LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là do tôi thu thập và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây. Tác giả Nguyễn Thị Dung
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại
học Nha Trang, Khoa Kinh tế, Khoa Sau đại học, Hội đồng khoa học, các
thầy, cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tận tình về mọi mặt để tôi hoàn thành
tốt khóa đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của Trường Đại
học Nha Trang.
Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm giúp đỡ về mọi mặt của Lãnh đạo
HĐND-UBND thị xã Cửa Lò, Lãnh đạo Thị ủy, MTTQ, Chi cục Thống kê
Thị xã, các phòng, ban, ngành, đơn vị trên địa bàn Thị xã, các đồng nghiệp,
học viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học.
Đặc biệt, tôi rất biết ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh - Giảng viên
khoa Quản trị kinh doanh của trường Đại học Nha Trang, là người đã trực tiếp
dìu dắt, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn
này không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn
được hoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ
ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ 21
1.3.1. Kinh nghiệm quản lý ngân sách huyện trên thế giới 21
1.3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc 21
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 24
1.3.1.3. Kinh nghiệm của Cộng hoà liên bang Đức và Thụy Sĩ 27
1.3.2. Kinh nghiệm quản lý ngân sách huyện của một số địa phương ở Việt
Nam. 28
1.3.2.1. Kinh nghiệm quản lý thu ngân sách nhà nước huyện Kiến Xương -
Thái Bình 28
1.3.2.2. Kinh nghiệm quản lý Thu, chi ngân sách tại huyện Hưng Hà - tỉnh
Thái Bình 30
1.3.3. Bài học kinh nghiệm trongquản lý ngân sách địa phương ở nước ta 32
Chương 2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN 34
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ
CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH
NGHỆ AN 34
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên - xã hội của Cửa Lò 34
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên 34
2.1.1.2. Các yếu tố xã hội 36
2.1.1.2.1. Dân số và đặc điểm dân cư 36
2.1.1.2.2. Lao động và nguồn nhân lực 37
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Thị xã Cửa Lò từ năm 2007
đến nay 37
2.1.2.1. Quy mô tăng trưởng và cơ cấu kinh tế 37
2.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 38
2.1.2.3. Thu chi ngân sách 38
2.1.2.3. Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế 38
2.1.2.3.1. Khu vực kinh tế nông lâm ngư nghiệp 38
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ - NGHỆ AN (Giai đoạn 2012 - 2015) 75
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MỤC TIÊU
PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐỊA PHƯƠNG THỜI GIAN TỚI 75
3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế-xã hội của thị xã Cửa Lò đến 2015 75
3.1.2. Mục tiêu phát triển tài chính của địa phương 76
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN
LÝ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ 77
3.2.1. Việc hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã
phải phù hợp với chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước cũng như điều
kiện các mặt ở địa phương 77
3.2.2. Điều hành quản lý ngân sách trên cơ sở mục tiêu xây dựng, phát triển
kinh tế - xã hội của Thị xã 78
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ
- NGHỆ AN (giai đoạn 2012 - 2015) 78
3.3.1. Tăng cường quản lý và tạo dựng, khai thác nguồn thu mới 78
3.3.2. Tăng cường quản lý chi tiêu ngân sách Thị xã 79
3.3.3. Công tác phân cấp quản lý 82
3.3.4. Nâng cao chất lượng công tác lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán
ngân sách 82
3.3.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý ngân sách
huyện 84
3.3.6. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách
Thị xã 84
3.3.7. Đổi mới công tác tổ chức và công tác cán bộ quản lý NSNN 85
3.3.8. Nâng cao vai trò kiểm soát chi của kho bạc 85
3.4. KIẾN NGHỊ 85
3.4.1. Đối với Trung ương 86
Bảng số 04: Kết quả thực hiện chi ngân sách thị xã Cửa Lò năm 2007-2011 60
Bảng số 05: Đóng góp chi ngân sách vào GDP 66
1LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước và thực
hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, cơ chế quản lý
ngân sách nhà nước cũng đã có những bước cải cách, đổi mới và đạt được
một số thành tựu đáng kể; đặc biệt là từ khi Luật ngân sách nhà nước được
Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực
thi hành từ năm ngân sách 2004 với mục tiêu và ý nghĩa hết sức quan trọng
trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, phát
triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; quản lý thống
nhất nền tài chính quốc gia; xây dựng ngân sách nhà nước lành mạnh đảm bảo
thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ mà nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, cơ chế quản lý ngân sách nhà
nước cũng có nhiều thay đổi phù hợp hơn với bối cảnh mới của nước ta hiện
nay đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
nền kinh tế đang chủ động hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới. Việc phân
cấp quản lý ngân sách đã ngày càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho các
chính quyền địa phương chủ động hơn trong việc thực hiện trách nhiệm và
nghĩa vụ công tác của mình.
Ngân sách huyện/thị xã có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự
tồn tại và hoạt động của chính quyền huyện/thị xã và các cấp chính quyền cơ
- Nhịp độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2007-2011 đạt 18,7%/năm
(đã loại trừ Thu tiền sử dụng đất). Về dài hạn, đây là mức tăng trưởng khá so
với các huyện bạn trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Nhưng so với tiềm năng đầu tư
và tốc độ phát triển của một đô thị du lịch biển có cơ cấu kinh tế dịch vụ
chiếm 62%, Tiểu thủ Công nghiệp - Xây dựng chiếm 32,5% thì nguồn thu
ngân sách và chi đầu tư phát triển chưa tương xứng với tiềm năng phát triển
của Thị xã.
Nhận thức được vấn đề này, sau khi học tập, nghiên cứu tại trường Đại
3
học Nha Trang và thực tế công tác tại Phòng Tài chính - Kế hoạch trực thuộc
UBND thị xã Cửa Lò, với mong muốn vận dụng kiến thức đã tiếp thu được ở
nhà trường, để phân tích thực trạng công tác quản lý ngân sách cấp huyện ở
thị xã Cửa Lò trong điều kiện là một địa bàn thành lập từ năm 1994, điều kiện
kinh tế đang từng bước được đầu tư, phát triển nhưng cũng gặp không ít khó
khăn ở Nghệ An nên tôi chọn đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế
quản lý ngân sách nhà nước thị xã Cửa Lò - Nghệ An” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản về NSNN, cơ chế quản lý ngân
sách nhà nước huyện, đánh giá đúng thực trạng tình hình quản lý ngân sách
nhà nước trên địa bàn thị xã Cửa Lò - Nghệ An, từ đó đề xuất giải pháp chủ
yếu hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Cửa Lò
- Nghệ An, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội của địa phương
trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý ngân sách nhà nước thông qua
công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Cửa Lò - Nghệ An.
- Phạm vi nghiên cứu:
VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH HUYỆN
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự
hình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ. Nhà nước với
tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy
định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng
góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của các chế độ xã hội, nhiều khái niệm về
NSNN đã được đề cập theo các góc độ khác nhau.
NSNN là một văn kiện lập pháp hay một đạo luật chứa đựng hay có
kèm theo một bảng kê khai các khoản thu chi dữ liệu cho một thời gian nào
đó, là một khuôn mẫu mà các cơ quan lập pháp, hành pháp cùng các cơ quan
hành chính phụ thuộc phải tuân theo.
NSNN là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét
duyệt theo trình tự pháp định.
NSNN là bản dự toán (bảng ghi) cân đối hàng năm về thu, chi cho các
cơ quan chính quyền Nhà nước.
Về hình thức, các khái niệm này có sự khác nhau nhất định, tuy nhiên,
chúng đều phản ánh về các kế hoạch, dự toán thu, chi của Nhà nước trong một
thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
nước và Nhà nước sử dụng quỹ tiền tệ tập trung đó để trang trải cho các chi
tiêu gồm: Chi cho hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi cho an ninh quốc
phòng, chi cho an sinh xã hội,… Theo Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ hai thông
qua ngày 16/12/2002 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 27/12/2002
6
7
triển. Các chính sách thuế cũng là một công cụ sắc bén để định hướng đầu tư,
nó có tác dụng kiềm chế hoặc kích thích sản xuất kinh doanh, xuất khẩu hay
nhập khẩu, có tác động đến tổng cung, tổng cầu của kinh tế và điều tiết nền
kinh tế theo định hướng mục tiêu của Nhà nước.
Về xã hội, NSNN góp phần giải quyết các vấn để xã hội: kinh phí của
NSNN được cấp phát cho tất cả các lĩnh vực điều chỉnh của Nhà nước. Khối
lượng và kết quả quản lý, sử dụng nguồn kinh phí này cũng quyết định mức
độ thành công của các chính sách xã hội. Trong giải quyết các vấn đề xã hội,
Nhà nước cũng sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh, các loại thuế trực thu và
gián thu ngoài mục đích trên cũng có tác dụng hướng dẫn tiêu dùng hợp lý.
Kinh phí của NSNN được chi cho các sự nghiệp quan trọng của Nhà
nước như sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp văn hóa, sự nghiệp giáo dục - đào tạo,
sự nghiệp khoa học, Về hình thức là chi tiêu dùng nhưng thực chất là đầu tư
lâu dài đảm bảo cho xã hội phát triển trong tương lai, ngang tầm của yêu cầu
hội nhập và phát triển, vì vậy NSNN có vai trò đối với xã hội rất lớn.
Về thị trường, Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc
thực hiện bình ổn giá cả, chính việc sử dụng nguồn quỹ tài chính, những
chính sách chi tiêu tài chính trong từng thời điểm giúp cho việc kiểm soát
lượng tiền mặt lưu thông, góp phần kiềm chế lạm phát.
1.1.3. Tổ chức ngân sách nhà nước
Từ khi có nhà nước và NSNN, các quốc gia trên thế giới đều có
phương thức riêng để sử dụng NSNN như một công cụ điều tiết vĩ mô, duy trì
sự tồn tại và phát triển của nhà nước. NSNN luôn gắn với sự ra đời của nhà
nước, phù hợp với mô hình tổ chức nhà nước và hiến pháp, pháp luật của mỗi
nước. Các quốc gia đều có sự phân chia ngân sách thành ngân sách trung
ương - NSTW và ngân sách cấp địa phương (cấp dưới). Sự phân định NSTW
và ngân sách địa phương ở một số nước như sau:
Ở (Pháp, Ý, Nhật, Anh) hệ thống NSNN được tổ chức thành hai cấp:
Ở Việt Nam, tổ chức hệ thống NSNN cũng phù hợp với tổ chức bộ máy
nhà nước. Theo Hiến pháp, mỗi cấp hành chính có một cấp ngân sách riêng
cung cấp phương tiện vật chất cho chính quyền đó thực hiện chức năng,
9
nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Hệ thống NSNN hiện tại gồm NSTW
và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (NSĐP), trong đó NSĐP gồm:
+ Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là
NS tỉnh).
Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ngân sách tỉnh) là một
bộ phận của ngân sách địa phương; dự toán thu, chi ngân sách tỉnh được lập
theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền, đảm bảo điều kiện vật chất cho
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở cấp tỉnh bao gồm
nhiệm vụ của cấp tỉnh và nhiệm vụ của điều hành kinh tế xã hội của địa
phương do tỉnh quản lý. Theo đó, chính quyền cấp tỉnh phải chấp hành các
quy định của hiến pháp, pháp luật và sáng tạo trong việc khai thác các thế
mạnh trên địa bàn tỉnh để tăng nguồn thu, bảo đảm chi và thực hiện cân đối
ngân sách của cấp tỉnh.
+ Ngân sách cấp huyện/ quận/ thị xã/ thành phố trực thuộc tỉnh (gọi
chung là ngân sách huyện).
Ngân sách huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (ngân sách huyện) là
một bộ phận của ngân sách địa phương; dự toán thu, chi ngân sách huyện
được lập theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền, đảm bảo điều kiện vật
chất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở cấp
huyện bao gồm nhiệm vụ của cấp huyện và nhiệm vụ điều hành kinh tế xã hội
của địa phương do huyện quản lý. Theo đó, chính quyền cấp huyện phải chấp
hành các quy định của hiến pháp, pháp luật và sáng tạo trong việc khai thác
các thế mạnh trên địa bàn huyện để tăng nguồn thu, bảo đảm chi và thực hiện
cân đối ngân sách của cấp huyện.
Theo Luật NSNN được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002, nội dung phân định
nhiệm vụ thu chi của ngân sách huyện/thị xã bao gồm những nội dung sau:
a) Nguồn thu ngân sách:
Nguồn thu ngân sách cấp huyện/thị xã bao gồm những khoản thu của
ngân sách địa phương được HĐND tỉnh quy định:
Một là, các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, bao gồm:
Ngân sách nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam
Ngân sách
Trung ương
Ngân sách
địa phương
Ngân sách
cấp tỉnh
Ngân sách
cấp huyện
Ngân sách
cấp xã
11
- Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước, không kể tiền thu mặt nước từ hoạt
động dầu, khí;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước,
không kể thuế tiêu thụ đặc biệt từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Tiền đền bù thiệt hại đất;
- Tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu của nhà nước;
- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Thu nhập từ vốn góp của ngân sách địa phương, tiền thu hồi vốn của
ương và ngân sách địa phương:
- Thuế nhà, đất;
- Thuế môn bài;
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
- Tiền sử dụng đất;
- Thuế giá trị gia tăng không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập
khẩu và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp
của các đơn vị hạch toán ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động
xổ số kiến thiết;
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
Các khoản thu có thể điều chỉnh tỷ lệ điều tiết được hưởng tùy vào tình
hình thực tế của địa phương và do HHĐND cấp tỉnh quyết định
b) Nhiệm vụ chi ngân sách:
- Một là, Chi đầu tư phát triển về:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
có khả năng thu hồi do địa phương quản lý.
+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ
chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
+ Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia do địa
phương thực hiện.
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
13
- Hai là, Chi thường xuyên:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề bao gồm: Giáo
dục, bổ túc văn hoá, giáo dục phổ thông, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc
nội trú và các hoạt động giáo dục khác. Đại học, cao đẳng, trung học chuyên
Đo đạc, lập bản đồ và lưu giữ hồ sơ địa chính và các hoạt động địa
chính khác; Điều tra cơ bản; Các hoạt động về sự nghiệp môi trường; Các sự
nghiệp kinh tế khác.
+ Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân
sách địa phương thực hiện theo quy định của Chính phủ.
+ Chi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản
Việt Nam ở địa phương.
+ Hoạt động của các cơ quan địa phương của Uỷ ban mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn thanh niên.
+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của Pháp luật.
+ Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương
quản lý.
* Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do các cơ
quan địa phương thực hiện.
* Trợ giá theo chính sách của Nhà nước.
* Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
* Chi chuyển nguồn ngân sách địa phương năm trước sang ngân sách
địa phương năm sau.
1.2.2. Khái niệm quản lý ngân sách huyện
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng
một hệ thống phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý,
tiếp cận đến mục tiêu cuối cùng phục vụ cho lợi ích của con người, quản lý là
hoạt động có mục đích của chủ thể tuân theo những nguyên tắc nhất định và là
quá trình thực hiện đồng thời hàng loạt các chức năng liên kết hữu cơ với
nhau từ dự đoán - kế hoạch hoá - tổ chức thực hiện - động viên phối hợp -
điều chỉnh - hạch toán kiểm tra.
15
16
* Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn:
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân
sách nhà nước. Nội dung của nguyên tắc này là: Mọi khoản thu, chi phải được
ghi đầy đủ vào kế hoạch ngân sách nhà nước, mọi khoản chi phải được vào sổ
và quyết toán rành mạch. Chỉ có kế hoạch ngân sách đầy đủ, trọn vẹn mới
phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh bạch của các tài
khoản thu, chi.
Nguyên tắc quản lý này nghiêm cấm các cấp, các tổ chức nhà nước lập
và sử dụng quỹ đen. Điều này có ý nghĩa rằng mọi khoản thu chi của ngân
sách nhà nước đều phải đưa vào kế hoạch ngân sách để Quốc hội phê chuẩn,
nếu không việc phê chuẩn ngân sách của Quốc hội sẽ không có căn cứ đầy đủ,
không có giá trị.
* Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước:
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước bắt nguồn từ
yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà nước. Biểu hiện cụ thể sức
mạnh vật chất của Nhà nước là thông qua hoạt động thu - chi của ngân sách nhà
nước. Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước được thể hiện:
- Mọi khoản thu - chi của ngân sách nhà nước phải tuân thủ theo những
quy định của Luật ngân sách nhà nước, phải được dự toán hàng năm và được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Tất cả các khâu trong chu trình ngân sách nhà nước khi triển khai thực
hiện phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực, ở trung ương
là Quốc hội, ở địa phương là Hội đồng nhân dân.
- Hoạt động ngân sách nhà nước đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt
động kinh tế - xã hội của quốc gia. Hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia là
nền tảng của hoạt động ngân sách nhà nước. Hoạt động ngân sách nhà nước
phục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính chất
kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế, xã hội.
trình ngân sách, từ khâu lập dự toán ngân sách đến chấp hành ngân sách và
quyết toán ngân sách.