Lời mở đầu
Mời lăm năm trôi qua kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, một quãng
thời gian không dài nhng cũng đã chứng kiến biết bao nhiêu đổi thay của một
nền kinh tế. Thực hiện chủ trơng của Đại hội VI, kinh tế Việt Nam đã chuyển từ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Một chủ trơng đúng đắn đã đa nền kinh tế Việt Nam
vững bớc đi lên và dần dần hoà nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Sản
xuất hàng hoá phát triển, sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều, tốc độ tăng trởng
GDP cao và liên tục trong nhiều năm, đời sống nhân dân ngày càng đợc cải thiện
là những dấu hiệu hết sức tích cực của một nền kinh tế đã có lúc tởng chừng nh
chạm đáy.
Đóng góp vào sự thành công của công cuộc đổi mới nền kinh tế ngày hôm
nay không thể không nói tới sự thành công trong công tác quản lý ngân sách Nhà
nớc các cấp. Ngày 20/3/1996, Luật Ngân sách Nhà nớc đã đợc thông qua và có
hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/1997. Với t cách là một cấp trong hệ thống
ngân sách Nhà nớc, ngân sách phờng ngày càng khẳng định vị trí và tầm quan
trọng của mình. Bằng các công cụ thu và chi, ngân sách phơng đã hỗ trợ đắc lực
cho chính quyền Nhà nớc địa phơng trong việc thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của mình.
Tuy vậy, tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cả về chiều rộng và
chiều sâu đã tác động không nhỏ tới công tác quản lý ngân sách phờng. Sản xuất
hàng hoá ngày càng phát triển, đời sống dân c ngày càng đợc cải thiện và nâng
cao, nguồn thu của ngân sách phờng ngày càng lớn. Yêu cầu đổi mới, vận động
để có thể phù hợp, quản lý hết nguồn thu ngày càng trở nên bức xúc. Mặt khác,
việc quản lý chi tiêu hợp lý, hiệu quả cũng đòi hỏi ngân sách phờng phải đợc
quản lý chặt chẽ hơn. Ngân sách phờng đang đợc đặt trong cơ hội và thách thức
mới.
Nhận thức đợc tính nóng bỏng, sự cần thiết của việc tăng cờng công tác
quản lý ngân sách phờng hiện nay, qua thời gian thực tập ở phòng Tài chính - vật
giá quận Hai Bà Trng, với sự động viên giúp đỡ của các cô các chú ở đơn vị thực
tập cùng với sự hớng dẫn tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Bất, em đã mạnh dạn
Từ cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, phân công lao động xã hội đã bắt đầu
phát triển và làm xuất hiện sự trao đổi hàng hoá, tiền tệ. Cũng vào thời kỳ này,
chế độ t hữu đã xuất hiện làm cho xã hội đợc phân chia làm nhiều giai cấp. Giữa
các giai cấp vốn có mâu thuẫn nên thờng xảy ra xung đột, đấu tranh giai cấp. Từ
đó dẫn đến sự ra đời của Nhà nớc.
Nhà nớc ra đời đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, giai cấp chiếm
u thế trong xã hội. Một Nhà nớc ra đời, trớc hết cần phải có các nguồn tài chính
để chi tiêu cho mục đích bảo vệ sự tồn tại ngày càng vững chắc của mình, đó là
các khoản chi cho bộ máy quản lý nhà nớc, cho cảnh sát và quân đội. Tiếp đó là
nhu cầu chi nhằm thực hiện các chức năng của nhà nớc nh: chi cho văn hoá, giáo
dục, y tế, phúc lợi, đầu t xây dựng
Tất cả các khoản chi trên đều đợc đáp ứng từ các nguồn thu từ thuế và các
hình thức thu khác. Tuy nhiên, trớc đây các khoản thu và chi của nhà nớc luôn
tách rời nhau, mỗi khoản thu thờng đợc cố định cho một mục đích chi. Tất cả các
khoản thu đều không đợc dự toán và không đợc hạch toán.
Những hạn chế trên chỉ có thể đợc giải quyết khi có sự ra đời của ngân sách
Nhà nớc (NSNN). Chính NSNN đã tập hợp và cân đối thu chi của Nhà nớc, bắt
buộc mỗi khoản chi phải theo dự toán, mỗi khoản thu phải theo luật định, chấm
dứt sự tuỳ tiện trong quản lý thu chi của Nhà nớc.
Thoạt nhìn bề ngoài, ta có cảm giác nh NSNN chỉ có hoạt động thu chi, tạo
quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nớc. Đó chỉ là những
biểu hiện bên ngoài của sự vật, muốn hiểu rõ hơn NSNN chúng ta phải đi sâu tìm
hiểu bản chất của nó. Bản chất của NSNN đợc thể hiện ở hai điểm chính:
Thứ nhất: các khoản thu đều mang tính chất cỡng bức (bắt buộc), còn các
khoản chi đều mang tính cấp phát (không hoàn lại trực tiếp).
Thực ra bản chất này xuất phát từ chính sự tồn tại của Nhà nớc. Để thực
hiện các chức năng nhiệm vụ của mình, Nhà nớc cần phải có quỹ tài chính cần
thiết. Các nguồn đóng góp vào quỹ NSNN đều thu từ các tổ chức cá nhân trong
nền kinh tế và đều mang tính bắt buộc. Tính chất bắt buộc ở đây không phải
mang ý nghĩa tiêu cực mà là sự cần thiết. Bởi vì suy cho cùng, Nhà nớc sử dụng
nh sau:
a. NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo cho nhu cầu chi
tiêu của Nhà nớc. Đồng thời NSNN thực hiện cân đối giữa các khoản thu và
khoản chi (bằng tiền) của Nhà nớc. Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà trong cơ
chế nào, thời đại nào NSNN cũng phải thực hiện.
b. NSNN có vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, bình ổn giá cả,
kiềm chế lạm phát.
Vai trò này rất quan trọng bởi lẽ cơ chế thị trờng cần thiết phải có sự điều
chỉnh vĩ mô của Nhà nớc. Song Nhà nớc cũng chỉ có thể thực hiện điều chỉnh
thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo.
Cơ chế thị trờng rất dễ tạo ra các công ty độc quyền, từ đó ảnh hởng tới nền
sản xuất xã hội. Bằng quyền lực của mình, thông qua công cụ ngân sách, Nhà n-
ớc sẽ góp phần hạn chế sự dẫn tới độc quyền. Nhà nớc trợ cấp vốn và các chính
sách u đãi nhằm kích thích các thành phần kinh tế cùng phát triển. NSNN còn
cung cấp nguồn kinh phí để nhà nớc đầu t cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành
các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, để trên cơ sở đó tạo môi trờng và
4
điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác.
Ngoài ra bằng công cụ thuế, NSNN đã góp phần định hớng đầu t, kích thích
hoặc hạn chế sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó giá cả hàng hoá cũng có thể đợc
điều tiết thông qua công cụ ngân sách. Khi giá cả của một loại hàng hoá có biểu
hiện tăng, để tránh đầu cơ tích trữ, Nhà nớc sử dụng ngân sách tung ra hàng hoá
đó trên thị trờng nhằm giảm bớt cơn sốt giá. Ngợc lại khi giá cả của một loại
hàng hoá có biểu hiện đi xuống, Nhà nớc sẽ tiến hành trợ giá cho ngời sản xuất,
mua vào hàng hoá đó để kích thích giá cả hàng hoá đó tăng lên.
Bằng công cụ thuế và chính sách chi tiêu NSNN, Nhà nớc có thể tác động
vào tổng cung, tổng cầu, vào các thị trờng vốn, thị trờng lao động, thị trờng hàng
hoá nhằm duy trì sự vận động hiệu quả của nền kinh tế.
Chống lạm phát cũng là một nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh
sách phải đáp ứng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế, chính phủ liên bang không
có quyền can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của cấp dới.
ở nớc ta, sự hình thành hệ thống NSNN bắt nguồn từ sự hình thành hệ
thống chính quyền Nhà nớc các cấp và quá trình thực hiện phân cấp quản lý kinh
tế - xã hội cho chính quyền các cấp. Tuy vậy, sự hình thành hệ thống NSNN cũng
cần phải đợc tổ chức theo những nguyên tắc nhất định.
a. Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN:
Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nớc. Việc
tổ chức hệ thống NSNN phải phù hợp với tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nớc,
do vậy cũng phải tuân thủ theo những nguyên tắc tổ chức chính quyền Nhà nớc.
- Toàn bộ các khoản thu và chi của ngân sách các địa phơng đều phải coi là
thu chi của NSNN.
- Dự toán ngân sách về quyết toán NSNN phải có sự tham gia đông đảo của
các tầng lớp dân c và các tổ chức kinh tế nhng cuối cùng sẽ phải do cơ quan
quyền lực Nhà nớc cao nhất thông qua, đó là Quốc hội.
Nguyên tắc thống nhất:
Nguyên tắc này chỉ ra rằng, mọi hoạt động về kinh tế, tài chính của một đất
nớc phải đặt dới sự lãnh đạo thống nhất của Nhà nớc, có nh vậy mới đảm bảo sự
hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
- Thống nhất về chế độ chính sách trong toàn hệ thống NSNN.
- Thống nhất về mặt nghiệp vụ trong điều hành và quản lý ngân sách.
- Thống nhất về mặt thời gian: Thời gian cho một năm ngân sách, toàn bộ
hệ thống NSNN phải tuân thủ một thời gian giống nhau.
b. Cơ cấu tổ chức hệ thống NSNN ở nớc ta:
Theo luật NSNN nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành năm 1996, luật
sửa đổi bổ sung đợc Quốc Hội thông qua ngày20/5/1998, hệ thống NSNN đợc
chia làm 4 cấp, hình thành nên 2 bộ phận.
NSNN TW giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để đảm bảo
thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nớc.
thị trấn
NS tỉnh NSTP trực
thuộc TW
NSĐPNSNN TW
NSNN
2.2. Phân cấp quản lý NSNN
2.2.1. Sự cần thiết và tác dụng của phân cấp quản lý NSNN:
Trong việc tổ chức quản lý, phân cấp ngân sách là một trong những vấn đề
phức tạp nhất, đợc bàn luận và tranh cãi nhiều nhất. Có ý kiến cho rằng, chính cơ
chế phân cấp không rõ ràng, triệt để và không dứt khoát là một trong những
nguyên nhân chính gây ra tình trạng rối loạn trong quản lý kinh tế-tài chính của
Nhà nớc. ý kiến trên có thể cha chính xác nhng rõ ràng, nếu cơ chế này đợc thiết
lập phù hợp thì tình hình quản lý tài chính và NSNN chắc chắn sẽ đợc cải thiện,
góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định nền kinh tế xã hội.
Phân cấp ngân sách thực chất là giải quyết tất cả các mối quan hệ giữa các
cấp chính quyền Nhà nớc từ TW tới địa phơng về các vấn đề liên quan đến quản
lý và điều hành NSNN. Phân cấp ngân sách để thống nhất quản lý nền tài chính
quốc gia, xây dng ngân sách lành mạnh, củng cố kỉ luật tài chính, sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà nớc, tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an
ninh và đối ngoại.
Phân cấp quản lý đúng đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phơng tiện tài
chính cho việc duy trì hoạt động của các cấp chính quyền Nhà nớc từ TW tới địa
phơng mà còn tạo điều kiện phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phơng trong
cả nớc. Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá NSNN đợc tốt hơn, điều chỉnh mối
quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng nh mối quan hệ giữa các ngân sách đợc
tốt hơn để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của NSNN. Đồng thời
phân cấp quản lý NSNN còn có tác dụng thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế xã
hội ngày càng phát triển.
Có thể nói phân cấp ngân sách một cách đúng đắn, hợp lý tức là đã giải
Nguyên tắc thứ ba: Phải đảm bảo tính công bằng trong phân cấp ngân sách:
Nhiệm vụ thu, chi giao cho địa phơng phải căn cứ vào yêu cầu cân đối
chung trong cả nớc nhng phải tránh tình trạng một số địa phơng đợc lợi (thu
nhiều, chi ít), một số địa phơng khác bị thiệt thòi (thu ít, chi nhiều). Để thực hiện
tốt nguyên tắc này, cần phải thực hiện tốt các nguyên tắc ở trên, đồng thời phải
kết hợp hài hoà các nguyên tắc với nhau.
Nguyên tắc thứ t: Phân định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp và ổn
định tỉ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu, số thu bổ sung từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dới từ 3 - 5 năm. Hàng năm trong trờng hợp có trợt
giá thì xem xét chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách cấp dới theo một phần trợt
giá.
Kết thúc mỗi kì ổn định, căn cứ vào khả năng thu và yêu cầu chi, Chính
phủ, UBND tỉnh thực hiện việc điều chỉnh tỉ lệ % phân chia các khoản thu giữa
các cấp và mức bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dới.
9
NS
TW
Các
chức
năng
của
NNTW
NSĐP
NSĐP
NSĐP
Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần gắn liền trách nhiệm kinh tế giữa
Nhà nớc với địa phơng, tránh sự chồng chéo, phân chia quyền lợi không hợp lý
giữa TW với địa phơng làm cho hiệu quả kinh tế chung bị giảm sút.
2.2.3. Nội dung phân cấp NSNN:
Quá trình phân định thu chi giữa các cấp ngân sách gắn chặt với quá trình
trớc hết bằng các nguồn tại chỗ.
10
* Chi sự nghiệp kinh tế:
Theo Luật ngân sách, các khoản chi này do ngân sách địa phơng chi theo
đúng chế độ, định mức do TW quy định cho cả nớc.
Đó là các khoản chi:
+ Chi cho sự nghiệp nông, lâm, ng nghiệp.
+ Chi cho sự nghiệp giao thông vận tải.
+ Chi kiến thiết thị chính, công trình công cộng.
+ Chi đo đạc quản lý ruộng đất.
+ Chi quy hoạch, khảo sát tổng thể địa phơng.
+ Chi công tác định canh, định c.
+ Chi đa đón dân đến vùng kinh tế mới.
* Chi về văn hoá, y tế xã hội.
* Chi trợ cấp khó khăn.
* Chi bộ máy quản lý ở địa phơng.
* Chi sắp xếp lao động.
* Chi vốn lu động cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.
- Đối với ngân sách TW:
Về cơ cấu giống nh khoản chi của địa phơng. Song phạm vi mức độ và tính
chất có sự khác nhau. Ngân sách TW đảm bảo các khoản chi hoạt động kinh tế
xã hội do TW quản lý.
II. Quản lý NSNN cấp phờng:
1. Vai trò của NSNN cấp phờng trong hệ thống ngân sách và trong đời
sống kinh tế xã hội ở địa phơng:
1.1. Chính quyền Nhà nớc cấp phờng:
Ngay từ khi mới giành đợc chính quyền, Đảng và Nhà nớc ta đã rất quan
tâm, chú trọng đến hệ thống tổ chức quản lý bộ máy Nhà nớc. Trong hiến pháp
cộng hoà XHCN Việt Nam đã quy định hệ thống tổ chức quản lý bộ máy Nhà n-
ớc bao gồm bốn cấp: Cấp trung ơng - cấp tỉnh - cấp quận (huyện) - cấp phờng
- Thực hiện chế độ và kế hoạch nghĩa vụ quân sự theo đúng pháp luật và kế
hoạch của Nhà nớc.
- Tổ chức công tác văn hoá, thông tin, truyền thanh, giáo dục, y tế, thể dục
thể thao, xây dựng và quản lý các cơ sở phục vụ cho công tác này.
- Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân trong phờng.
- Phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật thuộc quyền hạn đợc giao.
Muốn thực hiện đợc chức năng và nhiệm vụ của mình, chính quyền Nhà n-
ớc cấp phờng phải có phơng tiện tài chính. Ngân sách phờng chính là công cụ
cung cấp phơng tiện vật chất không thể thiếu đợc để đảm bảo cho chính quyền
thực hiện có kế hoạch và có hiệu quả chức năng quản lý hành chính - kinh tế ở
phờng. Đồng thời muốn tăng cờng công tác quản lý ngân sách phờng, chính
quyền Nhà nớc cấp phờng phải phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn
ủa mình.
12
1.2. Ngân sách phờng và vai trò của nó trong hệ thống NSNN và trong
đời sống kinh tế xã hội ở địa phơng
Tổ chức bộ máy Nhà nớc ở mọi quốc gia đều có sự phân công, phân cấp
quản lý kinh tế xã hội cho mỗi cấp quản lý hành chính, nên hệ thống NSNN bao
giờ cũng gồm nhiều cấp khác nhau. Số cấp ngân sách ở mỗi quốc gia nhiều ít
khác nhau là tuỳ thuộc vào việc tổ chức bộ máy quản lý hành chính và sự phân
cấp quản lý kinh tế, tài chính cho mỗi cấp đó. Song bao giờ cũng có cấp ngân
sách gắn liền với quản lý hành chính ở cơ sở và đợc gọi chung là ngân sách ph-
ờng (xã, thị trấn).
Nh vậy, có thể hiểu ngân sách phờng là hệ thống các quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền
Nhà nớc cấp phờng nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nớc
cấp cơ sở trong khuôn khổ đã đợc phân công, phân cấp quản lý.
1.2.1. Vị trí của ngân sách phờng trong hệ thống NSNN:
Trong hệ thống NSNN thì ngân sách phờng đợc gọi là ngân sách cấp cơ sở.
Ngân sách phờng có vị trí rất quan trọng trong hệ thống NSNN vì:
Đối với thu ngân sách phờng:
- Thông qua thu ngân sách phờng mà các nguồn thu đợc tập trung nhằm tạo
lập quỹ ngân sách phờng, đồng thời giúp chính quyền cấp phờng thực hiện việc
kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, dịch vụ và các hoạt
động khác đi đúng hành lang pháp luật.
- Thu ngân sách phờng góp phần thực hiện các chính sách xã hội nh đảm bảo
công bằng giữa những ngời có nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách phờng, đồng thời
có sự trợ giúp cho những đối tợng nộp khi họ gặp khó khăn hoặc thuộc diện u đãi
theo chính sách của Nhà nớc thông qua xét miễn, giảm số thu.
- Thu tiền phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm trật tự an toàn xã hội để đa
ngời dân nghiêm chỉnh thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trớc cộng đồng.
Đối với chi ngân sách phờng:
- Thông qua chi ngân sách phờng mà các hoạt động của Đảng bộ, chính
quyền, các đoàn thể ở phờng đợc duy trì phát triển một cách liên tục và ổn định,
nhờ đó nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nớc ở cơ sở.
- Chi ngân sách phờng góp phần nâng cao dân trí, nâng cao sức khoẻ cho
mọi ngời dân biểu hiện thông qua ngân sách phờng chi cho sự nghiệp giáo dục,
sự nghiệp y tế.
- Chi ngân sách phờng thực hiện chính sách xã hội tại địa bàn mỗi phờng
nh ngân sách phờng chi cứu tế xã hội, chi thăm hỏi, trợ cấp cho gia đình thơng
binh liệt sĩ trong phờng.
Tóm lại muốn nâng cao hiệu lực của các chính sách thu chi NSNN thì cần
thiết phải phát huy tối đa vai trò của ngân sách phờng trong mọi hoạt động của
hệ thống NSNN vì ngân sách phờng có tính đặc thù riêng, nó vừa là một cấp
ngân sách lại vừa là một đơn vị dự toán đặc biệt. Điều này đợc thể hiện rất rõ:
ngân sách phờng là một cấp trong hệ thống NSNN. Ngân sách phờng là đơn vị
dự toán đặc biệt vì dới nó không có đơn vị dự toán trực thuộc nào. Nó vừa phải
tạo nguồn kinh phí thông qua các khoản thu ngân sách phờng đợc phân định, vừa
phải duyệt, cấp, chi trực tiếp và tổng hợp các khoản chi trực tiếp vào ngân sách
phờng luôn. Vì vậy chi tiêu ở phờng có những khoản phải chuẩn chi và thực hiện
địa bàn phờng.
- 20% thuế tiêu thụ đặc biệt thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã
và các dịch vụ kinh doanh vũ trờng, matsa, karaôkê trên địa bàn phờng.
- 70% thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- 50% thuế nhà đất trên địa bàn phờng.
15
c. Thu bổ sung cân đối ngân sách.
2.1.2. Về chi:
Nhiệm vụ chi của ngân sách phờng bao gồm ba phần chính. Đó là:
a. Chi thờng xuyên của ngân sách phờng:
Khoản chi này chủ yếu nhằm phục vụ các chức năng của cơ quan chính
quyền Nhà nớc ở địa phơng nhằm duy trì và phát triển hoạt động bình thờng tại
phờng.
Chi về công tác xã hội.
Chi sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hoá, thông tin, truyền thanh, thể dục thể
thao do phờng quản lý.
Chi bộ máy chính quyền phờng.
Chi hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội. Chi hỗ trợ hoạt động Hội
ngời cao tuổi.
Chi về kinh phí Đảng uỷ phờng cấp theo dự toán đợc duyệt.
Chi công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội.
Các khoản chi khác.
b. Chi đầu t phát triển:
Là khoản chi để sử dụng vào các công việc nh xây dựng, cải tạo đờng giao
thông, công trình nớc sạch, bảo vệ môi trờng, các công trình phúc lợi; chi để xây
dựng sửa chữa các công trình văn hoá, thể thao, khu vui chơi giải trí trên địa bàn
phờng. Ngoài ra khoản chi này còn đợc sử dụng để xây dựng, sửa chữa, cải tạo
trụ sở HĐND và UBND, trụ sở Đảng uỷ và các tổ chức đoàn thể.
2.2. Trình tự lập, xét duyệt và quyết toán ngân sách phờng:
2.2.1. Trình tự lập và căn cứ lập kế hoạch ngân sách phờng;
Dựa vào số kiểm tra mà quận giao, kết hợp với tình hình cụ thể của phờng,
UBND phờng mà trực tiếp là ban tài chính phờng tiến hành lập dự toán ngân
sách phờng mình. Các chỉ tiêu của dự toán ngân sách phờng lập ra tối thiểu phải
bằng số kiểm tra mà quận đã giao đối với ngân sách phờng.
Lập dự toán thu ngân sách phờng:
Dự toán thu ngân sách phải xác định đầy đủ và cụ thể các nguồn thu phờng
đợc hởng 100%; các khoản thu phân chia theo tỉ lệ (%) giữa các cấp ngân sách,
số bổ sung của ngân sách cấp trên.
Lập dự toán chi ngân sách phờng:
Dự toán chi ngân sách phải đợc xây dựng cụ thể, đầy đủ trên cơ sở đúng
chính sách chế độ của Nhà nớc về nội dung thuộc các nhiệm vụ chi thuộc ngân
sách phờng. Tổng mức dự toán chi thờng xuyên ngân sách phờng của các quận
phải phù hợp với định mức chi bình quân do Thành phố quy định.
17
2.2.2. Chấp hành kế hoạch ngân sách phờng:
Chấp hành kế hoạch ngân sách là quá trình sử dụng tổng hoà các biện pháp
kinh tế, tài chính, hành chính biến các chỉ tiêu đã đợc ghi trong dự toán trở thành
hiện thực.
Chấp hành thu ngân sách phờng:
- Tổ chức quản lý thu thuế phát sinh trên địa bàn phờng.
- Tổ chức quản lý các khoản thu ngân sách phờng đợc hởng 100% và do
Ban tài chính phờng trực tiếp thu.
Mọi khoản thu do Ban tài chính phờng thu phải nộp kịp thời vào kho bạc
Nhà nớc để kho bạc Nhà nớc ghi thu cho ngân sách phờng 100% và phản ánh
tăng trên tài khoản quỹ ngân sách phờng tại kho bạc.
- Tổ chức quản lý số thu bổ sung từ ngân sách cấp trên.
Phòng tài chính quận có trách nhiệm phải cấp ngay số thu bổ sung ngân
sách phờng khi phờng yêu cầu để phờng có thể chủ động điều hành ngân sách,
nhng khoản cấp phát đó phải đợc căn cứ từ dự toán cấp bổ sung cho từng phờng
và khả năng cân đối của ngân sách quận.
để trình HĐND phờng phê chuẩn rồi nộp lên phòng tài chính quận.
19
Chơng II
Thực trạng công tác quản lý ngân sách
phờng trên địa bàn Quận Hai Bà Trng trong
những năm gần đây
I. Tình hình kinh tế văn hoá xã hội trên địa bàn
Quận Hai Bà Trng
1. Tình hình kinh tế.
Quận Hai Bà Trng nằm ở phía Đông nam Thành phố Hà Nội, diện tích là
1.464,5 ha, phía Bắc giáp Quận Hoàn kiếm, phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây
giáp Quận Đống Đa, phía Nam giáp Huyện Thanh Trì.
Quận Hai Bà Trng là cửa ngõ phía Đông Nam Hà Nội có tuyến giao thông đ-
ờng bộ (quốc lộ 1), đờng sắt Bắc Nam nối liền Thủ đô với tất cả các tỉnh phía Nam
và đờng sông (sông Hồng và cảng Hà Nội). Trên địa bàn Quận có đờng vành đai 1
và vành đai 2 chạy qua. Vị trí này tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho việc mở rộng
giao lu, mở rộng thị trờng hàng hoá, dịch vụ. Song ở vị trí này cũng gây nên những
khó khăn phức tạp trong quản lý kinh tế xã hội trên địa bàn Quận.
Quận Hai Bà Trng có 25 phờng: Nguyễn Du, Bùi Thị Xuân, Lê Đại Hành,
Phố Huế, Giáp Bát, Cầu Dền, Mai Động, Trơng Định, Phạm Đình Hồ, Minh
Khai, Bách Khoa, Quỳnh Lôi, Thanh Lơng, Thanh Nhàn, Đồng Nhân, Ngô Thì
Nhậm, Bạch Mai, Quỳnh Mai, Tơng Mai, Tân Mai, Đống Mác, Đồng Tâm, Vĩnh
Tuy, Hoàng Văn Thụ, Bạch Đằng.
Trong những năm qua, việc thực hiện công cuộc đổi mới đã tạo nên sức
sống mới cho các hoạt động kinh tế trên địa bàn Quận. Vợt qua những khó khăn
khủng hoảng kinh tế vào những năm 1980, kinh tế trên địa bàn Quận Hai Bà Tr-
ng đã có những bớc phát triển mạnh mẽ. Cùng với việc đẩy mạnh khai thác
những cơ sở kinh tế sẵn có, trên địa bàn Quận đã phát triển thêm nhiều cơ sở sản
xuất kinh doanh mới, đặc biệt là các cơ sở ngoài Nhà nớc trong các lĩnh vực
công nghiệp, thủ công nghiệp, thơng mại và dịch vụ.
Hồ Đình, Thanh Mai, Đền Lừ, Hồ Quỳnh, Giáp Lục, Giáp Bát
Tóm lại, trong những năm qua dù có nhiều khó khăn nhng kinh tế trên địa
bàn Quận Hai Bà Trng vẫn phát triển cả về bề rộng (quy mô, phạm vi kinh
doanh) và chiều sâu (trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và quản lý ) tạo nền
tảng cho việc giải quyết nhiều vấn đề xã hội, đóng góp tích cực vào việc phát
triển của thành phố và của đất nớc. Các doanh nghiệp thích ứng dần với cơ chế
quản lý mới. Tuy nhiên, sự phát triển ấy vẫn mang tính tự nhiên và chủ yếu do sự
tác động của hệ thống chỉ đạo theo ngành, các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn
phát triển một cách rời rạc, cha thiết lập đợc quan hệ liên kết cần thiết và có hiệu
quả. Trong khuôn khổ thẩm quyền và trách nhiệm của mình, Quận đã có sự nỗ
lực cao trong việc tạo môi trờng cho sự phát triển các hoạt động kinh tế trên địa
bàn. Việc quản lý tổng hợp các hoạt động kinh tế trên địa bàn Quận vẫn là vấn
đề phức tạp cần đợc xem xét giải quyết.
21
2. Tình hình văn hóa xã hội.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị BCH Trung Ương Đảng lần thứ II, công tác
giáo dục đào tạo của Quận đã đạt đợc những thành tích to lớn. Quận đã dành sự -
u tiên đầu t cho việc nâng cấp cơ sở vật chất của các trờng học bảo đảm đợc yêu
cầu mà cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã chỉ thị "trờng ra trờng lớp ra lớp". Trong
năm năm, Quận đã đầu t xây dựng mới 340 phòng học, sửa chữa và cải tạo 370
phòng học. 100% trẻ em đến tuổi đều đợc đến trờng, Quận đã đợc Thành phố
công nhận hoàn thành chơng trình phổ cập trung học cơ sở. Phong trào thi đua
"dậy tốt, học tốt" tiếp tục đợc đẩy mạnh góp phần vào việc nâng cao chất lợng
giáo dục : 100% học sinh tốt nghiệp tiểu học, 95% học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở.
Sự nghiệp y tế cũng có những biến chuyển tích cực. Tất cả các phờng trong
Quận đều đã xây dựng đợc trung tâm y tế. Các lực lợng y tế trên địa bàn quận đã
phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho nhân dân, công tác phòng chống dịch bệnh, chơng trình tiêm chủng mở
rộng, phòng chống HIV-AIDS. Thực hiện công tác kiểm tra các cơ sở hành nghề
là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN đồng thời lại là nguồn tài chính hỗ
trợ cho cơ quan chính quyền Nhà nớc ở địa phơng, tình hình thực hiện luật
NSNN cấp phờng trên địa bàn Quận Hai Bà Trng đã thu đợc nhiều kết quả khả
quan.
Biểu 1: Tổng hợp thu ngân sách phờng trên địa bàn Quận Hai Bà Trng
Đơn vị : triệu đồng
Nội dung thu
1998 1999 2000
Số thu
Tỉ
trọng
Số thu
Tỉ
trọng
Số thu
Tỉ
trọng
Tổng thu 13987 100 17694 100 21242 100
1. Các khoản thu 100% 5456 39 5239 29,6 4317 20,3
2. Các khoản thu điều tiết - - 3545 20 3398 16
3. Thu bổ sung ngân sách 8531 61 8910 50,4 13527 63,7
(Nguồn : phòng Tài chính-Vật giá Quận Hai Bà Trng)
Từ bảng số liệu trên ta thấy, tổng thu ngân sách phờng trên địa bàn Quận
Hai Bà Trng đã đạt đợc kết quả khả quan. Tổng số thu ngày càng tăng đến năm
2000 đạt 21242 triệu đồng, tăng 51,86% so với năm 1998.
Tuy vậy chúng ta cũng nhận thấy các khoản thu bổ sung ngân sách chiếm tỉ
lệ lớn trên tổng thu (thờng trên 50%) mặc dù tổng thu tăng cả về tuyệt đối và t-
ơng đối nhng khoản thu ngân sách phờng hởng 100% lại giảm xuống cả về tơng
đối và tuyệt đối. Nguyên nhân có tình trạng trên là do năm 1999 UBND Thành
phố ban hành Quyết định số 25/UB trong đó có điều chỉnh một số nguồn thu của
Tỉ trọng
(%)
Số thu
Tỉ trọng
(%)
99/98 2000/99
Tổng thu 100% 5.456 100 5.239 100 4.317 100 96 82,4
1. Thu phí, lệ phí 1.483 27 1.557 30 1.172 27 105 75,3
2. Thu đóng góp 2.570 47 1.251 24 225 5 49 18
3. Thu kết d NS 289 5 1.505 29 2.062 48 521 137
4. Thu khác 834 15 533 10 547 13 64 102,6
5. Thu phạt 39 0,7 35 0,6 68 2 90 2
6. Lao động công ích 241 4 358 7 666 13 149 186
(Nguồn: Phòng tài chính vật giá quận Hai Bà Trng)
25