã hội.
Theo tác giả Lê Chi Mai (2006) cho rằng: Phân cấp quản lý NSNN là sự
phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trong việc quản lý, điều
hành NSNN.
Nói đến phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, người ta thường nghĩ ngay
đến việc có bao nhiêu cấp ngân sách và mối quan hệ lẫn nhau giữa các cấp đó như
thế nào. Điều quan tâm tiếp theo là từng cấp được quyền huy động những khoản thu
nào cho riêng cấp mình, những khoản thu đó dùng để đáp ứng những nhiệm vụ chi
nào mà cấp đó phải đảm nhiệm.

trợ cấp thu nhập cho những người có thu nhập thấp hoặc hoàn toàn không có thu
nhập. Một cách khác, Chính phủ có thể sử dụng biện pháp tác động gián tiếp đến
thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo thu nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản
thân, đây là biện pháp tích cực nhất, đồng thời làm tăng thu nhập quốc dân; nói cách
khác, nó làm cho một số người dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính
sách thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với người có thu nhập cao và
ngược lại. Như vậy, vai trò của NSNN là rất lớn. Vấn đề đặt ra là việc tổ chức quy
mô, cơ cấu và quản lý NSNN như thế nào để phát huy được vai trò của nó (Nguyễn
Hữu Tài, 2002).[16]
1.1.2. Hệ thống, phân cấp, năm ngân sách và chu trình NSNN
1.1.2.1. Hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với
nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Tại nước
ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy nhà nước và
vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
theo Hiến pháp. Mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương
tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên
vùng lãnh thổ. Việc hình thành hệ thống chính quyền nhà nước các cấp là một tất
yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi vùng
lãnh thổ của đất nước. Chính sự ra đời của hệ thống chính quyền nhà nước nhiều
cấp đó là tiền đề cần thiết để tổ chức hệ thống NSNN nhiều cấp. Cấp ngân sách
được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền nhà nước, phù hợp với mô hình tổ chức
hệ thống chính quyền nhà nước ta hiện nay, hệ thống NSNN bao gồm ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương:
* Ngân sách trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai
trò chủ đạo trong hệ thống NSNN. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền
trung ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế,
chính trị, xã hội của đất nước. Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầu
8
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trung ương (sự nghiệp văn hoá, sự

- Đảm bảo tính thống nhất của NSNN, nguồn thu và nhiệm vụ chi cho mỗi
cấp chính quyền được ổn định theo luật định.
- Phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp các lĩnh vực khác của
Nhà nước, xác định rõ các mối quan hệ giữa ngân sách cấp trên và ngân sách cấp
dưới, quan hệ giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương.
- Nội dung phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với hiến pháp và luật pháp
quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền,
đảm bảo mỗi cấp ngân sách có các nguồn thu, nhiệm vụ chi, quyền hạn và trách
nhiệm về ngân sách tương xứng nhau.
- Quốc hội là cơ quan quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách Trung
ương, phê chuẩn quyết toán NSNN, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp được chủ
động quyết định dự toán và phân bổ dự toán ngân sách địa phương.
Ngân sách nhà nước
Ngân sách Trung ương
Ngân sách địa phương
NS tỉnh và
thành phố
trực thuộc
Trung
ương
NS huyện,
quận, thị
xã, thành
phố thuộc
tỉnh
NS xã,
phường,
thị trấn
10
* Nội dung phân cấp quản lý NSNN: Đây chính là việc giải quyết các mối

- Giai đoạn 2: Chấp hành NSNN (thực hiện kế hoạch thu, chi)
- Giai đoạn 3: Quyết toán NSNN.
1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách
Theo tác giả Nguyễn Hữu Tài (2002) cho rằng các nhân tố ảnh hưởng chính
đến quản lý ngân sách, gồm:
a. Nhân tố về chế độ quản lý tài chính công: Đó là sự ảnh hưởng của những
văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối hoạt động của các cơ
quan Nhà nước trong quá trình QLNS. Cụ thể là các văn bản quy định phạm vi, đối
tượng thu, chi ngân sách của các cấp chính quyền; quy định, chế định việc phân
công, phân cấp nhiệm vụ QLNS của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội
dung lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền của cơ quan Nhà nước trong quá trình QLNS và sử dụng quỹ ngân sách; quy
định, chế định những nguyên tắc, chế độ, định mức chi tiêu Các văn bản này có
ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả QLNS trên một địa bàn nhất định, do vậy đòi hỏi
Nhà nước phải ban hành những văn bản đúng đắn, phù hợp với thực tế thì công tác
quản lý NSNN mới đạt được hiệu quả.
b. Nhân tố về bộ máy và cán bộ quản lý NSNN: Việc phân định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và cán bộ
quản lý; việc quy định mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận và cán bộ quản lý
thu, chi, giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa cấp trên với cấp dưới trong quá
trình phân công, phân cấp quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý NSNN. Nếu
việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp tỉnh không rõ
ràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm, hoặc lạm dụng quyền hạn
trong việc quản lý NSNN. Nếu bộ máy và cán bộ có năng lực trình độ thấp, đạo đức
bị tha hoá thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý NSNN.
c. Nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và xã hội: Quản lý ngân sách chịu
ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế xã hội và mức thu nhập của người dân trên
12
địa bàn. Khi trình độ phát triển kinh tế xã hội và mức thu nhập bình quân của người
dân tăng thì huy động ngân sách cũng tăng, do đó quản lý NSNN ít phải đối mặt với

a. Bản chất của ngân sách xã: Là hệ thống những mối quan hệ kinh tế nhà
nước và xã hội trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính
nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nước. Các quan hệ kinh tế
này bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa chính quyền cấp xã và các tổ chức, hộ sản xuất,
kinh doanh trên địa bàn; quan hệ giữa NSX với các tổ chức tài chính trung gian với
quỹ tín dụng nhân dân; quan hệ kinh tế giữa ngân sách xã và các tổ chức xã hội;
quan hệ kinh tế giữa ngân sách xã và các hộ gia đình.
b. Đặc điểm của ngân sách xã: Là một bộ phận trong hệ thống NSNN và là
cấp ngân sách của chính quyền cơ sở, ngân sách xã có những đặc điểm sau:
- Hoạt động thu, chi NSX luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của
chính quyền cấp xã và được tổ chức thực hiện trên cơ sở những quy định, luật lệ
thống nhất được Nhà nước ban hành.
- Thu chi NSX gắn với hoạt động của chính quyền cơ sở do vậy NSX là một
cấp ngân sách đặc biệt trong hệ thống NSNN, bởi vì: Với vị trí là một cấp ngân sách
hoàn chỉnh, NSX là toàn bộ dự toán thu, chi ngân sách một năm đã được HĐND xã
quyết định và giám sát thực hiện. Mặt khác do cấp xã là cấp cơ sở, dưới đó không
còn đơn vị dự toán, các đơn vị thụ hưởng ngân sách trực thuộc nên NSX cũng chính
là đơn vị dự toán; Với tư cách là một cấp ngân sách, NSX có chức năng và nhiệm
vụ của một cấp ngân sách; đồng thời với tư cách là một đơn vị dự toán ngân sách,
NSX có nhiệm vụ chấp hành các chính sách, chế độ của Nhà nước trong quá trình
chi ngân sách. Hai tư cách quản lý lại phải thống nhất trong một bộ máy quản lý, vì
vậy nó ảnh hưởng đến nhiều nội dung quản lý NSX như tổ chức bộ máy quản lý,
chế độ kế toán NSX và công khai ngân sách xã (Sử Đình Thành, 2006).
1.1.3.3. Vai trò của ngân sách xã trong hệ thống NSNN và trong đời sống kinh tế xã
hội ở địa phương
a. Với tư cách là một bộ phận của NSNN, NSX có vai trò sau:
- NSX là công cụ huy động các nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chi
tiêu của chính quyền cấp xã. Vai trò của NSX được xác định trên bản chất kinh tế
của Nhà nước.
14

- Lập dự toán NSX, lập phương án phân bổ NSX, điều chỉnh NSX trong
trường hợp cần thiết trình HĐND cấp xã quyết định và báo cáo UBND cấp huyện
và Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện.
- Tổ chức thực hiện dự toán ngân sách đã được HĐND xã phê chuẩn.
- Lập quyết toán NSX hàng năm trình HĐND cấp xã phê chuẩn, báo cáo
UBND cấp huyện và Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện.
- Chỉ đạo Ban tài chính, kế toán xã trong thực hiện chế độ kế toán NSX,
thống kê và tổ chức quản lý tài chính trên địa bàn xã theo quy định.
- Công khai thu, chi ngân sách, chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn đóng
góp của nhân dân theo đúng quy định của quy chế dân chủ ở cơ sở.
1.1.3.5. Nội dung chính của công tác quản lý ngân sách xã
a. Về thu: Nguồn thu ngân sách xã gồm:
- Các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%: Các khoản thu NSX
hưởng 100% là các khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn
tài chính đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư phát triển. Căn cứ vào
nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa
nguồn tại chỗ cân đối cho các khoản thu, chi thường xuyên, khi phân cấp nguồn thu
HĐND cấp tỉnh xem xét dành cho NSX hưởng 100% các khoản thu dưới đây:
+ Thu về xử lý vi phạm hành chính.
+ Thu về phí, lệ phí theo thẩm quyền của xã.
+ Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSX theo quy định.
+ Các khoản thu đóng góp của các tổ chức, các cá nhân cho xã gồm: Các
khoản huy động, vận động đóng góp của tổ chức, cá nhân theo pháp luật quy định;
các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng do HĐND cấp xã quyết định đưa vào NSX quản lý và các khoản đóng góp tự
nguyện khác.
+ Thu về quản lý, sử dụng tài sản công.
+ Viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp cho cấp xã.
16
+ Các khoản thu khác của xã theo quy định của pháp luật.

bàn xã; chi sự nghiệp kiến thiết kinh tế; các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo
quy định của pháp luật.
* Chi đầu tư phát triển: Là khoản chi để sử dụng vào các công việc như xây
dựng, cải tạo đường giao thông, công trình nước sạch, bảo vệ môi trường, các công
trình phúc lợi; chi để xây dựng sửa chữa các công trình văn hoá, thể thao, khu vui
chơi giải trí trên địa bàn xã. Ngoài ra khoản chi này còn được sử dụng để xây dựng,
sửa chữa, cải tạo trụ sở HĐND, UBND.
Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật. Khoản chi
này chủ yếu nhằm phục vụ các chức năng của cơ quan chính quyền ở địa phương
nhằm duy trì và phát triển hoạt động bình thường tại xã.
1.1.3.6. Những nguyên tắc cơ bản về quản lý ngân sách xã
a. Nguyên tắc đầy đủ: Điều 6 Luật ngân sách nhà nước quy định: “Tất cả
các khoản thu, chi của ngân sách Nhà nước phải được hạch toán kế toán, quyết
toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ”. Thực hiện nguyên tắc trên tất cả các khoản thu
chi NSX đều phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách theo đúng Luật NSNN quy
định: Quản lý NSX đảm bảo cho các hoạt động thu, chi đúng chính sách chế độ quy
định, các khoản thu phải đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời và nộp đầy đủ vào ngân
sách nhà nước và hạch toán đúng mục lục ngân sách, đúng chế độ kế toán, đồng
thời khai thác triệt để mọi nguồn thu, bồi dưỡng phát triển các nguồn thu, phát triển
kinh tế xã hội ở xã, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển tạo thêm nhiều nguồn
thu mới cho ngân sách xã. Các khoản chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức,
phải có dự toán được duyệt và được kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước.
b. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Việc sử dụng nguồn lực tài chính phải
tính đến hiệu quả kinh tế xã hội. Tăng cường kỷ luật tài chính, thực hiện tốt kiểm
soát chi một cách đồng bộ từ cơ chế chính sách, dự toán, phân bổ ngân sách đến
việc cấp phát ngân sách. Thực hiện tiết kiệm triệt để trong chi tiêu ngân sách nhất là
trong quản lý hành chính và chi đầu tư XDCB.
c. Nguyên tắc “Nhà nước và nhân dân cùng làm”: Cùng với sự hỗ trợ của
Nhà nước, phải đảm bảo động viên tối đa nguồn lực trong nhân dân để giảm nhẹ
18

19
+ Căn cứ các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu về phí, lệ phí, chế độ tiêu
chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định, các chế độ, chính
sách hiện hành làm cơ sở lập dự toán chi NSNN năm.
+ Căn cứ vào tình hình thực hiện dự toán NSX năm báo cáo và các năm
trước đó để thống kê và phát hiện ra những hiện tượng trong quá trình quản lý thu,
chi NSX thường xuyên xảy ra.
- Trình tự lập dự toán ngân sách xã:
+ Tiếp nhận số kiểm tra và các văn bản hướng dẫn lập dự toán ngân sách do
cơ quan hành chính nhà nước cấp trên giao.
+ Lập dự toán thu ngân sách xã.
+ Lập dự toán chi ngân sách xã.
b. Chấp hành dự toán ngân sách xã
Chấp hành dự toán ngân sách là quá trình sử dụng tổng hoà các biện pháp
kinh tế, tài chính, hành chính biến các chỉ tiêu đã được ghi trong dự toán trở thành
hiện thực. Trước hết phải căn cứ dự toán NSX và phương án phân bổ NSX cả năm
đã được HĐND xã quyết định, UBND xã phân bổ chi tiết dự toán chi NSX theo
mục lục NSNN, gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ thanh toán và
kiểm soát chi.
* Chấp hành thu ngân sách xã
- Tổ chức thu Ngân sách xã theo dự toán được giao theo các bước sau:
+ Ban tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế, đảm bảo thu
đúng, thu đủ và thu kịp thời.
+ Đơn vị, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách, căn cứ vào thông báo thu của
cơ quan thu hoặc của ban tài chính xã, lập giấy nộp tiền đến Kho bạc Nhà nước để
nộp trực tiếp vào NSNN.
- Trường hợp đối tượng phải nộp ngân sách không có điều kiện nộp tiền trực
tiếp vào NSNN tại Kho bạc theo chế độ quy định thì:
+ Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của cơ quan thuế, cơ quan thuế
thu, sau đó lập giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước. Trường hợp cơ quan thuế uỷ

Việc quyết định chi phải theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi trong phạm vi
21
dự toán được phê duyệt và người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
- Việc thực hiện chi ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc:
+ Đã được ghi trong dự toán được giao, trừ trường hợp dự toán và phân bổ
dự toán chưa được cấp có thẩm quyền quyết định và chi từ nguồn tăng thu, nguồn
dự phòng ngân sách.
+ Đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức quy định.
+ Được chủ tịch UBND xã hoặc người uỷ quyền quyết định chi.
c. Kiểm tra, quyết toán ngân sách xã : Quyết toán NSX là
công việc cuối cùng của chu trình quản lý NSX bao gồm: Quyết
toán thu và quyết toán chi ngân sách.
- Hàng năm Ban Tài chính và NSX có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán
thu, chi NSX trình UBND xã xem xét để trình HĐND xã phê chuẩn, đồng thời gửi
Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện; Phòng Tài Chính - Kế hoạch có trách nhiệm
kiểm tra báo cáo quyết toán thu, chi NSX, nếu có sai sót phải báo cáo với UBND
huyện, yêu cầu HĐND xã điều chỉnh.
- Ban Tài chính xã có trách nhiệm thực hiện công tác hạch toán kế toán và
quyết toán NSX theo mục lục NSNN và chế độ kế toán NSX hiện hành (theo
Quyết định số 141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính
về việc ban hành chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã; Quyết định
208/2003/QĐ-BTC ngày 15/12/2003 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính về việc sửa
đổi bổ sung một số điểm chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã ban hành theo
Quyết định 141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001). Thời gian chỉnh lý quyết toán
NSX hết ngày 31/01 năm sau.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước trên thế giới
1.2.1.1. Kinh nghiệm quản lý NSNN của tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc)
Tỉnh Quảng Đông nằm ở phía Đông Nam Trung Quốc, có đường biên giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status