Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cho thành phố Vinh giai đoạn 2009 – 2010 - Pdf 12

Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Thành phố Vinh là đô thị đang phát triển mạnh mẽ với những thành tựu
trong việc phát triển kinh tế xã hội an ninh quốc phòng. Ngày 30 tháng 09
năm 2006 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 239 phê duyệt Đề án xây
dựng Vinh thành đô thị trung tâm vùng Bắc Trung Bộ. Đây là một sự kiện cực
kỳ quan trọng, đánh dấu bước đổi mới nâng cấp về quy mô và chất lượng của
thành phố trong giai đoạn mới.
Ngày 05 tháng 09 năm 2008 đã trở thành lịch sử đối với thành phố Vinh khi
đúng vào ngày này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1210 về
việc chính thức công nhận thành phố Vinh là Đô thị loại I trực thuộc tỉnh
Nghệ An. Từ đây diện mạo thành phố đã được nâng lên một tầm cao mới
đồng thời cho thấy sự nghi nhận kịp thời của TW đối với các nỗ lực của cả
thành phố.
Với thực tiễn của thành phố cũng như của Đất nước ta hiện nay ( đang ngày
một phát triển, hội nhập ) thì việc Vinh nhận được nhiều nguồn đầu tư từ ngân
sách là điều tất yếu, vấn đề quản lý để các nguồn vốn đó phát huy hiệu quả trở
nên rất cần thiết, do đó em xin chọn đề tài thực tập tốt nghiệp của em là về
Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cho thành phố Vinh
giai đoạn 2009 – 2010
II. Phương pháp và giới hạn nghiên cứu của đề tài
1. Phương pháp nghiên cứu
Thông qua các kiến thức, tài liệu, kinh nghiệm mà em đã thu được ở
nhà trường và ở đơn vị em đang thực tập ( Vụ Kinh tế địa phương và Lãnh
thổ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu Tư ) cũng như từ các nguồn thông tin khác.
1
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
2. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung vào nguồn ngân sách do thành phố Vinh quản lý để từ
đó tìm ra các giải pháp, các kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý giúp

mình theo các chỉ tiêu quy định ; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương
3
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
trong trường hợp cần thiết, trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định và
báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
- Lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân thành
phố phê chuẩn và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính
cấp trên trực tiếp.
- Kiểm tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới về tài chính -
ngân sách.
- Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, quyết định
giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; nhiệm
vụ thu, chi, mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới và tỷ lệ phần trăm (%) phân
chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương đối với các khoản thu phân chia;
quy định nguyên tắc bố trí và chỉ đạo thực hiện dự toán ngân sách đối với một
số lĩnh vực chi được Hội đồng nhân dân quyết định 5. Tổ chức thực hiện và
kiểm tra việc thực hiện ngân sách địa phương.
- Phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân
sách nhà nước trên địa bàn.
- Báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
b. Vai trò của Hội đồng nhân dân thành phố
Hội đồng nhân dân thành phố có vai trò như sau:
- Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình
hình thực tế tại địa phương, quyết định: Dự toán thu ngân sách nhà nước trên
địa bàn, bao gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, thu
viện trợ không hoàn lại; Dự toán thu ngân sách địa phương, bao gồm các
khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, phần ngân sách địa phương
được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%), thu bổ sung
từ ngân sách cấp trên; Dự toán chi ngân sách địa phương, bao gồm chi ngân
sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới, chi tiết theo các lĩnh


5
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
2. Nguyên tắc quản lý ngân sách
Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền
hạn với trách nhiệm.
3. Nội dung quản lý ngân sách
3.1 Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước là để tạo nguồn vốn đầu tư nhằm phát triển
kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng, đối
ngoại cũng như bảo vệ môi trường sinh thái. Hiện nay chúng ta có các nguồn
sau để thu ngân sách nhà nước:
- Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật.
- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các
khoản phí, lệ phí.
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của
pháp luật, gồm: Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; Thu hồi
tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi); Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước
vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về
thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước theo quy
định của Chính phủ.
- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các hoạt động sự
nghiệp.
- Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích.
- Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước.
- Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
- Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và
ngoài nước.
- Thu từ huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng

tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và
7
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; Các hoạt động sự nghiệp kinh tế; Quốc
phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam; Hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam, Hội Nông dân Việt Nam; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Phần
chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước;
Hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội; Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp; Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của
pháp luật.
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
- Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức
ngoài nước.
- Chi cho vay của ngân sách trung ương.
- Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước.
- Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 58 của Nghị
định này.
- Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
- Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách
năm sau.
3.3 Trình tự lập, xét duyệt và quyết toán ngân sách
Trình tự lập, gửi, thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách hàng năm
của ngân sách các cấp đưược quy định như sau:
- Mẫu, biểu báo cáo quyết toán năm của ngân sách nhà nước và ngân
sách các cấp thực hiện theo chế độ kế toán nhà nước và các văn bản hướng

sách địa phương) trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội phê chuẩn; đồng
9
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
gửi cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NGÂN SÁCH Ở
THÀNH PHỐ VINH GIAI ĐOẠN 2005 -2008
I. Tổng quan về thành phố Vinh
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Vinh
Thành phố Vinh đã có một lịch sử hình thành tương đối lâu. Năm 1788
vua Quang Trung đã cho xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô tại đây.
Năm 1898 vua Thành Thái ra đạo dụ thành lập thị xã Vinh. Trước năm 1945
Vinh - Bến Thuỷ đã là một trung tâm công nghiệp, thương mại, giáo dục của
vùng Bắc Trung Bộ. Tại Vinh có khu vực thành cổ xây theo kiểu Vauban, nhà
máy xe lửa, nhiều xí nghiệp nhỏ, một cảng sông và một khu buôn bán sầm
uất. Vinh còn là cái nôi của phong trào Cách mạng, trong các cuộc chiến tranh
giữ nước Vinh cùng với tỉnh Nghệ An luôn kiên cường, đi đầu trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Vị trí đặc biệt về kinh tế, chính trị văn hóa của thành phố Vinh ở vùng
Bắc Trung Bộ và rộng hơn, của cả nước đã được biết đến từ lâu và gần đây
được thể hiện rõ nét hơn trong một loạt các văn bản pháp quy của Nhà nước.
Thành phố Vinh được quyết định thành lập năm 1963 TP và được công nhận
đô thị loại II năm 1993 theo Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 13/8/1993 của
Thủ tướng Chính phủ; Tại Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/01/1998
của Thủ tướng Chính phủ về Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ
thống đô thị Việt Nam, thành phố Vinh đã được xác định là đô thị trung tâm
của Vùng Bắc Trung Bộ; Ngày 30 tháng 09 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ
ký Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg phê duyệt đề án đưa thành phố Vinh trở
thành Trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ; Năm 2008 thành
10

Vinh, phía Tây đến xã Nam Giang và sông Kè Gai, phía Đông giáp sông
Lam đến Cửa Hội và biển Đông. Về hành chính thành phố Vinh sẽ có 25 đơn
vị trực thuộc gồm 16 phường Bến Thủy, Cửa Nam, Đông Vĩnh, Đội Cung, Hà
11
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
Huy Tập, Hồng Sơn, Hưng Bình, Hưng Dũng, Hứng Phúc , Lê Lợi, Lê Mao,
Quán Bàu, Quang Trung, Trường Thi, Trung Đô, Vĩnh Tân và 9 xã Nghi Phú,
Hưng Lộc, Hưng Đông, Hưng Hòa, Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Ân, Nghi
Đức, Hưng Chính.
Đối với bên ngoài thành phố Vinh tiếp giáp:
+ Phía Bắc với huyện Nghi Lộc
+ Phía Tây với huyện Hưng Nguyên
+ Phía Nam với tỉnh Hà Tĩnh
+ Phía Đông với biển Đông.
Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 295km (về phía bắc) và cách
Huế 350km; Đà Nẵng 472km; thành phố Hồ Chí Minh 1447 km (về phía
Nam).
Thành phố Vinh nằm ở trung độ của cả nước trên trục giao thông quan
trọng xuyên Bắc - Nam, giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,
hai trung tâm kinh tế phát triển lớn nhất của cả nước, là nơi giao thoa giữa
điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của hai miền Nam-Bắc.
Từ Vinh có thể dễ dàng đi các địa điểm nổi tiếng khác như thị xã du lịch
biển Cửa Lò (15km); Kim Liên, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh (12km);
Tiên Điền, Nghị Xuân - quê hương đại thi hào Nguyễn Du (10km) cùng với
các địa danh nổi tiếng khác ở quanh vùng và có thể đi Lào (qua ba cửa khẩu:
Cầu Treo, Thanh Thuỷ và Nậm Cắn) và các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan.
Trong thời gian tới, khi đường bộ, đường sắt cao tốc được xây dựng và đi
vào hoạt động, sẽ rút ngắn thời gian đi từ Vinh đi các trung tâm phát triển lân
cận và trong cả nước, đồng thời hệ thống hạ tầng giao thông kết nối Vinh với
các địa bàn khác trong tỉnh sẽ được hoàn thiện, phong phú hơn, tạo điều kiện

xu thế ngày một tăng.
13
Lờ Quc Vinh QLKT47B Chuyờn thc tp
Biu 1: Quy mụ v tng trng kinh t
Cỏc ch tiờu kinh t 2000 2005 2007 2008
Nhp tng bỡnh quõn
(%)
2001-
2007
2001-
2008
2006-
2008
GTGTss94 (t ng) 1214.123 2127.4 2931.0 3401.0 11.87 13.74 16.93
- Nụng lõm-ng 40.05 47.1 72.0 76.0 3.30 8.34 17.29
- CN+ XD 447.165 839.8 1218.0 1438.0 17.01 17.99 19.64
- Dch v 726.908 1240.5 1641.0 1887.0 9.41 11.48 15.01
GTGThh (t ng) 1563.6 3448.1 5211.0 6260.0
- Nụng lõm-ng 53.466 79.7 173.0 194.0
- CN+ XD 546.071 1294.3 2008.0 2440.0
- Dch v 964.064 2074.1 3030.0 3626.0
GTGTss94/ng (tr.
ng)
5.6 8.9 11.9 11.7
GTGT hh/ng (tr.ng) 7.2 14.4 21.2 21.6

Hng hoỏ ca Vinh ó bt u thõm nhp mnh vo th trng th gii v
khu vc. Trong 7 nm 2001-2007 kim ngch xut nhp khu ca Vinh.
Tỷ trọng các khu vực đóng góp cho tăng trưởng kinh tế
0

tế tư nhân, các thể đồng thời xuất hiện thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài.
Biểu 2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Vinh
Đơn vị: %
2000 2005 2006 2007 2008
Cơ cấu kinh tế GTTT(giá thực tế) 100 100.0 100.0 100.0 100.0
- Công nghiệp - xây dựng 31.0 37.5 38.5 38.9
39.0
- Dịch vụ 65.6 60.2 59.6 59.5
57.9
- Nông, lâm, ngư nghiệp 3.4 2.3 1.9 1.6
3.1
Sự giảm nhẹ về tỷ trọng của khu vực dịch vụ không phải do vai trò của nó
giảm mà đã có sự chuyển dịch và cơ cấu trong nội bộ khu vực này. Từ năm
2000 bắt đầu giảm dần do sự phát triển lấn lướt của khu vực công nghiệp và
dịch vụ, năm 2007 tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp chỉ còn 1,6%.
ChuyÓn dÞch c¬ cÊu kinh tÕ thêi kú 2001-2008
(%)
3.4 2.3
1.9
3.1
31
37.5 38.5
39
65.6
60.2 59.6
57.9
0%
20%
40%

- Các cơ sở sản xuất công nghiệp khác trên địa bàn thành phố cơ bản
là công nghiệp sạch; những cơ sở gây ô nhiễm môi trường đã và đang được di
chuyển ra các khu công nghiệp tập trung. Các doanh nghiệp đã thực hiện cổ
phần hoá, tăng cường đầu tư mở rộng và đổi mới trang thiết bị, công nghệ,
hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả tốt, như: bia, dầu ăn tinh luyện, dệt
may, cơ khí, gỗ mỹ nghệ, xay xát bột mỳ, phân vi sinh NPK, da chế biến...
Các sản phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài được đánh giá có chất lượng cao:
thuỷ hải sản, dệt may, chế biến gỗ, dầu ăn tinh luyện, bột đá siêu mịn...
- Số lượng các doanh nghiệp, các hợp tác xã phi nông nghiệp ngày
càng phát triển, chỉ riêng năm 2007 đã có 423 doanh nghiệp mới được thành
lập, đưa tổng số doanh nghiệp lên 2.943 đơn vị.
16
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
- Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề cũng ngày càng phát triển, góp phần
quan trọng trong việc giải quyết việc làm và dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Công
tác du nhập, đào tạo nghề cho người lao động được khuyến khích và tạo điều
kiện phát triển. Đến nay, trên địa bàn thành phố có 2 làng nghề chiếu cói ở Hưng
Hoà được công nhận, các nghề khác tiếp tục được duy trì, phát triển, như: nghề
thêu ren, móc đan sợi xuất khẩu, mây tre đan xuất khẩu, mộc mỹ nghệ…
Công nghiệp quốc doanh đã hình thành được một số doanh nghiệp có
quy mô hoạt động rộng trong các lĩnh vực, được đầu tư về trang bị, chất
lượng sản phẩm được nâng lên ,có khả năng xuất khẩu...Công nghiệp ngoài
quốc doanh ,đa số là các cơ sở có quy mô nhỏ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn hạn
chế ...phát triển tập trung vào các ngành chế biến lương thực - thực phẩm, sửa
chữa cơ khí, chế biến đồ mộc.
Dịch vụ
Hoạt động thương mại diễn ra đa dạng, chất lượng ngày càng cao.
Hàng hoá ngày càng phong phú bao gồm sản phẩm hàng hóa trên địa bàn,
sản phẩm thu hút từ các vùng miền khác trong nước và hàng hóa nhập khẩu từ
Lào qua các cửa khẩu và hàng hoá từ các nước khác qua các cảng: Cửa Lò,

có 38 khách sạn với 1.051 phòng, 2.273 giường, trong đó có 2 khách sạn 3
sao, 3 khách sạn 2 sao; năm 2007 trên địa bàn thành phố có 80 khách sạn với
2.254 phòng, 4.303 giường, trong đó có 4 khách sạn 3 sao, 8 khách sạn 2 sao,
giải quyết việc làm cho 1.821 lao động.
- Hạ tầng kỹ thuật phát triển du lịch đã được quan tâm quy hoạch và
đầu tư xây dựng. Đến nay, Vinh đã có 4 khu du lịch và công viên được quy
hoạch và đang triển khai xây dựng, đó là: khu du lịch núi Quyết - Bến Thủy,
quy mô 156 ha với trung tâm là đền thờ vua Quang Trung và hệ thống giao
thông núi Quyết đang được đầu tư hoàn chỉnh; khu vui chơi giải trí du lịch hồ
Cửa Nam có quy mô 14 ha đang được huy động đầu tư; Công viên trung tâm
có quy mô 42 ha gắn với quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh thu hút
18
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
được nhiều khách du lịch tham quan; Công viên Thành cổ gắn với bảo tồn di
tích Thành cổ Vinh đang điều chỉnh quy hoạch phù hợp với tình hình thực tế.
Các di tích lịch sử, văn hóa khác được đầu tư bảo tồn và khôi phục.
- Hình thành các tour du lịch từ Vinh đến các vùng trong tỉnh và các
tỉnh lân cận, Vinh đến Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Singapo, Philipin,
Inđônêxia, Nhật Bản… bằng đường bộ và đường hàng không.
- Tổng lượng khách du lịch tăng nhanh, năm 2005 là 419.179 lượt
khách, trong đó khách quốc tế là 10.256; Năm 2007 là 9.11.086 lượt khách
(trong đó khách quốc tế là 46.300). Thời gian lưu trú bình quân tại Vinh tăng
dần qua các năm, bình quân khách lưu trú năm 2003 là 1,38 ngày/khách, năm
2007 là 1,65 ngày/khách.
Nông nghiệp
Khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng sản phẩm
quốc nội (1,9%GDP). Trong những năm qua, nông nghiệp của thành phố phát
triển theo hướng chuyển từ độc canh trồng cây lương thực sang sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, đồng thời đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
về giống cây con, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, hình thái vùng rau an toàn, hoa

thời vụ, con giống ,kỹ thuật nuôi, chuẩn bị ao hồ, kỹ thuật nuôi và các loại vật
tư khác, nên năng suất và sản lượng đạt cao nhất từ trước tới nay. Sản lượng
nuôi trồng thuỷ sản đạt 781 tấn (chưa kể sản lượng cá giống), trong đó: cá các
loại và thuỷ sản khác 6540 tấn, tôm 131 tấn.
b. Về mặt xã hội
Giáo dục – đào tạo
Hệ thống giáo dục đào tạo trên địa bàn thành phố Vinh được phát
triển tốt. Cụ thể:
- Trường mầm non: 34 trường (công lập 2, trường ngoài công lập 32)
thu hút 9.717 cháu. trong đó trường công lập có 684 cháu, ngoài công lập có
9.033 cháu.
20
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
- Trường tiểu học: 29 trường trong đó công lập 28 trường, ngoài công
lập 1 trường với tổng 17.062 học sinh.
- Trường trung học cơ sở: Có 25 trường trong đó trường công lập thu
hút 18.810 học sinh và 1 trường ngoài công lập thu hút 373 học sinh.
- Trường trung học phổ thông: 12 trường (công lập 6, dân lập 6) với
13.564 học sinh (công lập 5671, ngoài công lập 7893).
- Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp phát triển
nhanh, đến nay đã có: 2 trường đại học, đang xây dựng phân hiệu Đại học Y,
Đại học Xây dựng, Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học
VTC, Đại học Vạn Xuân; 6 trường cao đẳng, 9 trường trung cấp, quy mô đào
tạo trên 55.000 sinh viên đại học và cao đẳng, trên 18.000 học viên, sinh trung
cấp chuyên nghiệp.
- Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp: 1 trung tâm, thu hút
6.114 học sinh học nghề phổ thông và 5.152 lượt học sinh đến sinh hoạt
hướng nghiệp.
- Ngoài ra còn có: Trường Chính trị Nghệ An, Trung tâm Chính trị
thành phố Vinh hàng năm thu hút trên 8.000 học viên; các trung tâm huấn

mạng lưới rộng khắp. Trên địa bàn thành phố hiện có 2 bệnh viện ngành:
Quân y IV và Bệnh viện giao thông IV với 300 giường bệnh, tuyến tỉnh có 4
bệnh viện: Bệnh viện Đa khoa tỉnh, bệnh viện nhi, bệnh viện Đông y, bệnh
viện tâm thần với tổng số 1.310 giường và 11 trung tâm chuyên khoa 45
giường bệnh. Y tế tuyến thành phố có 2 cơ sở với trên 200 giường, các trạm y
tế cấp phường xã đã có 25 cơ sở. Các cơ sở y tế ngoài công lập đã có 4 bệnh
viện và các trung tâm với 373 giường bệnh, ngoài ra một số bệnh viện ngoài
công lập khác đang đầu tư, sắp đưa vào sử dụng: Bệnh viện Minh Hồng, Bệnh
viện Minh Khang, Bệnh viện mắt Sài Gòn... Thành phố đang mở rộng các cơ
sở y tế về cả chiều rộng và chiều sâu nhằm đưa lĩnh vực y tế trở thành trung
tâm cấp vùng, hiện tại đã triển khai xây dựng Bệnh viện vùng với quy mô lớn
22
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
700 giường với trang thiết bị hiện đại.
Văn hóa, thể dục thể thao
Người dân Nghệ An nói chung và Thành phố Vinh nói riêng có một
truyền thống say mê yêu thích và rèn luyện thể thao đặc biệt là bóng đá, điền
kinh, bơi lội, võ thuật...).
Vinh cũng là nơi có truyền thống đào tạo các cầu thủ bóng đá giỏi
tham gia vào nhiều đội bóng của các địa phương. Sân vận động Vinh luôn thu
hút nhiều khán giả yêu thích bóng đá từ các tỉnh, các địa phương trong vùng.
Trên địa bàn thành phố hiện nay có một số lượng lớn các công trình
thể thao, trong đó có những công trình thi đấu cấp quốc gia như: Sân vận
động do ngành quản lý có sức chứa 25.000 người; Sân vận động Quân khu IV
có sức chứa dưới 10.000 chỗ; bể bơi 8 đường bơi 50m, 3 nhà thi đấu đa năng
2.000 chỗ/1 nhà; 16 sân tenis; 54 nhà luyện tập. Ngoài ra còn nhiều công trình
tập luyện các loại: sân đá bóng thuộc TP và câu lạc bộ, sân luyện tập bóng
chuyền, bóng rổ, cầu lông và một số cơ sở phục vụ khác như nhà ở VĐV. Tại
các phường xã cũng đều có một sân vận động nhỏ, và các sân chơi tennít, cầu
lông.…

thiện, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn thành phố giảm từ 7,56% năm 2005 xuống
còn 4,6% năm 2007 (theo chuẩn mới). Thành phố đã hoàn thành việc xoá nhà
tạm cho hộ nghèo, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Năm 2007, tỷ
lệ số hộ dân được dùng nước sạch đạt 99%.v.v...
3.2 Về vấn đề môi trường
Những năm qua, vấn đề môi trường đã được các cấp các ngành của
thành phố quan tâm thông qua việc xây dựng và triển khai các chương trình
dự án về bảo vệ môi trường, tăng cường công tác quản lý và xây dựng nếp
sống văn minh đô thị,quản lý tốt vỉa hè, hành lang an toàn giao thông, trật tự
an toàn giao thông, quy hoạch và trật tự đô thị... qua đó đã góp phần cải thiện
chất lượng môi trường của thành phố. Tuy nhiên, do những nguyên nhân
24
Lê Quốc Vinh – QLKT47B Chuyên đề thực tập
khách quan và chủ quan môi trường của thành phố vẫn đang bị ô nhiễm ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân.
Công tác thu gom chất thải, theo số liệu thống kế của công ty môi
trường đô thị, tổng lượng rác thải sinh hoạt của thành phố khoảng
300m3/ngày.đêm. Việc thu gom, vận chuyển, thu lấp giác thải thành phố hiện
nay do công ty môi trường đảm nhận. Hàng ngày, công ty đảm nhiệm việc
gom rác trên 47 đường phố chính, 23 chợ và các khu dân cư tại các phường xã
với 290 ga rác. Ngoài ra, rác của các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan và một
phần rác thải của bệnh viện được ký hợp đồng định kỳ để công ty vận chuyển
xử lý. Toàn bộ rác thải của thành phố đã được đưa về bãi rác Đông Vinh. Đây
là bãi rác được xây dựng từ năm 1977, đã qua 2 lần được mở rộng, có tường
bao quanh 3m và hệ thống mương thoát nước. Tuy nhiên, qua nhiều năm sử
dụng bãi rác đã quá tải, nước thải rò rỉ từ bãi rác ra chưa được xử lý kịp thời
làm ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất và phát sinh khí độc, mùi hôi thối từ bãi
rác theo gió vào các khu dân cư đã làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người
dân gần bãi rác.
Hiên tại thành phố mới có một nhà máy xử lý rác sinh hoạt bằng công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status